NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM
MAI TRUNG THẮNG
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
VÀ TÍNH ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA BỌ RÙA
GÂY HẠI TRÊN DƯA, BẦU, BÍ, CÀ TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
VÀ TÍNH ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA BỌ RÙA
GÂY HẠI TRÊN DƯA, BẦU, BÍ, CÀ TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
Cán bộ hướng dẫn:
ThS. PHẠM KIM SƠN
Sinh viên thực hiện :
Nguyễn Thị Hồng Thắm 3103683
Mai Trung Thắng 3103686
Lớp: BVTV K36
Cần Thơ_2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật, với đề tài:
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ TÍNH ƯA THÍCH KÝ
CHỦ CỦA BỌ RÙA GÂY HẠI TRÊN DƯA, BẦU, BÍ, CÀ
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
Do sinh viên Nguyễn Thị Hồng Thắm và Mai Trung Thắng thực hiện và bảo vệ
trước hội đồng.
Ý kiến của hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận
văn nào trước đây.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Thắm Mai Trung Thắng
nghiên cứu.
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng
dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học.
Chân thành cám ơn!
- Bạn Công Hưởng, Thu Ba, Xuân Mai các bạn lớp Bảo vệ thực vật khóa 36
đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Thân gửi về!
Các bạn lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 36 những lời chúc sức khỏe và thành đạt
trong tương lai.
Nguyễn Thị Hồng Thắm Mai Trung Thắng TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng Thắm
Ngày, tháng, năm sinh: 09/1992
Nơi sinh: Mỹ Lạc - Thủ Thừa - Long An
Họ và tên cha: Nguyễn Thanh Hoàng
Họ và tên mẹ: Phùng Thị Phượng
Địa chỉ liên lạc: 3/406D,ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Lạc, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
Quá trình học tập:
Năm 1998 – 2003: học cấp 1, tại trường Tiểu hoc Mỹ Lạc A
Năm 2003 – 2007: học cấp 2, tại trường THCS Mỹ Thạnh
Năm 2007 – 2010: học cấp 3, tại trường THCS&THPT Mỹ Lạc
Năm 2010 - 2013: sinh viên ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa 36, khoa Nông nghiệp &
SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ.
vòng đời trung bình là 32,53 + 3,71 ngày, còn bọ rùa 28 chấm là 30,23 + 1,22 ngày,
thành trùng cái của cả 2 loài đều có thời gian sống và phát triển lâu hơn thành trùng
đực. Thành trùng đực và thành trùng cái của bọ rùa 12 chấm và bọ rùa 28 chấm đều
có kiểu biến thái hoàn toàn gồm 4 giai đoạn phát triển là trứng, ấu trùng (có 4 tuổi),
nhộng và thành trùng.
Ấu trùng của cả hai loài bọ rùa đều có bốn tuổi, thời gian phát triển của mỗi
tuổi ấu trùng dao động từ 2 – 6 ngày. Giai đoạn nhộng của bọ rùa 12 chấm có thời
gian trung bình là 4,70 + 0,65 ngày tương đương với bọ rùa 28 chấm với thời gian
là 4,77 + 0,43 ngày và hình thành ở mặt dưới lá. Thành trùng thuộc bộ cánh cứng
(Coleoptera) mặt lưng cơ thể hình bán cầu, có màu nâu đỏ, ngực trước và cánh có
màu nâu. Thành trùng bọ rùa 28 chấm đều có kích thước lớn hơn thành trùng bọ rùa
12 chấm. Thành trùng cái của bọ rùa 28 chấm có kích thước lớn hơn thành trùng
đực và bọ rùa 12 chấm tương tự. Tổng số trứng mà bọ rùa 28 chấm đẻ trung bình là
684,6 + 244,17 trứng. Bọ rùa 12 chấm đẻ được là 552,87 + 162,04 trứng.
Đối với cả hai loài bọ rùa, khả năng tiêu thụ thức ăn của thành trùng cái
nhiều hơn thành trùng đực. Riêng bọ rùa 12 chấm thích ăn nhất là lá cà phổi, kế tiếp
là lá dưa gang, bí rợ; còn bọ rùa 28 chấm thích ăn nhất là lá dưa gang, kế đó là lá bí
rợ, mướp. Cả hai loài đều không thích ăn lá khổ qua. Bên cạnh đó, bọ rùa 28 chấm
cũng không thích ăn lá cà phổi, bọ rùa 12 chấm thì không thích ăn lá bầu, dưa hấu.
ii
MỤC LỤC
Trang
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
thí nghiệm 13
2.2.2 Khảo sát khả năng ăn trên một số loại ký chủ của bọ rùa 12 chấm
(Epilachna dodecastigma) và 28 chấm (Epilachna vigintioctopunctata) trong
điều kiện phòng thí nghiệm 16
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA BỌ RÙA 12 CHẤM (Epilachna
dodecastigma) VÀ BỌ RÙA 28 CHẤM (Epilachna vigintioctopunctata) 20
3.1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ rùa 12 chấm Epilachna
dodecastigma 20
3.1.1.1 Trứng 23
3.1.1.2 Ấu trùng 23
3.1.1.3 Nhộng 25
3.1.1.4 Thành trùng 27
3.1.1.5 Triệu chứng và cách gây hại của bọ rùa 12 chấm 30
3.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ rùa 28 chấm (Epilachna
vigintioctopunctata) 31
3.1.2.1 Trứng 34
3.1.2.2 Ấu trùng 35
3.1.2.3 Nhộng 36
3.1.2.4 Thành trùng 37
3.1.2.5 Triệu chứng và cách gây hại của bọ rùa 28 chấm 40
3.2 KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ĂN CỦA THÀNH TRÙNG BỌ RÙA 12 CHẤM
Epilachna dodecastigma, 28 CHẤM Epilachna vigintioctopunctata TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM 42
3.2.1 Khảo sát tính ưa thích ký chủ của thành trùng bọ rùa 12 chấm Epilachna
dodecastigma, 28 chấm Epilachna vigintioctopunctata trong điều kiện phòng
thí nghiệm 42
3.2.1.1 Khảo sát tính ưa thích ký chủ của thành trùng bọ rùa 12 chấm
Epilachna dodecastigma trong điều kiện phòng thí nghiệm 42
iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Các loại lá làm thức ăn khảo sát tính ưa thích của bọ rùa 12
chấm và 28 chấm
17
3.1
Thời gian phát triển qua các giai đoạn của bọ rùa 12 chấm trong
phòng thí nghiệm
20
3.2
Kích thước (mm) các giai đoạn phát triển của bọ rùa 12 chấm
Epilachna dodecastigma
22
3.3
Giai đoạn trứng của bọ rùa 12 chấm Epilachna dodecastigma
23
3.4
Tỷ lệ (%) hóa nhộng của bọ rùa 12 chấm Epilachna
dodecastigma trong phòng thí nghiệm
26
3.5
Tỷ lệ (%) vũ hóa của bọ rùa 12 chấm Epilachna
dodecastigma trong phòng thí nghiệm
27
3.6
Khả năng sinh sản của thành trùng cái bọ rùa 12 chấm
3.13
Khả năng tiêu thụ thức ăn của thành trùng cái và đực bọ rùa
12 chấm trên các loại ký chủ khác nhau
42
3.14
Khả năng tiêu thụ thức ăn của thành trùng cái và đực bọ rùa
28 chấm trên các loại ký chủ khác nhau
45
3.15
Khả năng tiêu thụ thức ăn của thành trùng đực bọ rùa 28
chấm và bọ rùa 12 chấm trên các loại ký chủ khác nhau
49
3.16
Khả năng tiêu thụ thức ăn của thành trùng cái bọ rùa 28 chấm
và bọ rùa 12 chấm trên các loại ký chủ khác nhau
50
vii
27
3.5
Triệu chứng gây hại của bọ rùa 12 chấm Epilachna
dodecastigma
30
3.6
Vòng đời bọ rùa 28 chấm Epilachna vigintioctopunctata
32
3.7
Giai đoạn trứng của bọ rùa 28 chấm Epilachna
vigintioctopunctata
34
3.8
Ấu trùng bọ rùa lột xác sang tuổi kế tiếp và vỏ xác còn lại
35
3.9
Giai đoạn nhộng của bọ rùa 28 chấm Epilachna
vigintioctopunctata
36
3.10
Thành trùng đực bọ rùa 28 chấm Epilachna vigintioctopunctata
38
3.11
Triệu chứng gây hại của bọ rùa 28 chấm Epilachna
vigintioctopunctata
41
viii
Theo Rajgopal and Trivedi (1989), bọ rùa Epilachna có thể gây hại tới 80% các loại
cây trồng phụ thuộc vào từng nơi và mùa. Một trong những loài gây hại nghiêm
trọng trên họ bầu bí dưa là bọ rùa 12 chấm Epilachna dodecastigma và bọ rùa 28
chấm Epilachna vigintioctopunctata là loài gây hại nghiêm trọng trên bầu bí dưa
(Hossain et al., 2009). Sự tăng trưởng và phát triển của các loại cây trồng đang bị
cản trở rất nhiều do bọ rùa thường tấn công bằng cách cạp ăn trụi lá trên cây, làm
giảm diện tích quang hợp và khả năng sinh trưởng của cây trồng, nếu mật số cao có
thể tấn công tiếp phần ngọn, hoa và cuống trái và dẫn đến cây sơ xác giảm sức sống
và giảm năng suất giảm đáng kể, hiện nay có rất ít tài liệu nghiên cứu về 2 loại bọ
rùa này. Đây là loài gây hại hiện diện khá phổ biến trên các ruộng dưa bầu bí.
Trước tình hình đó, đề tài “Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và tính
ưa thích ký chủ của bọ rùa gây hại trên dưa, bầu, bí, cà trong điều kiện phòng
thí nghiệm” được thực hiện nhằm tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học và sự ưa
thích ký chủ của bọ rùa 12 chấm và 28 chấm gây hại trên cây trồng làm cơ sở tìm
biện pháp quản lý loài gây hại này có hiệu quả hơn và an toàn. 2
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SỰ PHÂN BỐ CỦA BỌ RÙA 12 CHẤM (Epilachna dodecastigma) VÀ 28
CHẤM (Epilachna vigintioctopunctata)
1.1.1 Tình hình thế giới
Bọ rùa 28 chấm gây hại nặng cho cây trồng tại Bangladesh, Ấn Độ, Trung
Quốc, Nhật Bản, Châu Á, Châu Đại Dương và ở phía Đông nước Úc (Richard,
1983). Phân bố phổ biến ở phương Đông và khu vực châu Úc, phạm vi hoạt động từ
Chúng phá hại trên các cây trồng như: khoai tây, củ cải đường, hướng dương, cà
chua, cà pháo, ớt, bầu, bí, mướp, dưa leo và rất nhiều cây dại thuộc họ cà
(Solanaceae), họ bầu bí (Cucurbitaccae).
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010), hai loài này gây hại khá phổ biến trên
mướp, dưa gang và dưa leo.
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), ngoài bầu, bí, dưa, loài bọ
rùa này còn tấn công cả cà, đậu bắp, ớt, các loại đậu.
Bọ rùa 12 chấm Epilachna dodecastigma thường gây hại trên cây cà chua, cà
tím, khoai tây, dưa, bầu bí, khổ qua, đậu. (www.lrc.ctu.edu.vn/pdoc/34/85-
bruaala.pdf).
1.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CÁCH GÂY HẠI VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ CỦA BỌ RÙA 12 CHẤM (Epilachna dodecastigma), 28
CHẤM (Epilachna vigintioctopunctata)
1.3.1 Bọ rùa 12 chấm (Epilachna dodecastigma)
1.3.1.1 Đặc điểm hình thái, sinh học
Giống Epilachna thuộc phân họ Epilachninae, phân họ này gồm chủ yếu
những loài bọ rùa ăn thực vật. Mặc dù, thành trùng trông giống nhiều loài bọ rùa
thiên địch như cơ thể hình bán cầu, trên cánh cứng có nhiều đốm, nhưng nhóm này
có thể phân biệt dễ dàng với nhóm bọ rùa thiên địch do cánh cứng của nhóm này
được phủ nhiều lông nhỏ (Kalshoven, 1881).
Trứng
Cũng theo Kalshoven (1881), giống như nhiều nhóm bọ rùa thiên địch, bọ
rùa ăn thực vật cũng đẻ trứng thành từng đám, trứng dựng thẳng trên mặt lá. Trong
điều kiện khí hậu lạnh của đồi núi, thành trùng có thể sống 3 hoặc trên 3 tháng, tùy
theo điều kiện thức ăn. Trong thời gian này, con cái có thể đẻ đến 800 trứng trong
vòng 30 ngày.
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010), trứng hình thon, nhọn hai đầu, màu vàng,
được đẻ thành từng khối, xếp thẳng đứng mặt dưới lá.
Trứng hình bầu dục, màu vàng, đẻ ở mặt dưới lá, xếp liền nhau thành từng ổ
10 – 20 trứng (www.lrc.ctu.edu.vn/pdoc/34/85-bruaala.pdf).
thực vật cũng đẻ trứng thành từng đám, trứng dựng thẳng trên mặt lá. Thành trùng
có khả năng bay rất xa, trong điều kiện khí hậu lạnh của đồi núi, thành trùng có thể
sống 3 hoặc trên 3 tháng, tùy theo điều kiện thức ăn. Trong thời gian này, con cái có
thể đẻ đến 800 trứng trong vòng 30 ngày.
Bọ rùa trưởng thành và ấu trùng thường sống chung với nhau, đều gây hại. Bọ
rùa trưởng thành hoạt động ban ngày, nhất là sáng sớm hoặc chiều mát, có tính giả
chết khi gặp động, một con cái đẻ 200 – 300 trứng.
Ấu trùng mới nở, thời gian đầu sống tập trung, sau đó phân theo từng nhóm,
ăn biểu bì, mô mềm ở mặt dưới lá, để lại màng mỏng. Càng lớn càng ăn mạnh, có
thể ăn hết từng mảng lá làm cây sinh trưởng kém, ruộng rau xơ xác. Khi mật số cao,
chúng có thể ăn trụi hết lá những cây còn nhỏ, trong vườn ươm cây khó phục hồi,
có thể chết, nhất là cây con.
5
Ấu trùng và trưởng thành ăn biểu bì lá, để lại màng mỏng.
Lá có thể bị ăn trơ trụi chỉ còn gân chính. Bọ rùa còn ăn trái non, có thể phát
hiện những lỗ nông trên bề mặt trái (www.lrc.ctu.edu.vn/pdoc/34/85-bruaala.pdf).
1.3.1.2 Biện pháp quản lý và cách phòng trị
Trồng xen canh với cây họ hoa thập tự.
Nhặt bỏ lá bị hại và lá có nhộng bám, bắt giết ấu trùng và bọ trưởng thành.
Vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt ký chủ phụ, thu dọn tàn dư thực vật, phơi và
đốt bỏ.
Khi cần thiết có thể dùng thuốc để phun trừ.
(www.lrc.ctu.edu.vn/pdoc/34/85-bruaala.pdf).
1.3.2 Bọ rùa 28 chấm (Epilachna vigintioctopunctata)
1.3.2.1 Đặc điểm hình thái, sinh học
Trứng
Theo Shepard et al., (1999), giai đoạn trứng của Epilachna
vigintioctopunctata kéo dài khoảng 2 – 4 ngày.
Theo Phạm Thị Nhất (2001), sau khi đẻ khoảng 2 – 4 ngày, trứng sẽ nở.
hóa. Nhộng có chiều dài từ 5 - 6 mm, rộng từ 3 đến 4 mm. Nhộng phát triển trong
thời gian từ 2 - 7 ngày và thường được hình thành ở mặt dưới lá. Trước khi làm
nhộng 1 ngày, ấu trùng nằm bất động, không ăn phá và màu sắc có thay đổi chút ít,
từ vàng chuyển sang vàng nhạt. Ấu trùng gắn phần cuối bụng vào lá cây xong lột
xác lần cuối để thành nhộng. Trên mình nhộng có vài điểm đen, trong đó hai đốm
đen ở đầu nhộng rất rõ, phần cuối nhộng có phủ một lớp gai.
Theo Shepard et al., (1999), ấu trùng cũng hoá nhộng ngay trên lá.
Thành trùng
Theo Hoàng Đức Nhuận (1983), thành trùng dạng hình trứng, ngắn, gồ cao,
màu nâu hung. Đầu bao gồm cả râu đầu và phần phụ miệng màu nâu đỏ. Mãnh lưng
ngực trước nâu vàng đến nâu đậm. Cánh cứng có nhiều chấm đen, nhiều nhất là 14
chấm trên mỗi cánh. Mặt lưng phủ lông xám bạc, trên các chấm đen phủ lông đen.
Mặt dưới cơ thể màu nâu đỏ. Hai bên tấm ngực sau có thể xám đen tới đen, phần
giữa bụng cũng vậy. Đốt bụng cuối của con cái xẻ đôi, con đực hơi lẹm giữa bờ sau.
Thành trùng cái: có mãnh sinh dục hình thận, rốn lõm nằm vào khoảng một phần
năm tới hai phần năm chiều dài tính từ trên xuống. Thành trùng đực: phần máng
giữa nhìn nghiêng có bờ bụng thẳng tới hai phần ba rồi vát về phía lưng, phần đỉnh
hơi cong vào với một móc rất nhỏ ở đỉnh, bờ lưng lượn sóng hai lần, đường cong ở
phần góc nhỏ cao, còn ở phần đỉnh chỉ hơi nhỏ; gần đỉnh có một hai túm lông vàng
nâu.
Theo Shepard et al., (1999), thành trùng vũ hóa trong khoảng 4-6 ngày sau
khi hóa nhộng.
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010), thành trùng có màu đỏ nâu, có 28 chấm
đen trên cánh. Kích thước cơ thể khá lớn so với nhiều loài bọ rùa dài 5- 7,5 mm;
rộng 5-6 mm. Đầu thường thụt vào dưới mãnh lưng ngực trước nên phần sau của
7
mắt thường bị che phủ. Râu đầu 11 đốt. Đốt gốc râu thường to và dài hơn hai lần
đốt thứ hai, đốt thứ ba mảnh và dài hơn đốt thứ hai. Cánh trước có nhiều lông nhỏ
vì vậy thành trùng không có màu sắc tươi sáng như đa số các loài bọ rùa thuộc
8
(
Biện pháp sinh học
Theo Rajagopal and Trivedi (1989), tại Ấn Độ thì Aspergillus flavus và vi
khuẩn Bacillus thuringiensis có khả năng kiểm soát bọ rùa ở các giai đoạn
khác nhau. Bên cạnh đó, có loài Rhinocoris fuscipes cũng là thiên địch, hút
dịch của ấu trùng bọ rùa.
Dịch ly trích từ cây thầu dầu và cà độc dược cũng có khả năng giảm quần thể
dịch hại bằng việc làm giảm khả năng đẻ trứng, thời gian trứng nở cũng như
kéo dài thời gian hóa nhộng của loài này.
Sử dụng các loài ong kí sinh và các nhóm côn trùng ăn thịt để tiêu diệt ấu
trùng bọ rùa.
(o/bd/index.php/JLES/article/view/9725).
Biện pháp hóa học
Có thể sử dụng các loại thuốc hóa học khi thật sự cần thiết và có sự lựa chọn
hợp lí giữa các loại thuốc.
Sau đây là một số loại thuốc thường được sử dụng: Sherpa 25EC, Dragon
585EC, Polytrin P 440EC, Lorsban 40EC, Carmethin10EC và 25EC, Ace
5EC, Annitox 50SC, Catodan 18SL và 90WP
(
Sự kết hợp giữa biện pháp sinh học và hóa học
Theo Rajagopal and Trivedi (1989), kết hợp từ 0 – 5% carbaryl + mật đường
và quinalphos, phun xịt có hiệu quả trong 20 ngày.
50
có giá trị cao ở ấu trùng tuổi 3
và thấp nhất là trên ấu trùng tuổi 1. Các chỉ số LT
50
tăng tương ứng với sự gia tăng
của tuổi ấu trùng và nồng độ dầu giảm so với tuổi. Dầu neem kéo dài đáng kể giai
đoạn ấu trùng, nhộng và một số giai đoạn ấu trùng không phát triển đến giai đoạn
nhộng. Từ giai đoạn nhộng đến vũ hóa thành thành trùng giảm đáng kể do giai đoạn
ấu trùng bị ảnh hưởng bởi dầu neem. Ngoài ra, dầu neem cũng làm giảm khả năng
tiêu thụ thức ăn của bọ rùa này bằng cách ngăn chặn thức ăn.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nupur Sarkar et al., (2013), về các axit béo là
chất hấp dẫn có trong lá mướp đắng thu hút loài bọ rùa 12 chấm (Epilachna
dodecastigma). Kết quả thu được, trong 200 μg/ml axit béo của lá già có các axit
10
palmitic, axit stearic, axit oleic, axit linoleic và axit alpha-linolenic tương ứng là
58,24; 13,96; 29,40; 30,31 và 29,76 μg. Trong 200 μg/ml axit béo của lá trưởng
thành có các axit palmitic, stearic, axit oleic, linoleic và alpha-linolenic tương ứng
là 79,13; 10,57; 29,40; 30,31 và 36,33 μg. Trong 200 μg/ml axit béo của lá non có
các axit béo palmitic , axit stearic và alpha-linolenic tương ứng là 116,49 μg, 13,96
μg và 29,76 μg, phục vụ như là chất hấp dẫn cho bọ rùa 12 chấm E. dodecastigma.
Ngoài ra, theo Tripathi et al,. (1991), ở bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, cho thấy
quần thể bọ rùa 12 chấm Epilachna dodecastigma trên cây mướp hương (Luffa
cylindrica) tăng lên ở thế hệ thứ 1 và thế hệ thứ 2 và giảm ở thế hệ thứ 3 và thứ 4.
1.4.2 Nghiên cứu về bọ rùa 28 chấm Epilachna vigintioctopunctata
Đặc điểm hình thái, sinh học trên một loại ký chủ
Theo Deshmukh et al., (2012), kết quả nghiên cứu vòng đời của bọ rùa 28
chấm Epilachna viginctioctopunctata trên khổ qua có 4 giai đoạn khác nhau: trứng,
ấu trùng, nhộng và thành trùng. Trong đó, trứng có màu vàng nhạt, có từ 16 – 40
trứng trên 1 ổ trứng, và gắn theo chiều dọc trên lá gần gân chính của lá. Trứng được