NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM, HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI MỌT BỘT ĐỎ Ở CÁC TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG CHÚNG BẰNG BIỆN PHÁP SINH HỌC - Pdf 31

Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học nông nghiệp I
-------------------

Hà Thanh Hơng
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học v sinh thái học
của loi mọt bột đỏ
Tribolium castaneum
Herbst
ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
v khả năng phòng chống chúng bằng biện pháp sinh học Chuyên ngành: Bệnh cây và Bảo vệ thực vật
Mã số: 4.01.16 tóm tắt Luận án tiến sĩ nông nghiệp


- Th viện Trờng Đại học Nông nghiệp I
- Th viện Quốc gia - Hà Nội
- Th viện Cục Bảo vệ thực vật
các công trình đã công bố liên quan đến luận án

1 Huong Ha Thanh (2001), "Parasitic Wasps on Sitophilus oryzae L.
(Coleoptera: Curculionidae) and other insects in stored rice in Gia
Lam, Hanoi, Vietnam", Proceeding Biological Control, Norway
2 Hà Thanh Hơng và cộng sự (2004), "Thành phần côn trùng, nhện
trong kho và tần suất xuất hiện của quần thể mọt bột đỏ (Tribolium
castaneum Herbst) tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (2000-
2001)", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Trờng Đại học
Nông nghiệp I, tập II, (số 1/2004), xởng in trờng Đại học Nông
nghiệp I, trang 23-29.
3 Hà Thanh Hơng, Nguyễn Viết Tùng và cộng sự (2004), "Nghiên
cứu bớc đầu về loài bọ xít bắt mồi Xylocoris (Arrostelus) flavipes
(Reuter, 1875) (Hemiptera: Anthocoridae) thiên địch của mọt bột đỏ
Tribolium castaneum Herbst", Tạp chí Bảo vệ thực vật, (số 2/2004),
Xí nghiệp in Thủy lợi, trang 24-30
4 Hà Thanh Hơng, Nguyễn Viết Tùng (2005), Nghiên cứu một số
đặc điểm hình thái, sinh vật học của quần thể mọt bột đỏ (Tribolium
castaneum Herbst) thu tại một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, Báo
cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc, (lần thứ 5), 11-
12/04/2005, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà nội, trang 391-398.
5 Tu Duong Minh, Bui Thi Tuyet Nhung, Nguyen Anh Tuyet, Ha
Thanh Huong at all (2006), Detection of phosphine resistance of
some major stored product insects in Vietnam, The Final meeting

Loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst (Coleoptera:
Tenebrionidae) là một trong những dịch hại chính trên các sản phẩm
nông nghiệp bảo quản trong kho, tần suất xuất hiện của mọt bột đỏ cao
nhất chiếm 40,40% khi điều tra kho ở Indonesia (Haines C.P., 1997)[88]
và tổn thất về trọng lợng do loài này gây ra là khá lớn 29,5% và 39,2%
trong 4,5 tháng bảo quản (Adesuyi, 1980) (CABI, 1999)[67].
Khả năng hình thành các quần thể khác nhau ở nhóm côn trùng hại
kho nói chung, mọt bột đỏ nói riêng đã có một số biểu hiện cho thấy
quần thể loài mọt này ở một số địa phơng khác nhau có những dấu hiệu,
đặc điểm không hoàn toàn đồng nhất về mặt hình thái, sinh học.
Vấn đề đợc đặt ra là liệu giữa các quần thể này có sự khác biệt nào
đó về đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học. Những hiểu biết này
rất cần thiết khi phân tích nguy cơ dịch hại đối với loài mọt bột đỏ trong
bối cảnh mới, Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thơng
mại thế giới (WTO). Bên cạnh đó, phải tìm kiếm thêm khả năng phòng
chống loài mọt này bằng biện pháp sinh học
Xuất phát từ các vấn đề khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học
và sinh thái học của loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở
một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và khả năng phòng chống chúng
bằng biện pháp sinh học.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Trên cơ sở hiểu biết hệ thống và cập nhật về đặc điểm hình thái, sinh
học, sinh thái học của loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở

2
miền Bắc nớc ta, góp phần đề xuất biện pháp quản lý đối tợng dịch hại
này một cách hiệu quả và an toàn, phục vụ cho công tác kiểm dịch thực
vật ở Việt Nam.

o
C (6,86
trứng/ngày; tổng số trung bình 446,20 trứng/đời) là cao hơn so
với ở 25
o
C (5,66 trứng/ngày; tổng số trung bình 368,2
trứng/đời); đối với pha sâu non của mọt bột đỏ là nh nhau ở
25
o
C và 30
o
C.
7. Hiệu quả của bọ xít bắt mồi X. flavipes trong điều kiện thí nghiệm
phòng chống mọt bột đỏ:
- ở quy mô nhỏ bọ xít bắt mồi bắt đầu thể hiện hiệu quả phòng
chống sinh học đối với mọt bột đỏ. Chúng có khả năng kìm hãm
số lợng mọt bột đỏ ngay từ đầu trên 2 loại thức ăn là lúa mì và
gạo;
- ở quy mô lớn hơn khả năng kìm hãm số lợng mọt bột đỏ của
bọ xít bắt mồi cao nhất trên lúa mì tại tất cả các thời điểm kiểm
tra sau thí nghiệm, đặc biệt thời điểm sau 8 tuần thí nghiệm, bọ
xít bắt mồi có thể làm giảm số lợng mọt bột đỏ lần lợt là
25,26% (đối với ngô vỡ); 73,64% (đối với gạo) và 90,18% (đối
với lúa mì);
- Trong điều kiện ngăn kho bảo quản, hiệu quả phòng chống sinh
học đạt 93,45% đối với gạo không tấm và chỉ đạt 65,49% đối
với gạo có 15-20% tấm.
8. Thử nghiệm quy trình nhân nuôi 05 cặp bọ xít trởng thành trong
phòng thí nghiệm trên 3 loại thức ăn, trong điều kiện nhệt độ trung
bình là 21,53

27,5
o
C ẩm độ trung bình 85,5%).
- Sức tiêu thụ trung bình của một cặp trởng thành X. flavipes
(loại hình cánh dài) đối với trứng của T. castaneum ở 30
o
C
(16,86) cao hơn so với ở 25
o
C (12,48), còn đối với pha sâu non
tuổi 6-7, nhộng và trởng thành mới vũ hoá của T. castaneum là
nh nhau ở 2 điều kiện nhiệt độ 25
o
C và 30
o
C. ở cả 2 nhiệt độ
(25
o
C và ở 30
o
C) khả năng khống chế của trởng thành bọ xít X.
flavipes đối với các pha phát dục của T. castaneum chủ yếu là ở
pha trứng và pha sâu non còn ở pha nhộng và trởng thành mới

3
biện pháp phòng chống loài mọt bột đỏ (Tribolium castaneum
Herbst) ở nớc ta.
3.2. ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho các quy trình phòng
trừ mọt bột đỏ nói riêng và côn trùng hại kho nói chung phục vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status