LÊ BÁ PHÚC
MSSV: DPN010740
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH
“3 GIẢM 3 TĂNG” TẠI HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG NĂM 2004-2005
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Văn Minh
Ks. Trần Văn Khải
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Tháng 6. 2005
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH
3 GIẢM 3 TĂNG TẠI HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG NĂM 2004-2005
Do sinh viên: LÊ BÁ PHÚC thực hiện và đệ nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
Long Xuyên, ngày 30 tháng 5 năm 2005
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Văn Minh
Ks. Trần Văn Khải
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên đề tài:
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH “BA GIẢM
BA TĂNG” TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG NĂM 2004 -2005
cũng như thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Chân thành cảm tạ cô Nguyễn Thị Thu Hồng, cô Nguyễn Thị Hạnh Chi chủ
nhiệm lớp ĐH2PN2 đã quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn em chân thành cảm ơn:
- Thầy Nguyễn Phú Dũng, thầy Trịnh Hoài Vũ cùng tập thể các Thầy Cô trong
khoa Nông Nghiệp- TNTN đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn
thành luận văn này.
- Các bạn Trịnh Tấn Đạt, Nguyễn Bá Lộc, Trần Thanh Hùng, Văn Công Của,
Lê Phước Sang, Trần Rước Đêm cùng tập thể các bạn lớp ĐH2PN2 đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra và phỏng vẫn nông dân
- Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật An Giang đã giúp đỡ và cung cấp các tư liệu về
chương trình 3G3T.
- Chú Dũng trưởng Trạm Khuyến Nông huyện Chợ Mới, cô Châu phó chủ tịch
uỷ ban nhân dân xã Long Điền A, cùng các anh kỹ thuật viên nông nghiệp các xã Mỹ
An, Long Điền A, Long Kiến, Kiến An, Nhơn Mỹ, Mỹ Hội Đông đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Trong quá trình thực hiện đề tài này do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên
chắc chắn bài luận văn sẽ có những sai sót, kính mong các Thầy Cô và Hội Đồng
đóng góp ý kiến để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn, em chân thành cảm ơn.
i
Lê Bá Phúc. 2005. Điều tra và đánh giá hiệu quả của chương trình “3 giảm 3 tăng” tại
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang năm 2004-2005. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành
Phát Triển Nông Thôn. Khoa Nông Nghiệp- TNTN, Đại Học An Giang. Giáo viên
hướng dẫn: Ths. Nguyễn Văn Minh, Ks. Trần Văn Khải
TÓM LƯỢC
Chương trình “3 giảm 3 tăng” (3G3T) là kết quả của những thành tựu trong kỹ
năng canh tác lúa: giảm giống, giảm phân, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giúp nông dân
loại bỏ những phương pháp canh tác truyền thống không còn phù hợp và tránh những
lãng phí không đáng có nhằm nâng cao lợi nhuận cho người trồng lúa. Ở An Giang
2.1.1.1 IPM là gì? 4
2.1.1.2. Các đặc trưng của IPM 6
2.1.1.3. Các nguyên lý và nguyên tắc của IPM 7
2.1.1.4. Các yêu cầu của IPM 8
2.1.1.5. Các biện pháp trong IPM 8
2.1.2 Chương trình FPR. 20
2.1.3. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp. 21
2.1.4. Thâm canh tổng hợp 21
2.2. Chương trình “Ba Giảm Ba tăng” 23
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1. Phương tiện 30
3.2. Phương pháp 30
3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 30
3.2.2. Chọn địa điểm điều tra 30
3.2.3. Phương pháp điều tra 30
3.2.4. Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.2.4.1. Ba giảm 30
3.2.4.2. Ba tăng 31
3.3. Xử lý số liệu 31
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
4.1. Mô tả điểm nghiên cứu 32
4.2. Phân bố mẫu điều tra 34
4.1 Thông tin chung về nông hộ 34
4.1.1. Độ tuổi nông dân 34
4.1.2 Diện tích canh tác 35
4.1.3. Nguồn cung cấp thông tin về 3G3T cho nông dân 37
4.1.4. Những lý do để nông dân áp dụng và không áp dụng 3G3T 39
4.2 Thuận lợi của chương trình 3G3T 41
4.2.1. Giảm yếu tố đầu vào 41
iii
11 Số lần phun thuốc trừ sâu/vụ 46
12 Số lần phun thuốc trừ bệnh/vụ 47
13 Tổng chi phí lúa sản xuất/vụ 48
14 Năng suất lúa của nông dân có và không áp dụng 3G3T 49
15 Giá bán lúa của nông dân có và không áp dụng 3G3T 50
16 Lợi nhuận của nông dân 51
PHỤ CHƯƠNG pc-1
Phụ chương 1: Phiếu phỏng vấn chương trình “3 giảm 3
tăng” pc-1
Phụ chương 2: Thông tin chung về nông dân áp dụng
3G3T pc-4
Phụ chương 3: Thông tin chung về nông dân áp dụng
3G3T pc-7
Phụ chương 4: Các chỉ tiêu khác biệt về áp dụng và không
áp dụng 3G3T pc-9
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình
số
Nội dung Trang
1 Bản đồ phân bố địa điểm điều tra 33
2 Độ tuổi nông dân áp dụng 3G3T 35
3 Độ tuổi nông dân không áp dụng 3G3T 35
4 Diện tích canh tác của nông hộ 36
5 Tỷ lệ diện tích áp dụng 3G3T 37
6 Tỷ lệ diện tích không áp dụng 3G3T 37
7 Nguồn thông tin cho nông dân áp dụng 3G3T 38
8 Nguồn thông tin cho nông dân không áp dụng 3G3T 38
9 Lợi ích của chương trình 3G3T 40
10 Lý do nông dân không áp dụng 3G3T 41
cho phép những đối tượng gây hại thay vì bị giới hạn ở những khu vực đơn lẻ
có thể lan rộng đến những vùng mới, tăng số các loài côn trùng, các loài này
đã chuyển từ ký chủ hoang qua lúa khi tập quán tự nhiên của chúng bị phá vỡ
(W.H. Reissing và ctv, 1993).
Vì vậy một trong những khâu quan trọng trong quá trình sản xuất
khiến nông dân vừa tốn sức người sức của chính là công tác phòng trừ sâu
bệnh cho ruộng lúa của mình. Với quan niệm sạ thật dầy, bón thật nhiều
phân đạm thì mới đủ số chồi để đạt được năng suất làm cho tình hình dịch hại
ngày càng gia tăng. Vì nóng lòng cho ruộng lúa của mình mà nông dân đổ
vào đồng rộng một lượng thuốc hoá học ngày càng nhiều với hi vọng là sẽ
tiêu diệt hết dịch hoạ. Một sự thật hiển nhiên là nơi nào người nông dân phun
nhiều thuốc trừ sâu, bệnh càng nhiều thì nơi ấy dịch hại ngày càng phát triển
1
nhiều thêm và những nơi ấy môi trường nước, đất ngày càng bị ô nhiễm (Võ
Tòng Xuân, 1993). Chính vì vậy mà ngày càng có nhiều chương trình
như:“IPM quốc gia”, “Nông dân tham gia thí nghiệm”, “Quản lý dinh dưỡng
cho cây lúa” …do Cục Bảo Vệ Thực Vật (BVTV), Viện Lúa ĐBSCL, Sở
Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn phát động nhằm hạn chế dịch hại
đồng thời giữ vững được năng suất của cây lúa. Các chương trình trên mặc dù
đã giải quyết được phần lớn những vấn đề về dịch hại nhưng vẫn còn bộc lộ
một số khuyết điểm như chương trình IPM nặng về quản lý sâu hơn là bệnh,
chương trình nông dân tham gia thí nghiệm đồng ruộng chỉ tập trung cho việc
không phun thuốc đầu vụ…. chưa giúp nông dân hoàn thiện kỹ năng trong
canh tác lúa của họ. Một trong những bước đột phá trong quản lý dịch hại
trên lúa được Cục BVTV, Viện Nghiên Cứu Lúa Ô Môn, IRRI triển khai đó
là chương trình quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp gọi tắt là "ba giảm
ba tăng". Sức thuyết phục của các chương trình này chính từ những hiệu quả
thực tế trên đồng ruộng.
An Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong thi đua sản xuất lúa
chất lượng cao và cũng là trọng điểm của chương trình 3G3T. Từ vụ Hè Thu
Mới, tỉnh An Giang thông qua đánh giá từng mặt giảm và tăng nhằm củng cố
hiệu quả của chương trình 3G3T góp phần giúp chương trình phát triển nhanh
hơn và sâu rộng hơn tại huyện Chợ Mới, giúp nông dân giảm được chi phí
đầu vào và tăng hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp .
3
Chương II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Chương trình 3G3T trước đây còn được gọi là Quản lý dinh dưỡng &
dịch hại tổng hợp được gọi tắt là ICM (Integrated Crop Management) là
chương trình quản lý dịch hại dựa trên mối quan hệ của dinh dưỡng cây trồng
và sự gây hại của dịch hại. Dựa vào những mối tương quan biết được, các nhà
khoa học IRRI, và Cục BVTV đã triển khai ứng dụng trong quản lý dịch hại
cho cây lúa (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, 2002)
Cốt lõi của chương trình này là sự kế thừa và phát huy chương trình
IPM và thâm canh tổng hợp trong sản xuất lúa.
2.1. Cơ sở của chương trình 3G3T
2.1.1. Chương trình “Quản lý dịch hại tổng hợp- IPM”
2.1.1.1 IPM là gì?
Thuật ngữ IPM là khái niệm rất quen thuộc đối với người nông dân
sản xuất lúa, được xem như là giải pháp tổng hợp trong quản lý dịch hại. Tuy
nhiên để nông dân hiểu rõ và có thể thực hiện đầy đủ các khái niệm này
không thực sự đơn giản (Trần Văn Hai, 2004)
IPM là chữ viết tắt của từ tiếng Anh: Integrated Pest Management, có
nghĩa là quản lý dịch hại tổng hợp.
Theo Rainer Daxl (1994) thì quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một
hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và
những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và
biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại ở
dưới mức gây ra thiệt hại kinh tế.
Quản lý dịch hại tổng hợp cũng có thể định nghĩa là một hệ thống các
hợp. Các hợp chất này có hiệu lực trừ sâu cao nhưng cũng rất độc hại với môi
trường và con người, giết hại nhiều loại thiên địch, làm sâu hại dễ quen thuốc.
Dần dần người ta nhận ra rằng biện pháp hoá học là “con dao hai lưỡi”, nó có
thể giúp phòng trừ sâu hại có hiệu quả cao nhưng cũng rất có hại tới sức khoẻ
5
con người và huỷ hoại môi trường sinh thái (Võ Văn Á và ctv, 1998) Vì vậy
áp dụng biện pháp phòng trừ vừa đảm bảo về năng suất vừa duy trì được tính
bền vững của nền nông nghiệp là hết sức cần thiết.
2.1.1.2. Các đặc trưng của IPM
Theo Rainer Daxl (1994) IPM có các đặc trưng sau:
Sự kiểm soát được dựa trên sự hiểu biết về dịch hại và thiên
địch của chúng
Một sự hiểu biết về sinh học và sinh thái học về sâu hại và thiên địch
của chúng đặc biệt ở đâu và khi nào chúng xảy ra và di chuyển như thế nào
vào cây trồng làm nơi cư trú để hình thành cơ sở cho sự kiểm soát . Người áp
dụng IPM cũng cần hiểu quan hệ giữa dịch hại và thiên địch để có thể quyết
định mật độ của chúng
Mật độ quần thể của dịch hại được giữ ở mức độ thấp.
Dịch hại xảy ra ở một qui mô nhỏ thì không hẳn gây ra tức thì sự tổn
thất nào. Ở một mật độ quần thể thấp, tác động của chúng có thể cân bằng
với cây trồng. sự thiệt hại xảy ra khi cây không đủ khả năng đền bù. Tuy
nhiên, kiểm soát dịch hại chỉ đảm bảo bằng tài chính nếu chi phí của biện
pháp kiểm soát đó thấp hơn chi phí thiệt hại mà nó sẽ gây ra.Theo một qui
luật, chi phí của các biện pháp kiểm soát thì cao hơn trong khi kết quả đạt
được chỉ một thời đoạn ngắn. Bởi thế từ quan điểm về kinh tế của người
nông dân nó là một sự kỳ vọng ổn định mật số quần thể của dịch hại ở một
mức độ thấp, nhưng không loại trừ được chúng một cách hoàn toàn. Người ta
đã chứng tỏ rằng không thể thực hiện được cũng như không có hiệu quả kinh
tế để diệt từ tận gốc những dịch hại cây trồng tại một miền hay ở cấp độ quốc
gia. Hơn nữa từ quan điểm sinh thái học xem cơ thể sâu hại là nguồn thức ăn
đó như là một nguyên tắc cần phải tuân theo để cho phép xác định, trong mỗi
tình huống cụ thể, một giải pháp tối ưu, xét về mọi mặt.
- Bốn là, những biện pháp áp dụng trong phòng trừ tổng hợp rất
phong phú và đa dạng. Đồng thời những thành tựu mới trong nghiên cứu
khoa học BVTV ngày nay càng được đưa ra sử dụng trong sản xuất nhiều
hơn, rộng rãi hơn và không ngừng lại một chỗ.
7
Sau cùng, khái niệm phòng trừ tổng hợp có liên quan đến hai khái
niệm là ngưỡng gây hại và ngưỡng kinh tế.
2.1.1.4. Các yêu cầu của IPM
Theo Võ Văn Á và ctv (1998) để việc áp IPM trên ruộng lúa đạt kết
quả tốt cần có những yêu cầu sau:
- Trồng cây khoẻ.
- Bảo vệ thiên địch.
- Thăm đồng thường xuyên.
- Nông dân trở thành chuyên gia.
Trồng cây khoẻ chủ yếu là chọn giống kháng sâu bệnh và chăm sóc
cây đầy đủ bằng các biện pháp canh tác.
Bảo vệ thiên địch chủ yếu là sử dụng thuốc hoá học hợp lý khi cần
thiết và dùng loại thuốc ít gây hại thiên địch, tạo điều kiện môi trường cho
thiên địch tồn tại và phát triển.
Hai yêu cầu đầu tiên thể hiện nội dung cơ bản về mặt kỹ thuật của IPM
là điều khiển cân bằng hệ sinh thái trên cơ sở tác động vào cây trồng và thiên
địch để chủ động khống chế sự phát triển của dịch hại. Hai yêu cầu sau là
những công việc quan trọng cần làm để thực hiện các biện pháp quản lý dịch
hại tổng hợp có kết quả. Trong quá trình thực hiện phải nắm vững và vận
dụng đồng thời 4 yêu cầu này. Muốn xác định những biện pháp thích hợp, có
hiệu quả thì phải thường xuyên điều tra đồng ruộng để nắm vững kết cấu và
sự biến động của hệ sinh thái. Cụ thể là nắm vững tình hình sinh trưởng của
cây trồng, thành phần và số lượng các loài thiên dịch, dự kiến khả năng biến
hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ gieo trồng (Nguyễn
Công Thuật, 1996).
- Gieo trồng đúng thời vụ: Thời vụ gieo trồng thích hợp là thời vụ
đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, đạt năng suất cao tránh
được các rủi ro do thời tiết khí hậu gây ra. Trên thực tế đồng ruộng tuy cùng
gieo cấy trong khung thời vụ thích hợp nhưng các giống lúa gieo cấy sớm hơn
lúa đại trà xung quanh thường bị bọ xít và sâu đục thân phá hại nặng. Nguyên
9
nhân là sâu hại tập trung lại những chỗ ruộng này vào giai đoạn sinh trưởng
thích hợp của cây trồng để phá hại.
Gieo cấy đồng loạt để rút ngắn thời gian của một vụ lúa đã được các
chuyên gia của Viện Lúa Gạo Quốc Tế coi là một trong những biện pháp kỹ
thuật có hiệu quả vì nó hạn chế sâu hại phát sinh và tích lũy trong nhiều thể
hệ (Nguyễn Công Thuật, 1996).
- Trồng giống ngắn ngày và gieo sạ với mật độ thích hợp: Trồng
giống lúa ngắn ngày có thể tránh được sâu đục thân và sâu cắn gié lúa. Trong
phòng trừ rầy nâu các giống lúa cực ngắn (với thời gian sinh trưởng từ 80-90
ngày) cũng coi là một biện pháp có hiệu quả vì rầy nâu không kịp tích luỹ đủ
mật số để gây hại nặng trên ruộng lúa cực ngắn (Nguyễn Công Thuật, 1996).
Trồng dày tạo nên môi trường thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. các
ruộng lúa gieo dày thường khép hàng sớm tạo điều kiện cho rầy nâu và bệnh
đốm vằn phát triển và phá hại mạnh lúc cuối vụ
- Bón phân cân đối và hợp lý: Theo Võ Văn Á và ctv (1998) phân
bón có ảnh hưởng trực tiếp rất rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của cây
trồng, qua đó ảnh hưởng tới dịch hại. Để góp phần hạn chế dịch hại trong kỹ
thuật bón phân cần chú ý các đặc điểm sau:
Theo Hoàng Minh Châu (1998) việc hiểu rõ các thời kỳ tăng trưởng
và phát triển của cây trồng cùng những nhu cầu dinh dưỡng của chúng trong
các thời kỳ đó là điều kiện tiên quyết để điều hành việc cung cấp dinh dưỡng .
Với N trong giai đoạn đầu sẽ tích lũy ở thân cho đến tận của cuối giai đoạn
4-5 kg
DAP
7-8 kg urê
5-6 kg urê
3 kg kali
clorua
Phun KNO
3
2 đợt,
trước và sau trổ 7
ngày,150g/bình 8
lít (4 bình / công)
Đất phèn
15 kg
NPK 20-20-15
6-7 kg
DAP
6-7 kg urê
4-5 kg urê
3 kg kali
clorua
Phun KNO
3
2 đợt,
trước và sau trổ 7
ngày,150g/bình 8
lít (4 bình / công)
Đất phèn
mặn
15 kg
(55-60 nss)
Đất phù
sa
10 kg
( 20-20-15)
4-5 kg urea
4-5 kg
DAP
7-8 kg urê
7-8 kg urê
3 kg kali
clorua
Phun KNO
3
2 đợt, trước
và sau trổ 7
ngày,150g/bình 8 lít (4
bình / công)
Đất phèn
15 kg
NPK 20-20-15
5-6 kg
DAP
6-7 kg urê
5-6 kg urê
3 kg kali
clorua
Phun KNO
3
2 đợt, trước
+ Dễ áp dụng trong các điều kiện, hoàn cảnh và trình độ sản xuất
khác nhau
+ Ít tốn kém nên nông dân có thể sử dụng rộng rãi.
+ Giảm được một phần rất lớn lượng thuốc hoá học phòng trừ sâu
bệnh trong sản xuất.
+ Tránh được ô nhiễm môi trường, bảo vệ được các loài thiên địch
trong tự nhiên
+ Giữ được cân bằng trong các hệ sinh thái nông nghiệp, góp phần
xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững.
- Sử dụng thiên địch.
Trên đồng ruộng, có rất nhiều loài sinh vật là thiên địch của dịch hại,
góp phần rất lớn trong việc hạn chế sự phát triển của dịch hại trong tự nhiên,
giữ thế cân bằng trong hệ sinh thái đồng ruộng. Thực tế đã chứng minh có rất
nhiều trường hợp dịch hại bị tiêu diệt bởi thiên địch mà con người không cần
phải can thiệp vào bất cứ biện pháp nào. Trên ruộng lúa có nhiều khi phát
hiện tỷ lệ trứng sâu đục thân lúa bị ong ký sinh tới 90%. Sức ăn của các loài
thiên địch bắt mồi cũng rất lớn. Một con nhện Lycosa trưởng thành ăn mỗi
ngày từ 5-15 con rầy nâu, một con sâu non của bọ rùa 8 chấm ăn mỗi ngày từ
5-10 con mồi. Ở nước ta kết quả điều tra bước đầu cho thấy số lượng thiên
địch rất phong phú. Chỉ riêng đối với sâu hại lúa đã phát hiện 344 loài thiên
địch thuộc14 bộ, 53 họ, 205 giống gồm nhiện, côn trùng, tuyến trùng và
virus. Chỉ riêng rầy nâu đã phát hiện và xác định 58 loài thiên địch (Võ Văn
Á và ctv,1998)
Trong số 344 loài thiên địch trên thì nhóm bắt mồi ăn thịt chiếm đa số
(58,8%). Sau đó là nhóm ký sinh (39,6%), còn lại là nhóm vi sinh vật gây
bệnh cho sâu (Phạm Văn Lầm, 1994,trích dẫn bởi Võ Văn Á và ctv,1998).
Phần lớn các loài sâu hại lúa đều có rất nhiều loài thiên địch, vai trò thiên
địch thể hiện rất rõ đối rầy nâu, sâu đục thân, và sâu cuốn lá, bọ xít…
Làm thế nào để bảo vệ và tăng cường hoạt động của các loài thiên
địch, theo Võ Văn Á và ctv (1998) cần thực hiện tốt các nội dung sau đây:
trường hợp có thể tránh được việc dùng thuốc
14
Mức gây hại kinh tế là mật độ sâu bệnh đủ gây ra thiệt hại về kinh tế
lớn hơn so với chi phí phòng trừ (Nguyễn Công Thuật, 1996).
Võ Văn Á và ctv (1998) ngưỡng kinh tế là mật độ dịch hại trên cây
trồng mà ở đó khi tiến hành các biện pháp phòng trừ (nhất là biện pháp sử
dụng thuốc hóa học) thì giá trị của phần nông sản thu thêm được do tiến hành
phòng trừ sẽ cao hơn hoặc bằng với chi phí bỏ ra cho công việc phòng trừ
(tức là phải có lãi hoặc hòa vốn)
Bảng 3: Một số ngưỡng kinh tế đối với một số sâu hại
Nguồn: Võ Văn Á và ctv 1998
Đối với bệnh nhiều nhà khoa học đề nghị ngưỡng kinh tế khoảng 5-
10% số lá bị bệnh (với các bệnh đạo ôn, bạc lá) hoặc 5-10% số dảnh (bệnh
đốm vằn).
Ngưỡng kinh tế đối với một số sâu hại được đề nghị dựa trên cơ sở
sinh lý học của cây trồng, sở dĩ cây không bị giảm năng suất khi bị sâu hại ở
một mức độ nhất định là do cây có khả năng “tự đền bù”. Theo Võ Văn Á và
ctv (1998) khả năng tự đền bù của cây là khả năng cây có thể tự bù đắp những
Tên sâu
Giai đoạn sinh trưởng
của lúa
Ngưỡng kinh tế
Sâu đục thân 2 chấm
Đẻ nhánh
Bắt đầu trổ
Trỗ 50 %
0.8-1.2 ổ trứng/m
2
0.2-0.4 ổ trứng/m
2