TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHẠM THÚY HẰNG
NGÔ THỊ PHI
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ
TÍNH ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI
ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS, THÀNH PHẦN
CÔN TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH
TRÊN RUỘNG ĐẬU BẮP TẠI
HUYỆN CHÂU THÀNH,
HẬU GIANG
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
MSSV: 3103656
Lớp: TT1073A1 Cần Thơ, 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ TÍNH
ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI ĐẬU BẮP Earias
vittella FABRICIUS, THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG GÂY HẠI
VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG ĐẬU BẮP
TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, HẬU GIANG”
Do sinh viên Phạm Thúy Hằng, Ngô Thị Phi thực hiện và đề nạp.
Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Cần Thơ, ngày … tháng… năm 2013
Cán bộ hướng dẫn Ths. Phạm Kim Sơn
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Ngô Thị Phi Giới tính: Nữ
Ngày sinh: 05/05/1992 Dân tộc: Khơmer
Nơi sinh: xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Quá trình học tập:
- 1998 – 2003: học tiểu học tại trường tiểu học “A An Tức”.
- 2003 – 2007: học cấp 2 tại trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang.
- 2007 – 2010: học cấp 3 tại trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang.
- 2010 – 2014: học đại học tại Trường Đại Học Cần Thơ.
Họ và tên: Phạm Thúy Hằng Giới tính: Nữ
Ngày sinh: 08/05/1992 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Thị trấn Cái Bè, Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang
Quá trình học tập:
- 1998 – 2003: học tiểu học tại trường tiểu học “Tân Phong I”.
- 2003 – 2007: học cấp 2 tại trường THCS Tân Phong.
- 2007 – 2010: học cấp 3 tại trường THPT Cái Bè.
- 2010 – 2014: học đại học tại trường Đại Học Cần Thơ. iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
lực to lớn giúp con vượt qua tất cả mọi khó khăn thử thách để có được thành công
sau này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình, ngoài sự nổ lực và phấn đấu từ
phía bản thân, tôi đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình từ phía các thầy cô,
gia đình và bạn bè.
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý thầy cô Trường Đại học Cần
Thơ- Khoa Nông Nghiệp và SHƯD- Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã truyền thụ cho
tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình tôi được học tập tại
trường.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ths. Phạm Kim Sơn, thầy đã tận tình hướng dẫn,
gợi ý, cho những lời khuyên và giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn để cho tôi
hoàn thành tốt luận văn này.
Chị Nguyễn Thị Mỳ đã nhiệt tình chỉ dẫn và đóng góp ý kiến giúp tôi vượt qua
những khó khăn trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Bạn Lâm Thị Xuân Mai, Huỳnh Phương Thanh, Lê Nhựt Thanh, Lê Thị Thùy,
Thạch Thị Anh Thảo, Hồ Thị Xuân, Đinh Hùng Thắng đã tận tình giúp đỡ trong
việc thu mẫu và trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành
Tất cả các thành viên lớp Bảo Vệ Thực Vật Khóa 36, các bạn đã hết lòng giúp đỡ và
động viên tôi vượt qua khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành ghi nhớ tất cả sự chân tình, sự giúp đỡ của những anh, chị, em đã
tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện những thí nghiệm mà tôi không thể liệt kê ra
hết trong lời cảm tạ này.
PHẠM THÚY HẰNG, NGÔ THỊ PHI
đậu đũa).
Thành phần loài trên 4 ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang, vụ Hè Thu 2013 gồm có 10 loài côn trùng gây hại hiện diện như: rầy xanh
hai chấm (Amrasca devastans Distant), rầy phấn trắng (Bemisia tabaci Gennadlus),
rầy mềm (Aphis gossypii Glover), bọ xít đỏ (Dysdercus cingulatuc), sâu đục trái
(Earias vittella), sâu đo xanh ăn lá (Anomis flava Fab.), sâu cuốn lá (Sylepta
derogate Fab.), sâu ăn tạp (Spodoptera litura), bọ trĩ (Megalurothrips usitatus), rệp
sáp (Phenacoccus solenopsis) và 1 loài nhện đỏ (Tetranychus cinnabarius) gây hại.
Trong đó, rầy xanh hai chấm và sâu đục trái là 2 loài hiện diện phổ biến. Thiên địch
ăn mồi có 5 loài nhện: nhện Lycosa (Lycosa pseudoannulata), nhện chân dài
(Tetragnatha maxillosa), nhện lùn (Atypena formosana), nhện linh miêu (Oxyopes
javanus), nhện nhảy (Phidippus sp.) và 1 loài bọ rùa đỏ (Micraspis sp.). vii
MỤC LỤC
Trang
Danh sách bảng x
Danh sách hình xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Cây đậu bắp 2
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm chung của đậu bắp 2
1.1.2 Kỹ thuật canh tác cây đậu bắp 3
1.2. Sâu đục trái đậu bắp Earias vittella Fabricius 4
1.2.1. Phân loại 4
1.2.2. Phân bố 4
1.2.3 Ký chủ 4
1.2.4. Triệu chứng gây hại 4
1.2.5. Đặc điểm hình thái 5
2.2.2. Khảo sát khả năng ăn các bộ phận cây đậu bắp đối với ấu trùng
E. vittella trong điều kiện phòng thí nghiệm 19
2.2.3. Khảo sát tính ưa thích ký chủ của ấu trùng E. vittella trong điều kiện
phòng thí nghiệm 21
2.2.4. Điều tra thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên ruộng
đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Khảo sát đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của sâu đục trái
E. vittella F. trong điều kiện phòng thí nghiệm 24
3.1.1. Đặc điểm hình thái qua các giai đoạn trong vòng đời của sâu đục trái
đậu bắp E. vittella Fab. 24
3.1.2. Đặc tính sinh học của sâu đục trái đậu bắp E. vittella Fab. 30
3.2. Khảo sát khả năng ăn các bộ phận cây đậu bắp đối với ấu trùng
E. vittella Fab. trong điều kiện phòng thí nghiệm 36
3.3. Khảo sát tính ưa thích ký chủ của ấu trùng E. vittella Fab.
trong điều kiện phòng thí nghiệm 37
3.4. Thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu
bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 38
3.4.1. Thành phần côn trùng gây hại trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành,
tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 38
3.4.2. Thành phần thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành,
tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 42
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
ix
4.1. Kết luận 45
4.2. Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ CHƯƠNG
x
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Kích thước các giai đoạn phát triển của sâu đục trái đậu bắp
trong điều kiện phòng thí nghiệm
24
3.2
Một số đặc điểm khác nhau giữa thành trùng đực và cái sâu
đục trái đậu bắp Earias vittella Fab.
28
3.3
Các giai đoạn phát triển (vòng đời) của sâu đục trái Earias
vittella Fabricius trên thức ăn đậu bắp trong điều kiện phòng
thí nghiệm
30
3.4
Khả năng sinh sản của thành trùng E. vittella trong điều kiện
phòng thí nghiệm
33
3.5
Trọng lượng thức ăn được ấu trùng E. vittella tiêu thụ và sự
xi
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
2.1
Nuôi sâu trong phòng thí nghiệm
18
2.2
Bố trí thí nghiệm các bộ phận cây đậu bắp
20
2.3
Bố trí thí nghiệm các loại trái cây ký chủ của loài E. vittella
Fab.
22
2.4
Sơ đồ các điểm điều tra trên ruộng đậu bắp
23
3.1
Trứng và ấu trùng sâu đục trái đậu bắp E. vittella Fab.
26
3.2
Nhộng sâu đục trái Earias vittella Fab.
cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Từ xa xưa, nghề trồng rau màu đã gắn liền với
mảnh đất canh tác và được xem như nguồn thu nhập chủ yếu của nông dân. Hiện
nay, diện tích trồng rau màu ngày càng tăng do đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng
mở rộng của thị trường. Trong đó, đậu bắp là loại rau ăn quả hằng niên dễ trồng,
cho năng suất cao và thu nhiều lợi nhuận đang được nông dân quan tâm sản xuất
ngày càng nhiều.
Mặc dù việc trồng đậu bắp có nhiều thuận lợi, tuy nhiên, nghề trồng rau màu
không thể tránh khỏi sự tấn công của sâu hại. Trong những năm gần đây, thời tiết,
khí hậu diễn biến thất thường làm bộc phát nhiều loài dịch hại, gây ra nhiều khó
khăn trở ngại cho việc canh tác rau màu của nông dân. Riêng đối với cây đậu bắp,
trong thời gian này, đối tượng gây hại nghiêm trọng được nông dân cũng như những
nhà nghiên cứu quan tâm đến nhiều đó là loài sâu đục trái Earias vittella Fabricius.
Loài sâu hại này có thể tấn công lên tất cả những bộ phận non của cây, làm rụng
hoa, héo đọt, và ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất trái đậu bắp.
Việc phòng trị đối tượng này thường gặp rất nhiều khó khăn do sâu tấn công vào
bên trong những bộ phận non của cây và trú ẩn trong đó. Một phần, do bướm cái có
tập tính đẻ trứng với số lượng nhiều, đẻ rải rác nhiều ngày nên phải phun thuốc
thường xuyên trên đồng ruộng. Tập quán canh tác này sẽ làm chi phí sản xuất tăng
lên, dư lượng thuốc trừ sâu lưu tồn trong nông sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường và sức khỏe con người.
Trước tình hình này, để việc phòng trị loài sâu đục trái được tốt hơn, nhằm
nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người, đề tài:
“Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và tính ưa thích ký chủ của sâu đục trái
đậu bắp Earias vittella F., thành phần côn trùng và thiên địch trên ruộng đậu
bắp tại huyện Châu Thành, Hậu Giang” được thực hiện với mục tiêu: khảo sát
đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái Earias vittella F., khảo sát khả năng
ăn các bộ phận cây đậu bắp và tính ưa thích ký chủ của Earias vittella F. trên một
số loại cây như đậu bắp, bụp vang, đậu rồng, đậu đũa; điều tra thành phần loài côn
trùng gây hại và thiên địch trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang.
đậu bắp chủ yếu trồng và sử dụng ở phía Nam, người miền Bắc ít biết ăn đậu bắp do
có chất nhờn (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).
Đặc tính sinh học
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), cho rằng đậu bắp là
cây thân thảo, mọc đứng, nhiều lông và hơi rỗng, cao trung bình 1,0 - 1,5 m, có thể
cao trên 2 m, phân cành nhiều. Có một rễ chính và nhiều rễ phụ, ăn sâu tới 40 - 50
cm. Lá hình tim hoặc xẻ hình chân vịt, mép có răng cưa lớn, có lông nhám. Hoa
mọc ở nách lá, có 5 cánh lớn, màu xanh vàng, trông giống hoa cây bông vải. Hoa
lưỡng tính, gồm một nhụy cái ở giữa và nhiều nhị đực bao quanh, tự thụ phấn là
chính. Quả nang, dài 20 - 25 cm, mọc dựng đứng, màu xanh nhạt, gồm 3 - 5 vách
ngăn kết nhau tạo thành đường gờ dọc. Hạt hình cầu hơi dẹt, đường kính 2 - 3 mm,
khi non có màu trắng, khi chín màu nâu đen.
Yêu cầu ngoại cảnh
Cây đậu bắp ưa nhiệt độ cao, thích hợp khoảng 25 - 30
0
C. Cần nhiều ánh sáng.
Khả năng chịu hạn khá, chịu mưa nhưng yếu chịu úng ngập. Trồng được trên nhiều
loại đất, thích hợp đất thịt nhẹ, luôn đủ ẩm nhưng thoát nước, không bị chua mặn.
Sau khi gieo hạt khoảng 35 - 40 ngày cho quả, thời gian thu hoạch quả kéo dài 50 -
55 ngày. Năng suất trung bình 20 - 30 tấn/ha (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh
Cường, 2007).
3
1.1.2. Kỹ thuật canh tác cây đậu bắp
Năm 2007, Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường đã đưa ra kỹ thuật canh
tác cây đậu bắp như sau:
Giống
Hiện có nhiều giống địa phương, giống chọn lọc trong nước và giống nhập
nội. Viện Nghiên Cứu Rau quả có giống đậu bắp ĐB1 nhập từ Nhật Bản, thời gian
kg urê + 3 kg KCl + 20 kg bánh dầu).
+ Lần 3: Sau gieo 40 - 45 ngày, đậu quả đợt đầu (10 kg urê + 7 kg KCl +
20 kg bánh dầu).
Nếu dùng phân hỗn hợp NPK thì tính ra lượng đạm, lân và kali tương ứng. Có
thể thay bánh dầu bằng DAP.
4
Chăm sóc
- Tưới nước: khả năng chịu hạn của cây đậu bắp tương đối khá, tuy vậy
trồng trong vụ đông xuân là vụ khô nên cần tưới nước. Thời gian đầu khi
gieo hạt và cây còn nhỏ đất cần đủ ẩm. Khi cây lớn ra hoa có quả lượng
nước tưới cần nhiều, nếu để khô hạn quả sẽ nhỏ và cứng. Cách tưới có thể
dùng thùng vòi, vòi phun mưa hoặc bơm nước vào rãnh đủ ẩm rồi cho
thoát ngay. Mùa mưa không để ruộng bị ngập.
- Xới đất, vun gốc, làm cỏ: kết hợp các lần bón thúc. Cây đậu bắp thân cao,
cành lá nhiều, dễ đổ ngã nên cần vun gốc. Thường xuyên tỉa bỏ các lá già
úa phía gốc và lá bị sâu bệnh nặng.
1.2. SÂU ĐỤC TRÁI ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS
1.2.1. Phân loại
Sâu đục trái đậu bắp còn có tên gọi là sâu loang vệt xanh (Nguyễn Văn Đĩnh
và ctv., 2012); sâu loang vạch xanh hay sâu loang (Nguyễn Đức Khiêm, 2006); sâu
xanh (Lê Thị Sen, 1999). Loài sâu này có tên khoa học là Earias vittella Fabricius
hay Earias fabia thuộc Họ Noctuidae, Bộ Lepidoptera.
1.2.2. Phân bố
Theo Ahmed (2000) nhận định rằng, loài Earias vittella Fabricius được nhận
biết đầu tiên ở Sudan năm 1986. Theo Memon et al. (2004) cho rằng, loài Earias
vittella phân bố rộng rãi ở quần đảo Thái Bình Dương, Bắc Phi, Ấn Độ, Pakistan và
hầu hết các nước Châu Á. Ở Việt Nam, sâu loang vệt xanh đang được ghi nhận ở
hầu hết các vùng trồng bông vải, đặc biệt khá phổ biến ở vùng Tây Nam Bộ
(Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012).
ngày.
Trứng được đẻ đơn lẻ hoặc rải rác thành từng cụm nhỏ vào những phần có
lông trên vỏ quả. Thời gian ủ trứng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Thời gian này dao
động từ 3,03 - 3,84 ngày ở 23,2 - 24,5
0
C, ẩm độ 59% và dao động từ 1,88 - 2,42
ngày khi nhiệt độ tăng lên 30
0
C. Số lượng trứng nở không hoàn toàn. Tỷ lệ chết cao
nhất được ghi nhận là 8,13% ở 31,3
0
C, ẩm độ 67% và thấp nhất là 0,81% ở 27,5
0
C,
ẩm độ 58% (Roqaya and Mehmmady, 2000).
Giai đoạn ấu trùng
Theo Vijayalakshmi and Sridhar (2000) đã nhận định rằng, khi ấu trùng E.
vittella phát triển đầy đủ cơ thể ấu trùng có màu nâu đen với các sọc màu trắng theo
chiều dọc trên bề mặt lưng của cơ thể. Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv. (2012) cho
biết, sâu non mới nở có màu nâu, sau đó nâu đen, lớn dần trên lưng xuất hiện nhiều
vết loang trắng giữa các màng màu đen và những chấm vàng, ổ chân lông nổi rất rõ,
thân thô mập. Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho rằng, sâu non có 5 tuổi, đẫy sức
dài 12 - 15mm, màu nâu đỏ. Ngực giữa, sau và các đốt bụng 1 - 8 có 4 gai nhánh.
Sâu màu đen, có gai ngắn trên thân mình, giữa lưng có các đốm nhỏ màu trắng rất
đặc biệt. Sâu có 5 tuổi, phát triển từ 15 – 19 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị
Sen, 2011).
Theo Roqaya and Mehmmady (2000), ấu trùng E. vittella mới nở sẽ di chuyển
vài giờ trước khi đục vào vỏ quả. Ấu trùng hoạt động rất khó phát hiện trên bề mặt
vỏ đậu bắp. Khi ấu trùng tuổi cuối phát triển đạt kích thước tối đa chúng bắt đầu
nhả tơ làm kén để hóa nhộng (kết thúc giai đoạn ấu trùng). Thời gian dài nhất của
Theo Nitin Thodsare et al. (2013) cho biết, loài E. vittella thuộc họ ngài đêm,
chiều rộng sải cánh dài 25 mm và có băng hẹp, màu xanh sáng chạy dọc ở giữa
cánh trước. Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003) và Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho
rằng, trưởng thành dài 9 - 13 mm, sải cánh rộng 20 - 26 mm. Giữa mặt lưng ngực
trước có một vệt màu trắng. Từ gốc cánh đến mép ngoài cánh trước có một vệt màu
xanh lá cây hình tam giác. Cánh sau màu trắng bạc. Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv.
(2012) cánh trước có màu trắng ngà, ở giữa có vạch màu xanh lục hình rẻ quạt dài
10 - 13 mm, sải cánh rộng 20 - 24 mm. Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen
(2011) cho rằng thành trùng là loài bướm nhỏ, dài từ 10 - 12 mm. Giữa ngực có một
chùm lông màu vàng nâu. Cánh trước màu vàng nhạt, có một sọc to chạy từ chân
cánh ra đến đầu cánh hình tam giác, màu xanh lá cây. Cuối cánh sau có rìa lông
màu nâu. Thời gian sống của bướm từ 7 - 10 ngày.
Theo Roqaya and Mehmmady (2000) nhận định, số lượng bướm xuất hiện từ
nhộng vũ hóa qua các tháng thì khác nhau trong một năm. Có thể thấy rằng số
lượng bướm đực nhiều hơn bướm cái trong tháng 8, ngược lại bướm cái nhiều hơn
bướm đực trong tháng 9, tháng 3 và tháng 7 nhưng số lượng này bằng nhau trong
tháng 5. Tuổi thọ của thành trùng đực và cái tương quan với nhiệt độ. Thành trùng
sống lâu nhất khoảng 23,77 và 22,54 ngày trong tháng 1 và tháng 3 và ngắn nhất là
12,42 và 14 ngày trong tháng 8. Sự phụ thuộc của thời gian thành trùng vào nhiệt độ
là yếu tố quan trọng. Vì nó cho thấy rằng, bướm cái nuôi ở điều kiện nhiệt độ
24,5
0
C sẽ sống lâu hơn và có thời gian sinh sản dài hơn những bướm cái được nuôi
ở nhiệt độ cao (32,6
0
C).
Thành trùng cái chưa bắt cặp sống lâu hơn những thành trùng cái đã bắt cặp.
Trong điều kiện 24,5
0
C và ẩm độ 59%, tuổi thọ trung bình của thành trùng cái đã
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho biết, bướm thường đẻ trứng vào các
phần non của cây như phần ngọn, búp đầu cành, tai nụ, quả non đặc biệt là thích
đẻ trứng vào các bộ phận cây có nhiều lông. Những cây bông vải xanh tốt, rậm rạp
thường hấp dẫn bướm đến đẻ trứng nên bị hại nặng. Trưởng thành có xu tính ánh
sáng yếu.
Sâu non khi mới nở đục phần mềm của lá búp thứ nhất ăn biểu bì làm lá ngọn
héo, cành héo, khi cây bông vải có nụ thì làm nụ héo, rụng nụ, rụng đài. Sâu non từ
tuổi 1 - 3 hoạt động mạnh, di chuyển nhiều nhất, gây tác hại nghiêm trọng. Từ tuổi
3 trở đi sâu đục quả non, ăn xơ và hạt làm cho quả bông chín sớm, kém phẩm chất.
sâu ăn hết quả này chuyển sang ăn quả khác. Sâu có thể gây hại 1 - 2 quả. Khi đẫy
sức sâu bò ra khỏi bộ phận bị hại kéo kén hóa nhộng. Nhộng có thể làm tại bao lá,
nụ, có khi ở lá khô, vỏ quả, đôi khi hóa nhộng ngay trên mặt đất (Nguyễn Đức
Khiêm, 2006).
Theo Tripathi and Singh (1990), mật số thành trùng cao làm giảm khả năng
sinh sản của bướm nhưng mật số trứng lại không ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng nở. Bên
cạnh đó, mật độ cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại của ấu trùng E. vittella. Nếu mật số
ấu trùng càng cao thì tỷ lệ sống sót, trọng lượng ấu trùng và nhộng càng giảm.
Vòng đời của sâu loang từ 25 - 60 ngày. Nhiệt độ thích hợp cho sâu phát triển
18
- 26
0
C. Trong năm có 11 - 12 thế hệ, 6 thế hệ hại bông vải vụ Đông Xuân
(Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
1.2.8. Biện pháp phòng trị
Biện pháp canh tác
Cày sâu để lộ nhộng dưới đất. Tránh sử dụng phân đạm vào giai đoạn sinh sản.
Sử dụng giống kháng. Nhổ và đốt bỏ cây khi mật số ấu trùng đạt đến đỉnh cao và
phá hại nghiêm trọng. Không kéo dài thời gian cây trồng. Thu gom và tiêu hủy các
dư thừa thực vật trước khi gieo trồng. Thu và tiêu huỷ quả bị nhiễm sâu bệnh
và long não, eugenol và camphene có khả năng xua đuổi cả ấu trùng và thành trùng
E. vittella. Các loại dầu khác như dâu tây và d-limonene là hấp dẫn đối với cả ấu
trùng và thành trùng E. vittella. Eugenol và dầu bạc hà, mỗi loại với nồng độ 0,01%
gây ra sự suy giảm đáng kể khả năng sinh sản của bướm và giảm tỷ lệ trứng nở.
Dầu eugenol hiệu quả hơn nhiều so với tinh dầu bạc hà ở mức 1%. Sử dụng bột khô
của Allium cepa (hành tây), Curcuma longa (nghệ), Colocasia antiqurum (khoai
môn), Ocimum basilicum (húng quế). Dodonaea viscose (loài thực vật thuộc họ Bồ
hòn) và Thuja orientalis (thu li) có tác dụng đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nở trứng
của E. vittella. Hiệu quả nhất được thể hiện ở bột của D. viscose và A. cepa, có tác
dụng làm giảm nhiều nhất tỷ lệ nở của trứng. Chiết xuất ethanol của Iphiona scabra
(thực vật có hoa họ cúc) gây ra sự ức chế tối đa tỷ lệ trứng nở, tiếp theo là C. longa
(nghệ).
Theo Gajmer et al. (2002) cho rằng, bướm không đẻ trứng khi cho ăn với chế
độ ăn có chứa đường sucrose, 10% chiết xuất cây neem và 10% chiết xuất cây xoan.
Chiết xuất methanol từ cây neem (Azadirachta indica) và cây xoan (Melia
9
azedarach) có khả năng làm giảm sự đẻ trứng của loài E. vittella và giảm tỷ lệ trứng
nở.
1.3. MỘT SỐ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ĐẬU BẮP
1.3.1. Rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant
Rầy xanh hai chấm có tên khoa học là Amrasca devastans Distant, Họ
Cicadellidae, Bộ Homoptera. Loài rầy này được thấy trên cây thầu dầu, thục quỳ, cà
gai, khoai tây, kê náp, hướng dương. Tại các vùng bông phía Nam, ngoài cây bông,
rầy xanh hai chấm còn tìm thấy trên 8 loài cây trồng và cây dại khác. Trong đó, đậu
bắp, ké hoa đào, bịp giấm, cà pháo, cà gai là ký chủ chính của rầy xanh hai chấm
(Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012).
Thành trùng màu xanh lục hơi ngả vàng, 2 chân sau dài, đốt chày chân sau có
2 hàng gai nhọn. Thời gan sống của thành trùng từ 10 - 15 ngày, thành trùng cái đẻ
khoảng 200 trứng. Trứng màu trắng bóng, hình hạt gạo rất nhỏ, đẻ rải rác trong gân
Nhộng giả hình bầu dục, màu sáng, có một số lông thưa sắp xếp 2 bên sườn, phía
sau lỗ hậu môn có rãnh mông (Lê Thị Sen, 1999).
Theo Lê Thị Sen (1999) cho rằng, trưởng thành ban ngày đậu ở mặt dưới lá và
hoạt động rất linh hoạt. Khi trời nắng to hoặc trời mưa, trưởng thành thường nấp
dưới những lá gần mặt đất và những nơi rậm rạp. Trưởng thành không có khả năng
bay xa nhưng nhờ gió to nó có thể phát tán đi rất xa. Rầy phấn trắng còn là môi giới
truyền bệnh khảm cho cây (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003). Vòng đời của rầy phấn
trắng khoảng 35 - 54 ngày (tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ) nhiệt độ thích hợp từ 18 -
33
0
C, độ ẩm từ 90 - 95% (Phạm Thị Nhất, 2001).
Sử dụng bẫy dính màu vàng để diệt trừ rầy phấn trắng khi mật số còn thấp,
dùng giống kháng rầy phấn trắng. Luân canh với những cây không phải là ký chủ
của rầy phấn trắng. Diệt sạch cỏ dại xung quanh ruộng. Bảo vệ và sử dụng thiên
địch tự nhiên của rầy phấn trắng như tại Mỹ sử dụng một số loài ký sinh rầy phấn
trắng như loài ong ký sinh Encarsia luteola, Encarsia formosa và loài nấm ký sinh
Verticillium lecanii. Có thể sử dụng một số loại thuốc trừ sâu theo nồng độ khuyến
cáo như Bifenthrin, Buprofezin, Imidacloprid, Fenpropathrin, Endosulfan (Lê Thị
Sen, 1999).
1.3.3. Rệp sáp Phenacoccus solenopsis
Rệp sáp Phenacoccus solenopsis thuộc Họ Pseudococcidae, Bộ Homoptera.
Đây là loài đa ký chủ, gây hại trên 200 loài thực vật thuộc 60 họ. Đặc biệt là họ
Cúc, Euphorbiaceae, Fabaceae, Malvaceae và Solanaceae. Ở Anh, rệp sáp tấn
công trên cả măng tây, ớt, cà chua, cà tím, khoai tây, nho và nhiều loại cây trồng
khác (Nitin Thodsare et al., 2013).
Rệp cái trưởng thành có cơ thể hình bầu dục hơi dài, trên lưng bao phủ nhiều
bột sáp trắng. Giữa lưng có một vệt sáp dày và dài từ ngực đến cuối bụng, 2 bên vệt
sáp là 2 vệt màu đen hay nâu đen. Trên lưng đốt ngực, vệt đen bị bột sáp che khuất
chỉ còn lại 2 đốm đen. Xung quanh cơ thể xuất hiện 18 cặp tua sáp ngắn, các cặp tua
cuối bụng dài và to hơn cặp tua hai bên bụng và đầu. Trứng có màu vàng hơi nâu và
lông. Con đực có cơ thể thon nhỏ, cuối bụng nhọn, cơ thể màu đỏ vàng. Đoạn thắt
lại của dương cụ có chiều dài bằng chiều rộng, phía ngoài vát chéo, phía trong tù
hay hơi tròn.
Trứng hình cầu, trơn nhẵn, màu vàng nhạt, khi sắp nở có màu hơi nâu, đẻ rải
rác từng quả. Nhện non tuổi 1 có màu trắng ngà, hình bầu dục, có 3 đôi chân, trên
thân có nhiều lông dài. Nhện non tuổi 2 có 4 đôi chân, màu vàng nhạt, có nhiều lông
dài. Nhện non tuổi 3 rất giống trưởng thành tuy kích thước nhỏ hơn. Màu vàng rơm
hoặc vàng đậm, bắt đầu xuất hiện 2 đốm hơi nâu hoặc đỏ nhạt trên lưng (Nguyễn
Văn Đĩnh, 2004). Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003), nhện đẻ rải rác từng trứng ở
mặt dưới lá. Vòng đời của nhện đỏ từ 8,8 - 9,8 ngày. Một năm có thể từ 20 - 25 thế
hệ.
Nhện non và trưởng thành sống ở mặt dưới lá, cạnh gân chính lá bánh tẻ và lá
già, tạo nên các màng tơ chằng chịt. Nhện dùng kim chích vào mô lá tạo nên các vết
chích nhỏ li ti không có hình dạng nhất định. Vết chích ban đầu có màu trắng nhạt
sau đó chuyển sang màu trắng vàng. Khi mật độ nhện cao, các vết hại liên kết vào
nhau tạo thành mảng trắng vàng, nếu gặp trời mưa hoặc gió mạnh chỗ gây hại bị
thủng, sau một thời gian lá bị rụng. Khi mật độ cao nhện gây hại trên cả lá non và
ngọn cây, tạo nên lớp tơ dày bao kín toàn bộ lá và ngọn. Cây bị hại còi cọc, không
ra hoa, đậu trái được. Chúng thường gây hại nặng khi thời tiết nóng và khô hạn
(Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003).
Sử dụng các loại thuốc trừ nhện có tính chọn lọc cao, phân hủy nhanh, ít độc
với môi trường. Ngưỡng phòng trừ là 4 - 6 nhện/lá. Một số loại thuốc có tác dụng
trừ nhện đỏ là Vertimec 1,8EC, Comite 73EC, Nissorun 5SC, Danitol 50EC,
Pegasus 500SC Phun thuốc theo nồng độ khuyến cáo phải ướt đều hai mặt lá. Lợi
dụng nhện bắt mồi hiện diện cùng với quần thể nhện hại để hạn chế số lượng nhện
đỏ (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003).
1.3.5. Rầy mềm Aphis gossypii Glover
Rầy mềm Aphis gossypii Glover thuộc Họ Aphididae, Bộ Homoptera. Đây là
loài có phân bố rộng và đa kí chủ, tấn công nhiều loại rau màu như cà chua, thuốc
lá, bầu bí dưa, ớt (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
gây hại phổ biến trên bông, đậu bắp, thục quỳ, dâm bụt (Sahayaraj et al., 2012).
Loài này thường xuất hiện ở Châu Phi, Ấn Độ, châu Úc và châu Mỹ trên cây thuộc
họ Malvaceae, Bombaceae, Sterculiaceae (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
2011).
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), thành trùng có chiều dài cơ
thể từ 17 - 20 mm, chân và râu rất dài, màu đỏ tươi, cánh trước có một đốm đen to
và 1 đốm hình bầu dục giữa cánh cũng màu đen. Bụng có nhiều sọc trắng ngang
trên các đốt. Thời gian sống của thành trùng đực từ 7 - 15 ngày, thành trùng cái từ 7
- 30 ngày và một thành trùng cái đẻ khoảng 100 trứng ở trên mặt đất ngay phía dưới
cây kí chủ.
Trứng hình bầu dục, màu vàng. Thời gian ủ trứng khoảng 6 ngày. Ẩm độ rất
cần thiết cho trứng phát triển. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 25 -
27 ngày. Ấu trùng tuổi 1 không ăn và thường tập trung quanh ổ trứng. Từ tuổi 2 trở
đi ấu trùng mới phân tán đi tìm trái và hạt để chích hút (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê
Thị Sen, 2011).
Bọ xít tấn công trên trái từ khi còn non đến chín. Nếu cây chưa có trái, bọ xít
tập trung chích hút trên các phần non của cây (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,