Điều tra và đánh giá tình hình kinh tế hộ của xã viên hợp tác xã nông nghiệp hòa thuận huyên chợ Mới tỉnh An Giang năm 2004 - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TRẦN THỊ MAI THI
MSSV: DPN010749
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ HỘ CỦA XÃ
VIÊN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HOÀ THUẬN HUYỆN
CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG NĂM 2004
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Văn Minh
Ks. Trần Văn Khải

Tháng 7. 2005
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ HỘ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC
XÃ NÔNG NGHIỆP HÒA THUẬN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG NĂM
2004
Do sinh viên: TRẦN THỊ MAI THI thực hiện và đệ nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
Long xuyên, ngày…… tháng 07 năm 2005
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
GV1. Ths. Nguyễn Văn Minh
GV2. Ks. Trần Văn Khải
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên đề
tài: ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ HỘ CỦA XÃ VIÊN
HTX.NN HOÀ THUẬN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG NĂM 2004.

Khóa II, thuộc
Khoa Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên và đã tốt nghiệp kỹ sư ngành Phát
Triển Nông Thôn năm 2005.
4
Chương 1: Giới Thiệu
1.1. Đặt vấn đề
Trong phong trào phát triển mô hình kinh tế hợp tác xã (HTX) của cả nước, An Giang
là một trong những tỉnh đi đầu của phong trào đó và cũng đã gặp không ít khó khăn.
Sau một thời gian hoạt động mô hình HTX đã bộc lộ những hạn chế làm cho khá
nhiều HTX bị phá sản hay sản xuất không hiệu quả cho đến khi Luật HTX kiểu mới
ban hành (năm 1996) đã khẳng định vị trí, vai trò của HTX trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Cho đến nay, mô hình HTX An Giang tăng cả về mặt số lượng và
hiệu quả hoạt động với hình thức hoạt động ngày càng mở rộng. Tuy giá trị đóng góp
của kinh tế HTX trong tổng thu nhập của cả nước nói chung của tỉnh An Giang nói
riêng là không đáng kể nhưng có giá trị về mặt xã hội rất lớn, HTX ra đời đã giải
quyết một số lao động tại địa phương, thông qua công tác thị trường của HTX giúp
nông dân đầu ra sản phẩm nông sản dễ dàng hơn và họ mạnh dạn đầu tư sản xuất. Sự
tồn tại và phát triển mô hình HTX cho thấy nhu cầu liên kết hợp tác trong sản xuất –
kinh doanh là cần thiết, nhất là lĩnh vực nông nghiệp trong việc ứng dụng khoa học kỹ
thuật để tạo nên chất lượng sản phẩm đồng loạt và khối lượng sản phẩm lớn để đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của thi trường. Với yêu cầu đó, HTX.NN Hoà Thuận được
thành lập (năm 1997) theo kiểu HTX kiểu mới. Giống như các HTX khác ở An Giang,
HTX.NN Hoà Thuận lúc đầu cũng thực hiện dịch vụ bơm tưới lúa 3 vụ cho các xã
viên và ngay năm đầu hoạt động HTX đã có lãi. Từ thành công ban đầu HTX.NN Hoà
Thuận ngoài dịch vụ bơm tưới đã mở rộng thêm hoạt động kinh doanh - dịch vụ như:
dịch vụ đầu tư và bao tiêu trồng bắp thu trái non do HTX liên kết và hợp đồng với
Công ty Dịch Vụ Kỹ Thuật Nông Nghiệp tỉnh (Antesco), dịch vụ chăn nuôi bò cho hộ
xã viên,…các hoạt động HTX hằng năm thu lãi trên 60.000.000 đồng/năm. Cán bộ
quản lý HTX được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm quản lí
thêm các dịch vụ theo yêu cầu sản xuất của xã viên như: cung ứng vật tư nông nghiệp,

tác xã trên diện rộng. Đến cuối năm 1980, An Giang đã tổ chức được 347 tập đoàn sản
xuất, 6 hợp tác xã, 1.693 tổ đoàn kết sản xuất và 69 tập đoàn máy và đến ngày
30/4/1985, An Giang công bố hoàn thành cơ bản hợp tác hoá nông nghiệp với gần
80% ruộng đất được tập thể hoá. Lúc bấy giờ, toàn tỉnh có 2.607 tập đoàn sản xuất, 7
hợp tác xã, tập thể hoá 93% diện tích canh tác, trong đó gần 100% diện tích lúa, 29%
diện tích màu, 86% hộ nông dân vào các hình thức tập thể hoá. Tuy nhiên, chất lượng
các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất lúc bấy giờ được đánh giá là loại khá chỉ có 11%,
còn lại 89% là trung bình và kém.
Đứng trước tình hình đó, Đại hội tỉnh Đảng bộ An Giang lần thứ IV (tháng
10/1986) đã nghiêm túc đánh giá tình hình và đề ra các chủ trương, biện pháp để tháo
gỡ ách tắc trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Đây là thời điểm An Giang tập
trung đổi mới tư duy về các vấn đề kinh tế, xã hội và có thể nói, quá trình phát triển
kinh tế xã hội của An Giang đã bước qua trang sử mới.
Từ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV, An Giang đã chủ trương phát triển nông
thôn và từng bước cải thiện đời sống nông dân. Một trong những chính sách quan
trọng khác tác động đến sản xuất nông nghiệp, đó là chủ trương phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời coi
trọng việc xây dựng các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp một cách thích
hợp.
Từ năm 1991, các hình thức tổ chức hợp tác thích hợp theo ngành nghề lần
lượt ra đời. Các hộ nông dân với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ đã tìm đến với
nhau, hình thành các tổ hợp tác mới, phổ biến nhất là các tổ nông dân liên kết sản
xuất, tổ liên doanh, tổ ngành nghề (như nuôi tôm, cá bè, nuôi heo, làm vườn), tổ
7
đường nước, tổ liên kết vay vốn,…các loại hình kinh tế này thể hiện rõ nét bản chất
tương trợ của các hộ thành viên và các hộ nông dân tham gia với tinh thần tự nguyện.
Từ năm 1996, sau khi luật hợp tác xã được quốc hội thông qua (20/3/1996) và
chính phủ ban hành điều lệ mẫu về hợp tác xã nông nghiệp (29/4/1997), An Giang bắt
đầu tổ chức thí điểm các mô hình chuyển đổi từ tổ nông dân liên kết sản xuất dần lên
hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Đến cuối tháng 9/1999, đã thành lập được 70 hợp

xuất trọn gói cho xã viên không tính lãi. Mới đây vào trung tuần tháng 6/2005 HTX đã
giới thiệu ra thị trường sản phẩm mới "gạo thơm Hưng Phát" có giá 6.500 đồng/kg.
Đây là mô hình mới do HTX đã mạnh dạn vay 100 triệu đồng từ Quỹ hỗ trợ phát triển
HTX của tỉnh đầu tư mở rộng mô hình hoạt động mới "sản xuất gạo sạch, sử dụng
công nghệ thu hoạch, phơi sấy, chế biến tiên tiến theo qui trình sản xuất khép kín".
Hiện nay mỗi năm HTX có khả năng đáp ứng cho thị trường 1.500 tấn gạo thành
phẩm/năm. Ngoài ra, Công ty Vĩnh Lợi thu mua gạo sạch của HTX có bù chi phí 20%,
Công ty Angimex, nhà máy An Giang 5, doanh nghiệp tư nhân Minh Tuấn bao tiêu
3.000 tấn lúa Jasmine và toàn bộ sản lượng lúa chất lượng cao của xã viên, ngoài ra
Làng bánh tráng Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh) còn hợp đồng tiêu thụ gạo của
HTX, từ đó đã góp phần tăng vốn điều lệ ban đầu của HTX từ 120 triệu đồng lên 400
triệu đồng, chia lợi nhuận 1,93%/tháng/cổ phần.
HTX Hiệp Phú (huyện Phú Tân) thành lập năm 2001 nhưng nhờ công khai
phương án hoạt động, nên ngay trong năm đầu tiên hoạt động được lãi 135 triệu đồng
bằng 1/4 vốn cổ phần bỏ ra. Đến cuối năm 2004 HTX đã gây được quỹ 208 triệu đồng,
xã viên thống nhất mở rộng loại hình dịch vụ tín dụng nội bộ. Từ đó ngoài lợi nhuận
cổ phần xã viên còn được cộng thêm nguồn lợi từ vay vốn lãi suất thấp không quá 1%,
từ dịch vụ này đã làm tăng thêm 10% lợi nhuận cho xã viên.
HTX Trường Thạnh (huyện Phú Tân) không chọn mô hình dịch vụ bơm tưới
làm hoạt động chính mà chọn hình thức liên kết "4 nhà" làm cầu nối giữa nông dân
với doanh nghiệp theo phương thức "thu mua - chế biến theo công nghệ cao - xay xát -
bán cho doanh nghiệp". Đây còn là HTX đầu tiên tỉnh thí điểm thực hiện theo mô hình
"giám đốc" điều hành thông qua hội đồng quản trị.
Thanh Quang (2004), Hợp tác xã nông nghiệp Thành Lợi, thị trấn Cái Dầu
huyện Châu Phú có 87 xã viên, đóng góp 966 cổ phần trị giá 117 triệu 150 ngàn đồng.
9
Năm nay, bên cạnh việc sản xuất 296 ha lúa chất lượng cao và 9 ha màu 3 vụ, hợp tác
xã còn đầu tư phát triển các dịch vụ bơm tưới, cày xới, vận chuyển, thu hoạch hợp
đồng tiêu thụ sản phẩm đã mang lại hiệu quả cao, nguồn thu dịch vụ tăng hơn 30% so
với năm trước và lãi toàn hợp tác xã đạt 82 triệu 754 ngàn đồng, nâng tỷ lệ lãi cổ phần

loại rau, củ để cung ứng cho các đối tác (Xuân Quyên, 2005).
* Chính sách, chương trình hỗ trợ
Thành công của các HTX còn nhờ vào tỉnh An Giang đã có nhiều chính sách
ưu đãi hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh nhất là trong công tác điều hành quản lý, hỗ
trợ hoàn toàn chi phí trong suốt thời gian học đại học cho gần 200 sinh viên hợp đồng
khi ra trường về làm việc tại các HTX ít nhất là 5 năm. Trường Đại học An Giang còn
chủ động đào tạo trong hơn 1 năm qua gần 700 cán bộ quản lý kinh tế, quản trị kinh
doanh, nghiệp vụ kế toán. Tỉnh An Giang còn xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển HTX
giúp vay tín chấp từ 100 triệu đến 500 triệu đồng/HTX để đầu tư mở rộng qui mô hoạt
động, khuyến khích hỗ trợ 50% chi phí quảng bá sản phẩm khi các HTX xây dựng
"thương hiệu" hàng hoá nông sản. Mới nhất từ đầu tháng 6/2005 này bằng nguồn ngân
sách, tỉnh chi 100 triệu đồng phát vay không lãi trong 3 năm ưu tiên cho các HTX
trang bị máy gặt đập liên hợp, nhằm mở rộng mô hình kinh doanh dịch vụ, khắc phục
trước mắt tình trạng thiếu nhân công trong thời điểm thu hoạch lúa đại trà (TTXVN,
2005).
Trong hội thảo đánh giá tình hình sau thu hoạch và kinh tế hộ thuộc chương
trình Agromas (2003), đã tìm hiểu các hoạt động thu hoạch trên địa bàn hợp tác xã
Hoà Thuận và các xã lân cận nhằm làm cơ sở để xây dựng mô hình canh tác tổng hợp,
đặc biệt nhấn mạnh đến các công cụ sau thu hoạch như: làm khô, xay xát, lau bóng và
tiêu thụ lúa gạo của nông dân. Trên cơ sở những nguồn thông tin này sẽ có những tác
động phù hợp cho sự phát triển bền vững của hợp tác xã cũng như cho cả vùng.
* Thành tựu
Nhờ tập trung đổi mới phương thức quản lý điều hành, sản xuất kinh doanh
có hiệu quả nên đã có 80% HTX trong số 112 HTX nông nghiệp trong tỉnh An Giang
hoạt động có lãi và có tích luỹ, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2004, số HTX yếu
kém ngày càng bị thu hẹp nhanh, nông dân đã thật sự làm giàu nhờ có HTX. Đến nay
1
các HTX nông nghiệp đã thu hút được 8.879 xã viên (tăng hơn 200 xã viên so với năm
đầu triển khai đề án phát triển HTX) với gần 10.000 cổ phần, trong đó mỗi cổ phần có
giá trị từ 150.000 đồng đến 180.000 đồng (TTXVN, 2005).

điều nghiên thị trường mà chỉ bắt chước láng giềng là chính. Nông dân các nước giàu
đã thấy rõ là nếu làm ăn theo cá thể người ta sẽ không thể nào đạt được bốn điều kiện
tiên quyết để cạnh tranh như đã nêu trên, họ phải gia nhập hợp tác xã hoặc nông hội
mới làm được. Còn nông dân ta mạnh ai nấy tự lo thân mình, tự chạy tìm một ít kỹ
thuật chỗ này hoặc chỗ kia, có vốn thì làm tốt một chút còn không vốn thì bó ta, nhà
khá giả sẽ khá lên, còn nhà nghèo thì trở nên nghèo hơn, đã đến lúc nông dân chúng ta
phải hợp nhau lại để chuẩn bị đối đầu với cạnh tranh quốc tế, không thể tiếp tục cuộc
đời cá thể lạc hậu như ngàn năm ông bà để lại (Võ-Tòng Xuân, 2001).
Bà Phạm Kim Yên cho biết: ”nhằm góp phần đưa nông nghiệp tỉnh tiếp tục
phát triển, An Giang cần tập trung ra sức củng cố các mô hình kinh tế hợp tác, HTX
để hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại. Đồng thời tiếp tục phát triển các
ngành nghề khác, tích cực góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch
trong nông nghiệp, làm tiền đề cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
tỉnh…”(Nguồn tin: An Giang, 2003).
Phát biểu của ông Trương Tấn Sang tại hội nghị sơ kết Nghị quyết chuyên đề
số 13-NQ/TW của hội nghị TW lần 15 về kinh tế tập thể trong thời kỳ đổi mới tại
TP.HCM (2003) đã khẳng định: ”vai trò của nền kinh tế tập thể là không thể thiếu
được trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Trong thực tiễn,
kinh tế hợp tác và HTX là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng
hoá càng phát triển, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường càng gay gắt thì những
người lao động riêng lẻ, các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng
có yêu cầu liên kết hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển”. (Nguồn tin: NNVN,
2003)
Trong thông điệp của Liên minh HTX Quốc tế nhân ngày HTX Quốc tế lần
thứ 82 và ngày quốc tế về HTX lần thứ 10 của Liên hiệp quốc có nội dung sau: “Uỷ
ban đề cao vai trò rất quan trọng của HTX trong việc tác động đến quá trình phát triển
của toàn cầu hoá bên cạnh những tác nhân khác trong xã hội. Uỷ ban đặc biệt nhấn
mạnh vai trò không thể thiếu của HTX trong một số lĩnh vực như: tăng cường đối
1
thoại và quản lý - các HTX từ lâu đã được biết đến như những "trường học về dân

(808 ha) mật độ dân số
là 1.923/người/km
2
gồm 3.108 hộ với 15.541 người sống phân bố trên địa bàn 6 ấp:
1
Mỹ Hòa, Mỹ Tân, Mỹ Quý, Mỹ Thuận, Thị I, Thị II. Về kinh tế xã hội: tổng sản phẩm
nội địa đạt 139,9 tỉ đồng, GDP tăng 13,7% so với năm 2003 trong đó công nghiệp -
TTCN tăng 11,3%, thương mại dịch vụ tăng 16,9% và nông nghiệp - thủy sản tăng
9,4% với từng cơ cấu: khu vực I chiếm 24,2%, khu vực II chiếm 22,2%, khu vực III
chiếm 53,6%. Tổng diện tích gieo trồng là 2.265 ha trong đó lúa 3 vụ là 1.215 ha năng
suất bình quân đạt 16 tấn/ha, cây màu các loại là 1.050 ha trong đó bắp non đưa vòng
quay sử dụng đất đạt 3,99 vòng/năm. Cây màu tăng do một số diện tích vườn tạp
chuyển sang tận dụng trồng cỏ, bắp non để có nguyên liệu chăn nuôi bò. Về chăn
nuôi, đến năm cuối năm 2004 số con gia súc gia cầm các loại: bò 1.818 con, heo 776
con, một số loại thủy sản vẫn tiếp tục phát triển với 22 lồng bè, 2,5 ha mặt nước ao
hầm thả nuôi trên 500.000 con cá các loại đã góp phần cải thiện đời sống kinh tế của
người dân.
Về phương hướng nhiệm vụ năm 2005: “tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo kinh
tế tập thể HTX.NN Hoà Thuận, khuyến khích mở rộng loại hình dịch vụ, phát huy sự
liên kết giữa hội nông dân và các trung tâm trang trại khuyến nông để tiếp tục chuyển
giao công nghệ ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm giảm
chi phí, giá thành ổn định được thị trường tiêu thụ nông sản. Thực hiện tốt chương
trình “3 giảm 3 tăng”.
2.6. Báo cáo tổng kết của HTX.NN Hoà Thuận từ năm 1997 - 2003
2.6.1. Sự ra đời của HTX.NN Hòa Thuận
Khu vực đê bao khép kín của HTX hiện nay, trước đây có 80% hộ nông dân là
thuần nông, 20% vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề khác, các dịch vụ đầu vào
(bơm tưới, cày xới, suốt,...) do tư nhân quản lý, giá dịch vụ cao, dễ làm khó bỏ… nông
dân thiệt thòi nhiều.
Năm 1997 luật HTX ra đời các cán bộ trong HTX cùng một số nông dân tiên

870.000 đồng/năm/ha.
- Tăng vòng quay của đất, tăng thu nhập cho nông dân:
+ Từ 2 vụ lúa/năm lên 3 vụ lúa/năm.
+ Mùa từ 3 vụ màu/năm lên 5 vụ màu/năm, riêng vụ màu thứ 5 mỗi hộ nông
dân thu nhập bình quân 35.000.000 đồng/ha.
Từ bảng 2 cho thấy: năm 2003 - 2004 doanh thu HTX tăng lên gần 10 lần so
với năm 1997 – 1998 và lãi gần 80 triệu đồng/năm tăng hơn gần 10 triệu đồng/năm .
1
Bảng 2: Doanh thu, chi phí và phân phối lãi từng năm Đvt: 1.000 đ
Diễn giải 2000 - 2001 2001 - 2002 2002 -2003 2003 – 2004
(*)
Doanh thu 381.021 976.232 1.310.000 1.892.823.837
Chi phí 307.133 882.020 1.230.000 1.813.391
Lãi 73.887 84.211 80.000 79.432
Phân phối lãi
Quỹ HTX 44.333 39.038 48.000 47.659
Chia lãi xã viên 29.555 20.026 32.000 31.773
Lãi suất /tháng 3,72% 3,20% 3,76% 3,55%
(*): mới cập nhật từ báo cáo năm 2004
* Xã hội
HTX đã giúp cho 15 lao động nghèo tham gia cổ phần HTX bằng cách trừ vào
tiền công lao động trực tiếp cho HTX và một lao động được trả công trực
tiếp là 360.000 đồng/tháng.
* Khuyến nông
HTX kết hợp với trung tâm khuyến nông tỉnh, trạm BVTV huyện, hội nông
dân huyện, xã và các doanh nghiệp khác tổ chức nhiều lần hội thảo làm điểm trình
diễn phân bón, thuốc trừ sâu, chương trình IPM, thâm canh lúa cao sản theo phương
pháp sạ hàng… Qua đó khoa học kỹ thuật được chuyển giao đến nông dân, giúp nông
dân sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tiết kiệm nhưng có hiệu quả đồng thời hạn chế
ô nhiễm môi trường.

Sắp tới HTX đề ra kế hoạch liên kết với HTX Trung Thành - Mỹ Luông và
HTX Thành Công - Hội An để mở thêm chi nhánh thu mua bắp non tại địa điểm 2
HTX trên.
2.6.3.3. Dịch vụ chăn nuôi bò
Từ nguồn quỹ phát triển sản xuất, HTX đã đầu tư 56.203.000 đồng mua 18
con bò thịt và kí hợp đồng giao cho 9 hộ xã viên theo phương thức:
HTX mua và giao bò đến tận hộ xã viên, đầu tư các khoản thú y trong toàn bộ
quá trình nuôi và cho xã viên mượn vốn xây dựng chuồng trại. Đến thời điểm bán (sau
1
6-8 tháng) thì hộ nông dân được hưởng 55% và HTX 45%. Vì vậy, để phát huy và mở
rộng dịch vụ, HTX tiếp tục lập dự án mở rộng chăn nuôi thêm 60 con bò và giao cho
30 hộ xã viên. Tổng vốn đầu tư cho dự án này là 210 triệu đồng, trong đó vốn tự có
của HTX 30% còn lại 70% vay ngân hàng.
* HTX trả hết các khoản nợ ban đầu, từ nguồn vốn tự có HTX đã xây dựng
các nguồn quỹ và mua sắm thêm tài sản cố định trên 250 triệu đồng. Ngoài ra HTX
còn chia lãi cho xã viên hằng năm với lãi suất 3,5%/tháng, đồng thời làm giảm nhẹ chi
phí sản xuất cho bà con xã viên, tăng vòng quay của đất. Tuy trong thời gian qua hoạt
động của HTX bước đầu có hiệu quả nhưng vẫn còn một số hạn chế sau:
- Nội lực HTX còn yếu, đồng vốn ít nên việc mở rộng dịch vụ chưa lớn mạnh.
- Xã viên tham gia HTX còn hạn chế về quy mô tổ chức sản xuất, chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm.
2.5.4. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới
Tổ chức quy hoạch vùng sản xuất lúa giống xác nhận theo quy trình kỹ thuật
của lớp tập huấn “kỹ năng chọn tạo giống lúa” với diện tích 10 ha. HTX sẽ đảm bảo
cung ứng giống nguyên chủng, dịch vụ sạ hàng và bao tiêu hết sản phẩm (ước tính 50
tấn/vụ) và phân phối lại cho các hộ nông dân trong khu vực HTX với lợi nhuận
khoảng 100-200 đồng/kg.
- Dịch vụ làm đất (cày, xới, trục, trạc), HTX cần đầu tư mua 3 máy cày trị giá
khoảng 100 triệu đồng nhằm đảm bảo kịp lịch thời vụ.
- Hiện nay việc chăn nuôi bò vỗ béo của địa phương và HTX đang ngày càng

Trên cơ sở tham khảo chuẩn nghèo của một số địa phương có điều kiện kinh
tế tương đương như Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng…, Tỉnh ủy đã quyết định nâng
mức chuẩn nghèo của tỉnh cao hơn so với Trung ương để phấn đấu và kết quả xóa
nghèo của tỉnh sẽ bền vững hơn. Theo đó, tỉnh sẽ đặt ra 3 chuẩn nghèo mới là 300
ngàn đồng/người/tháng ở thành thị và tương tự là 250 ngàn đồng ở nông thôn, 200
ngàn đồng ở miền núi".
Theo báo Thanh Niên (08.07.2005): "cuộc Hội thảo tham vấn chương trình
mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 vừa được tổ chức cách đây vài
hôm tại Hà Nội thì chúng ta còn khoảng 1,4 triệu hộ nghèo (bằng 8% dân số) và dự
2
kiến cuối năm 2005 này, con số đó sẽ giảm còn 1,1 triệu hộ (bằng 7%). Tuy nhiên,
điều quan ngại ở chỗ đất nước ta còn có một tỷ lệ lớn hộ gia đình nằm ngay cận chuẩn
của khái niệm nghèo, có nguy cơ tái nghèo rất lớn.
Điều đáng suy ngẫm là cái "chuẩn nghèo" tới đây của chúng ta cũng phải phấn
đấu "nâng cấp" phần nào cho "kịp" với "chuẩn nghèo" của thế giới. Chúng ta chưa
"được" ở mức nghèo trên thế giới là 1 USD/người/ngày thì cũng đang cố nhích lên
"chuẩn nghèo" mới với mức 200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn,
miền núi và 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị. Như vậy có nghĩa là
cái "chuẩn nghèo" của Việt Nam ta so với chuẩn nghèo của thế giới vẫn còn là một
khoảng cách, mặc dù trước đó "chuẩn nghèo" của Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều
(100.000 và 150.000 đồng ở mỗi khu vực khác nhau như trên vừa dẫn).
Báo Tuổi Trẻ (13.07.2005), đưa tin về mức chuẩn nghèo mới có từ nguồn
báo Thanh Niên thì: "chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 vừa được Thủ
tướng Chính phủ ký quyết định ban hành. Theo đó, người có thu nhập bình quân từ
200.000 đến 260.000 đồng/tháng là người nghèo. Cụ thể, hộ nghèo ở khu vực nông
thôn được xác định là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm). Ở khu vực thành thị, những hộ có
mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3,12 triệu đồng/người/năm)
trở xuống là hộ nghèo".
2

2
được phân phối trên phạm vi 5 ấp: Mỹ Hoà, Mỹ Tân, Mỹ Thuận, Mỹ Quý, Thị I thuộc
thị trấn Mỹ Luông.
Phương pháp lấy mẫu cũng chia đều tối thiểu từ 7–10 hộ /mẫu.
Chỉ tiêu giàu, nghèo, trung bình dựa vào văn kiện do Thủ tướng Chính phủ ký số
2685/VPCP – QHQT ngày 21 tháng 05 năm 2002 và kết hợp với Ban quản lý HTX
lập ra danh sách hộ xã viên theo tiêu chí giàu, trung bình, nghèo và cán bộ HTX sẽ
hướng dẫn trong quá trình điều tra.
3.2.3.2. Nội dung điều tra
Phiếu điều tra được thiết kế dựa vào mục tiêu nghiên cứu và thông tin thứ cấp
thu thập được.
Phiếu điều tra được điều tra thử và chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện của
nông hộ trong vùng nghiên cứu. Phiếu điều tra được đính kèm phụ chương với nội
dung sau:
1.Thông tin tổng quát về nông hộ: tên chủ hộ, tuổi, số thành viên trong hộ,
trình độ văn hóa….
2. Đặc điểm và cách sử dụng đất:
Sử dụng đất
Mức độ tưới tiêu
Tổ chức sản xuất:
Cơ cấu cây trồng và năng suất
Những hoạt động chính của nông hộ trong năm
Kĩ thuật canh tác
3. Chi phí sản xuất hằng năm (trồng lúa, màu, chăn nuôi)
4. Chi phí chăn nuôi
5. Hoạt động ngoài ngành nông nghiệp
6. Nhà ở và tư liệu sinh hoạt gia đình
7. Tình hình tài chính của nông hộ trong năm: thu, chi, lợi nhuận
8. Thuận lợi và khó khăn của nông hộ
9. Đề xuất ý kiến của nông hộ

Đầu tư kiến thiết cơ bản, khấu hao, chi phí sản xuất, lợi nhuận …
2
3.2.6.4. Phân tích tài chính mô hình canh tác
- Phân tích lợi nhuận (RAVC=Return Above Variable Cost)
RAVC = GR – TVC.
Trong đó:
GR (Gross Return) = sản lượng x đơn giá
TVC (Total Variable Cost) = Phí vật tư + lao động
Lợi tức/nhân tố đầu tư: RAVC =
Nhân tố A là lao động hoặc vật tư
RAVC: lợi nhuận
GR: tổng thu
TVC: tổng chi phí
- Lợi tức biên tế (MBCR= Marginal Benefit Cost Return): là tỷ lệ giữa mức
thu tăng thêm và mức chi tăng thêm trên một đơn vị diện tích (ha).
Trong đó: GR2: tổng thu mô hình cần so sánh
GR1: tổng thu mô hình phổ biến
TVC2: tổng phí mô hình cần so sánh
TVC1: tổng phí mô hình phổ biến
(Công thức được tính dựa theo giáo trình lý thuyết nghiên cứu và phát triển hệ
thống canh tác Trường Đại Học Cần Thơ)
3.2.6.5. Phân tích các trở ngại khó khăn trong sản xuất vùng điều tra
Thông qua bảng phỏng vấn sự phản hồi của nông hộ về những khó khăn trong
sản xuất được tổng kết lại để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục hoặc có những kiến
nghị đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
2
Nhân tố A
GR-TVC
GR2 – GR1
MBCR=


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status