ảnh hưởng của naphthalene acetic acid đến sinh trưởng và năng suất hai giống lúa mtl560 và ir50404 vụ hè thu năm 2014 - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

MAI VĂN THÂN

ẢNH HƢỞNG CỦA NAPHTHALENE ACETIC
ACID ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ NĂNG SUẤT
HAI GIỐNG LÖA MTL560 VÀ IR50404
VỤ HÈ THU NĂM 2014

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG

2014


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG

ẢNH HƢỞNG CỦA NAPHTHALENE ACETIC
ACID ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ NĂNG SUẤT
HAI GIỐNG LÖA MTL560 VÀ IR50404
VỤ HÈ THU NĂM 2014

Cán bộ hướng dẫn:
Ts. Nguyễn Thành Hối

Sinh viên thực hiện:

cây trồng với đề tài:
Ảnh hƣởng của Naphthalene Acetic Acid đến sinh trƣởng và năng suất hai
giống lúa MTL560 và IR50404 vụ Hè Thu năm 2014

Do sinh viên Mai Văn Thân thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng.
Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức: ..........................................................
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: .................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Cần Thơ, ngày......tháng......năm 2014
Thành viên Hội đồng

.................................

....................................

....................................

DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng

ii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kì luận văn nào trước đây.

nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ.

Cần Thơ, ngày......tháng......năm 2014
Người khai

Mai Văn Thân

iv


LỜI CẢM TẠ

Kính dâng
Kính dâng lên cha mẹ lòng yêu thương, biết ơn vô hạn – những người đã tận
tụy suốt cả cuộc đời để chăm lo cho tương lai của chúng con.
Thành kính ghi ơn
Thầy Nguyễn Thành Hối đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn và cho em những ý
kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Chân thành biết ơn
Anh Mai Vũ Duy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian làm luận
văn.
Tỏ lòng biết ơn đến
Quý thầy cô trong khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng đã truyền đạt kiến
thức và những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại
trường.
Gửi lời cảm ơn chân thành đến
Các bạn Hải Hà, Ngọc Hiếu, Trần Phú, Vũ Khanh, Anh Vũ và các em Thúy
Liễu, Hồng Hạnh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn.
Thân gửi đến
Tập thể lớp Khoa học cây trồng khóa 37 lời chúc sức khỏe và thành công trong

LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... iii
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ..................................................................................... iv
LỜI CẢM TẠ ..................................................................................................v
TÓM LƯỢC................................................................................................... vi
MỤC LỤC .................................................................................................... vii
DANH SÁCH BẢNG .................................................................................... ix
DANH SÁCH HÌNH ........................................................................................x
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... xi
CHƢƠNG 1 MỞ ĐẦU ...................................................................................1
CHƢƠNG 2 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU .........................................................2
2.1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY LÖA .......................................................2
2.1.1 Rễ ...................................................................................................2
2.1.2 Thân ................................................................................................2
2.1.3 Lá....................................................................................................2
2.1.4 Hoa .................................................................................................3
2.2 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN ........................3
2.2.1 Giai đoạn sinh trưởng ......................................................................3
2.2.2 Giai đoạn sinh sản ...........................................................................4
2.2.3 Giai đoạn chín .................................................................................4
2.3 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ CHỈ SỐ THU HOẠCH (HI) ...........5
2.3.1 Số bông/đơn vị diện tích..................................................................5
2.3.2 Số hạt/bông .....................................................................................6
2.3.3 Tỷ lệ hạt chắc ..................................................................................6
2.3.4 Khối lượng 1000 hạt........................................................................7
2.3.5 Chỉ số thu hoạch (HI) ......................................................................7
2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÂY LÖA .......................................................8
2.4.1 Nhiệt độ ..........................................................................................8
2.4.2 Ánh sáng .........................................................................................9
2.4.3 Nước ...............................................................................................9
2.5 ĐẶC ĐIỂM CÁC GIỐNG LÖA THÍ NGHIỆM ................................... 10

4.4.2 Chỉ số thu hoạch (HI) .................................................................... 24
CHƢƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................... 26
5.1 KẾT LUẬN ............................................................................................. 26
5.2 ĐỀ NGHỊ ................................................................................................ 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 27

viii


DANH SÁCH BẢNG
Bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Tình hình thời tiết tại Thành phố Cần Thơ năm 2014

13

3.2

Đặc điểm vật lý và hóa học của đất thí nghiệm

14

4.1



25

ix


DANH SÁCH HÌNH
Hình

Tên hình

Trang

3

Chậu làm thí nghiệm

14

4

Hạt lúa sau khi thu hoạch

22

x


DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL:

(1986) báo cáo rằng ứng dụng NAA phun trên lá ở nồng độ 100 và 200 mg/l
làm tăng đáng kể năng suất lúa so với đối chứng do sự gia tăng số lượng chồi
mỗi cây, số hạt trên bông và khối lượng hạt. Tuy nhiên, nghiên cứu về ảnh
hưởng của NAA trên các giống lúa ở Việt Nam còn hạn chế trong đó có giống
lúa MTL560 là giống lúa có năng suất cao và có triển vọng thay thế giống lúa
IR50404 chất lượng thấp. Do đó, đề tài “Ảnh hƣởng của Naphthalene Acetic
Acid đến sinh trƣởng và năng suất hai giống lúa MTL560 và IR50404 vụ
Hè Thu năm 2014” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra nồng độ thích hợp
của Naphthalene Acetic Acid đến sinh trưởng và năng suất hai giống lúa
MTL560 và IR50404.

1


CHƢƠNG 2 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY LÖA
2.1.1 Rễ
Theo Yoshida (1981) rễ lúa gồm một rễ mầm (rễ của phôi), các rễ của
trung diệp và những rễ của mắt (rễ bất định). Rễ mầm là rễ mọc ra đầu tiên sau
khi hạt nảy mầm, dài tối đa 15 cm, hút nước cung cấp cho phôi phát triển đến
khi cây lúa có lá thứ 7. Rễ của trung diệp mọc từ trục giữa mắt của diệp tiêu và
gốc của rễ mầm. Hệ thống rễ cơ bản là rễ bất định, mọc từ các mắt (đốt) trên
thân, mỗi mắt có từ 5 – 25 rễ phụ.
Ở đất khô rễ mọc thành chùm to, số rễ nhiều hơn, mọc rộng ra và ăn sâu
xuống đất có thể đến 1 m hay hơn nữa để tăng khả năng hút nước. Ở đất ngập
nước, bộ rễ ít ăn sâu đến 40 cm. Bên trong rễ có nhiều khoảng trống thông với
thân và lá. Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà rễ lúa có thể sống được trong điều
kiện thiếu oxy do ngập nước (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
2.1.2 Thân
Thân lúa gồm những mắt, lóng nối tiếp nhau. Nó được bẹ bao bọc cho

đứng hơn lá dài và phân bố đều hơn trong tán lá (Jenning et al., 1979).
2.1.4 Hoa
Phát hoa hay thường gọi là bông lúa gồm rất nhiều gié mang hoa
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Bông lúa hình thành ở lóng trên cùng của thân lúa.
Giữa lóng trên cùng và trục bông là cổ bông. Tại vị trí này thường không
mang lá hoặc mang một nụ ngủ nhưng có thể hình thành 1 – 4 nhánh gié đầu
tiên (sơ cấp). Trục bông (cuống) là trục chính của cụm hoa, kéo dài liên tục từ
cổ bông đến đỉnh bông và rỗng ngoại trừ tại các vị trí phát sinh các nhánh gié.
Các giống lúa khác nhau thì có sự khác biệt về chiều dài, hình dạng và góc độ
của các gié sơ cấp, khối lượng và mật độ (số lượng nhánh gié) của bông
(Chang and Bardenas, 1965).
Mỗi hoa lúa được mang bởi một cuống hoa ngắn mọc ra từ các nhánh gié
thứ cấp. Hoa lúa là hoa lưỡng tính tự thụ gồm cuống hoa, hai mày, sáu nhị đực
và một nhụy cái. Khi trổ khỏi thân, các hoa lúa sẽ phơi màu trong nắng vào
buổi sáng (từ 8 – 13 giờ) qua giai đoạn thụ phấn, thụ tinh để thành hạt gạo
(Hoshikawa, 1989).
2.2 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Cây lúa chia ra làm 3 giai đoạn chính trong suốt quá trình sinh trưởng và
phát triển: giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn sinh sản và giai đoạn chín
(Yoshida, 1981).
2.2.1 Giai đoạn sinh trƣởng
Theo Đinh Thế Lộc (2006) giai đoạn sinh trưởng được tính từ khi hạt lúa
nảy mầm cho đến khi kết thúc đẻ nhánh. Thời gian sinh trưởng của các giống
lúa dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn sinh trưởng này dài hay
ngắn. Đặc điểm chủ yếu trong thời kỳ này là sự hình thành và phát triển của
nhánh, lá và một phần thân. Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và
thời tiết thuận lợi cây lúa bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5 – 6 (Nguyễn Ngọc Đệ,
2009). Thời gian đẻ nhánh, đẻ nhánh nhiều hay ít, đẻ nhánh tập trung hay kéo
dài, số nhánh tối đa, tỷ lệ nhánh hữu hiệu,... tùy thuộc chủ yếu vào giống và
một phần do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu thời tiết, lượng phân bón các

Trong thời kỳ này nếu được chăm sóc chu đáo, điều kiện thời tiết thuận
lợi thì số hoa được hình thành tối đa là tiền đề để có số hạt trên bông tối đa
(Đinh Thế Lộc, 2006).
2.2.3 Giai đoạn chín
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) giai đoạn chín bắt đầu từ lúc lúa trổ bông
đến khi thu hoạch. Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết
các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu
lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ
kéo dài hơn và ngược lại. Ngoài ra, nhiệt độ cũng được biết đến là có thể kéo
dài hoặc rút ngắn thời gian trong giai đoạn chín (FAO, 1985). Giai đoạn này
được đặc trưng bởi sự sinh trưởng hạt, sự tăng kích thước, khối lượng và sự

4


đổi màu của hạt, sự lão hóa của rễ, thân và lá. Theo Yoshida (1981) giai đoạn
này trải qua 4 thời kỳ:
- Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm
quang hơp được chuyển vào trong hạt.
- Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn
còn xanh.
- Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển
sang màu vàng đặc thù của giống lúa.
- Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20%
hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần.
2.3 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ CHỈ SỐ THU HOẠCH (HI)
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh
hưởng trực tiếp bởi 4 yếu tố, gọi là 4 thành phần năng suất lúa bao gồm: số
bông/đơn vị diện tích, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng hạt. Các thành
phần năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau. Các yếu tố này được hình

số hạt/bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa. Hai
yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết.
Nói chung, đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân
đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều,
số hoa thoái hóa càng ít nên số hạt cuối cùng trên bông cao. Ở các giống lúa
cải thiện, số hạt/bông từ 80 – 100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100 – 120 hạt đối với
lúa cấy là tốt trong điều kiện ở ĐBSCL. Ngoài ra, số hạt/bông nhiều hay ít còn
tùy thuộc vào số gié phân hóa cũng như số gié thoái hóa. Các quá trình này
nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực từ lúc làm đòng đến trổ bông (Nguyễn
Đình Giao và ctv., 1997).
2.3.3 Tỷ lệ hạt chắc
Theo Smith et al. (2003) quá trình hình thành tỷ lệ hạt chắc chịu ảnh
hưởng của hai thời kỳ trước và sau trổ bông. Ảnh hưởng trước trổ bông chủ
yếu là thành phần hóa học trong cây lúa, cấu tạo vật lý của cây lúa và số
hoa/bông nhiều hay ít. Sự quang hợp sau khi trổ ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình tích lũy tinh bột trong phôi nhũ của hạt, vì 2/3 số lượng tinh bột tích lũy
trong hạt dựa vào quang hợp trong thời kỳ hình thành bông.
Theo Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) có 3 thời kỳ quyết định trực tiếp
đến tỷ lệ hạt chắc là giảm nhiễm, trổ bông và chín sữa. Nguyên nhân hạt lép là
do quá trình thụ phấn, thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc nóng
quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao làm cho hạt phấn mất khả năng
nảy mầm hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt
phấn bị hại,… Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) để có năng suất cao cần lưu ý
một số biện pháp kỹ thuật sau:
- Chọn giống tốt, trổ gọn, khả năng thụ phấn cao và số hạt/bông vừa
phải.
- Sạ cấy đúng thời vụ để lúa trổ và chín trong lúc thời tiết tốt, với mật độ
sạ cấy vừa phải, tránh lúa bị lốp đổ.
- Bón phân nuôi đòng (18 – 20 ngày trước khi trổ) và nuôi hạt (khi lúa
trổ đều) đầy đủ và cân đối để lúa trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và tạo hạt đầy đủ.

thức:
Năng suất hạt khô
HI = ---------------------------------Khối lượng chất khô tổng số
Trên thực tế nếu năng suất hạt dao động trong phạm vi 3 – 10 tấn/ha,
năng suất sinh vật học (bao gồm năng suất thân lá và năng suất hạt) 10 – 20
tấn/ha thì chỉ số thu hoạch biến động trong phạm vi 0,3 – 0,5. Chỉ số thu hoạch
càng cao chứng tỏ rằng năng suất hạt khô càng cao. Các giống khác nhau chỉ
số thu hoạch cũng khác nhau. Ở Việt Nam, các giống lúa cũ cao cây, năng suất
hạt khô thấp nên chỉ số thu hoạch thấp khoảng 0,25 – 3. Các giống mới thấp

7


cây, lá đứng năng suất hạt khô cao nên chỉ số thu hoạch cao hơn khoảng 0,4 –
0,6. Các biện pháp kỹ thuật tác động (mật độ, phân bón, thời vụ,…) có ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây cũng làm thay đổi chỉ số thu
hoạch. Tóm lại trong điều kiện sản xuất nếu trong ruộng lúa điều kiện ánh
sáng không đầy đủ, nhiệt độ cao làm cho quang hợp giảm, hô hấp tăng, tiêu
hao chất dinh dưỡng nhiều, chế độ bón phân lại không hợp lý là những điều
kiện làm cho chỉ số thu hoạch giảm.
2.4 ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÂY LÖA
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) cây lúa thích nghi rộng với nhiều điều
kiện sinh thái khác nhau từ vĩ độ 35 o Nam đến 53o Bắc. Điều kiện sinh thái có
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây lúa, nó quyết định loại hình cây lúa, cơ
cấu giống lúa, thời vụ gieo cấy, biện pháp canh tác và hình thành các vùng
trồng lúa khác nhau.
2.4.1 Nhiệt độ
Theo Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) nhiệt độ là yếu tố có tác động
quyết định đến quá trình sinh trưởng của cây lúa. Tùy từng giai đoạn phát triển
của cây lúa mà ảnh hưởng của nhiệt độ có khác nhau. Phạm vi thích ứng của

bức xạ càng cao thì quá trình quang hợp xảy ra càng mạnh. Bức xạ mặt trời
ảnh hưởng lớn đến các giai đoạn sinh trưởng khác nhau và năng suất lúa, đặc
biệt ở các giai đoạn sau. Theo Đinh Thế Lộc (2006) thời gian chiếu sáng trong
một ngày đêm (24 giờ) có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát triển của cây lúa
đặc biệt là giai đoạn phân hóa đòng (làm đòng) và trổ bông. Nếu không có thời
gian chiếu sáng phù hợp cây lúa không thể ra hoa, trổ bông và kết hạt được.
Đó là phản ứng quang chu kỳ của cây lúa. Đối với cây trồng nói chung và cây
lúa nói riêng có thể chia làm 3 loại phản ứng quang chu kỳ khác nhau:
- Loại phản ứng ánh sáng ngày dài: yêu cầu thời gian chiếu sáng trên 13
giờ ánh sáng/1 ngày đêm.
- Loại phản ứng ánh sáng ngày ngắn: yêu cầu thời gian chiếu sáng dưới
13 giờ ánh sáng/1 ngày đêm.
- Loại phản ứng trung tính với ánh sáng: là loại có thể ra hoa kết quả
trong bất kì điều kiện ánh sáng ngày dài hay ngày ngắn.
Theo Trương Đích (2000) chu kỳ quang tối ưu hay nói cách khác là độ
dài ngày để lúa ra hoa sớm nhất của hầu hết các giống lúa vào khoảng 9 – 10
giờ. Chu kỳ ngắn hơn hoặc dài hơn đều làm chậm quá trình ra hoa và mức độ
chậm phụ thuộc vào tính mẫn cảm của từng giống. Chu kỳ quang tới hạn (độ
dài ngày dài nhất mà cây lúa ra hoa được hoặc dài đến mức cây lúa không ra
hoa) của lúa vào khoảng 12 – 14 giờ. Các giống lúa không mẫn cảm với chu
kỳ quang có thể ra hoa và chín quanh năm nếu đủ nước.
2.4.3 Nƣớc
Theo Trương Đích (2000) nước là yếu tố tăng năng suất quan trọng và
cũng là yếu tố hạn chế năng suất số một đối với các vùng trồng lúa nhờ nước
trời. Thiếu nước ở mọi giai đoạn đều làm giảm năng suất lúa, đặc biệt từ giai
đoạn phân bào giảm nhiễm đến trổ bông cây lúa rất nhạy cảm nếu bị thiếu
nước. Vào thời kỳ 3 – 11 ngày trước khi trổ bông nếu bị hạn 3 ngày tỷ lệ lép
cao làm giảm năng suất lúa nghiêm trọng. Lượng mưa trong năm là nguồn

9

có nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) được nhập vào Việt
Nam đầu năm 1990 và được công nhận chính thức vào năm 1992. Giống
IR50404 có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng dưới 90 ngày trong điều kiện
sạ thẳng; chiều cao cây thấp (85 – 90 cm), đẻ nhánh khá, số hạt/bông trung
bình (65 – 70), tỷ lệ hạt chắc cao. IR50404 chịu phèn mặn khá, dễ tính, thích
ứng rộng có thể gieo trồng và đạt năng suất cao trong cả hai vụ Đông Xuân và
Hè Thu. Ở thời điểm công nhận giống IR50404 kháng cao rầy nâu và nhiễm
nhẹ bệnh đạo ôn và khô vằn.

10


IR50404 là giống lúa chủ lực của nhiều tỉnh ở phía Nam từ đầu những
năm 1990. Do phẩm chất hạt kém (tỉ lệ gạo bạc bụng cao, cứng cơm), nên diện
tích của IR50404 bị thu hẹp dần. Nhưng IR50404 có nhiều đặc tính quý như
chín sớm, dễ canh tác, tốc độ hạt vào chắc cao, ít lép, thích nghi rộng, nên diện
tích vẫn còn phát triển khá lớn (Nguyễn Thị Lang, 2000).
2.6 CHẤT ĐIỀU HÕA SINH TRƢỞNG THỰC VẬT
Theo Nguyễn Minh Chơn (2010) chất điều hòa sinh trưởng thực vật là
những chất với nồng độ cực thấp đã có khả năng điều hòa nhiều lĩnh vực sinh
trưởng và phát triển của thực vật từ nảy mầm đến lão hóa và chết. Chất điều
hòa sinh trưởng thực vật có tác dụng kích thích sẽ thể hiện tác dụng kích thích
ở nồng độ thấp và tăng dần đến ảnh hưởng tối đa. Khi nồng độ vượt qua mức
kích thích tối đa sẽ gây ảnh hưởng ức chế. Ứng dụng ngoại sinh của chất điều
hòa sinh trưởng thực vật là ảnh hưởng đến các hormon nội sinh của thực vật
bằng cách bổ sung dưới mức tối ưu hoặc bằng tác động tổng hợp, chuyển vị
hoặc bất hoạt hàm lượng hormon hiện có (Arshad and Frankenberger, 1993).
Sinh lý thực vật đã ghi nhận năm nhóm chất điều hòa sinh trưởng được xác
định rõ là Auxin, Gibberellin, Cytokinin, Abscisic acid và Ethylene (Shahid et
al., 2013).

phân bón lá ở nồng độ 30 mg/l NAA vào thời điểm 30 và 45 ngày sau khi gieo
kết hợp clorua mepiquat 120 mg/l vào 60 ngày sau khi gieo cho kết quả tăng
25% năng suất đậu đen.
2.6.3 Một số nghiên cứu ảnh hƣởng của NAA trên lúa
Các báo cáo liên quan đến sự tăng trưởng và năng suất với NAA trên cây
ngũ cốc trong đó có lúa đã được trình bày ở nhiều nước (Misra and Sahu,
1957, Chaudhuri et al., 1980). Kết quả nghiên cứu của Reddy et al. (2009) cho
thấy ứng dụng của NAA giúp làm tăng năng suất và thành phần năng suất lúa.
Andreevska (2004) đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của NAA ở nồng độ 25;
100; 200 và 400 mg/l áp dụng ở giai đoạn đẻ nhánh trên năng suất và một số
đặc tính hình thái sản xuất của giống lúa Biser – 2 cho thấy nồng độ khác nhau
của NAA gây ra những thay đổi trong cây lúa liên quan tới số chồi hữu hiệu,
chiều cao cây, chiều dài bông, số hạt chắc và hạt lép trên bông (15 và 30 ngày
sau khi xử lý). Kết quả nghiên cứu của Bakhsh et al. (2011) cũng cho thấy xử
lý NAA ở giai đoạn bắt đầu hình thành bông giúp làm tăng đáng kể chiều cao
cây, số bông/m2, số hạt/bông, khối lượng 1000 hạt và năng suất của giống lúa
IR – 6. Ứng dụng NAA phun trên lá ở nồng độ 100 và 200 mg/l làm tăng đáng
kể năng suất lúa so với đối chứng phun nước do sự gia tăng số lượng chồi mỗi
cây, số hạt/bông và khối lượng hạt (Grewal and Gill, 1986). Theo Bakhsh et
al. (2012) sự gia tăng năng suất lúa chủ yếu được đóng góp bởi sự gia tăng
hàm lượng chất diệp lục giúp gia tăng sự quang hợp. Bên cạnh đó, Liu et al.
(2012) đã báo cáo rằng NAA được sử dụng để ức chế sự phát triển và loại bỏ
các chồi vô hiệu thúc đẩy sự phát triển của cây lúa, phát triển bông và cuối
cùng là tăng năng suất hạt. Kết quả nghiên cứu cho thấy kết hợp ở mức 10
mg/l GA3 và 1000 mg/l NAA ức chế đáng kể sự phát triển và loại bỏ các chồi
vô hiệu thúc đẩy sự phát triển của chồi hữu hiệu ở giai đoạn giữa và cuối của
sự tăng trưởng thúc đẩy sự phát triển của bông và cuối cùng là tăng năng suất
hạt. Các kết quả nghiên cứu của Adam and Jahan (2011) cũng đã chỉ ra rằng
NAA có tác dụng khác nhau trên các thành phần năng suất khác nhau và nó
phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm cả sự khác biệt về giống và nồng độ hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status