BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
oOo PHẠM THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA HẦU THÁI BÌNH
DƯƠNG (Crassostrea angulata Lamarck, 1819) GIAI ĐỌAN
ẤU TRÙNG CHỮ D ĐẾN CON GIỐNG CẤP 2 (15mm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60.62.70 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Xuân Thu Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… ii
LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS.
Nguyễn Thị Xuân Thu, người thầy đã tận tình định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội, Ban lãnh đạo và Phòng Hợp tác Quốc tế và Đào tạo-Viện
nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Một số đặc điểm sinh học của hầu 3
2.1.1. Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái bên ngoài 3
2.1.2. Đặc điểm phân bố 4
2.1.3. Phương thức sống 5
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng 7
2.1.6. Đặc điểm sinh sản 8
2.1.7. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng 10
2.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu Crassostrea angulata
trên thế giới và ở Việt Nam 11
2.2.1. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu trên thế giới 11
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống hầu ở Việt Nam 14
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 16
3.1.1. Thời gian nghiên cứu 16
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu 16
3.1.3. Đối tượng nghiên cứu 16
3.2. Phương pháp tiếp cận 16
3.3. Dụng cụ thí nghiệm 16
3.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Diễn giải nghĩa
1 ÂT Ấu trùng
2 Chữ D Ấu trùng Veliger
3 CT Công thức
4 DGR Tốc độ sinh trưởng bình quân ngày
5
6
DO
Umbo
Hàm lượng oxy hòa tan
Ấu trùng đỉnh vỏ
7 TBD Thái Bình Dương
8 SGR Tốc độ sinh trưởng đặc trưng
9 Spat Ấu trùng giai đoạn sông bám
10 vb Vật bám
11 VNCNTTS I Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I
hầu 26
Bảng 4.4. Tăng trưởng chiều cao của ấu trùng theo thời gian nuôi (µm) 27
Bảng 4.5. Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm giai đoạn spat đến
con giống cấp 2 29
Bảng 4.6. Tỷ lệ sống của hầu giai đoạn con giống cấp 1 30
Bảng 4.7. Tốc độ sinh trưởng của hầu giai đoạn ương từ spat lên con
giống cấp 1. 31
Bảng 4.8. Tăng trưởng về chiều cao hầu giai đoạn con giống cấp 1 theo
thời gian nuôi (mm) 32
Bảng 4.9. Tỷ lệ sống của hầu giai đoạn con giống cấp 2 34
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng của hầu giai đoạn
con giống cấp 2 35
Bảng 4.11. Tăng trưởng của hầu giai đoạn con giống cấp 2 theo thời gian nuôi 36
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… vii
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1. Hình thái ngoài của hầu Thái Bình Dương 3
Hình 2.2. Vòng đời phát triển của Hầu Thái Bình Dương 11
hiệu quả nuôi. Mật độ ương nuôi có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng,
phát triển, chất lượng của ấu trùng và hầu giống. Mật độ ương quá cao hay
quá thấp đều không tốt. Nuôi với mật độ thấp, lãng phí thức ăn, thể tích bể và
tốn công chăm sóc. Nuôi với mật độ quá cao, khó quản lý môi trường do các
sản phẩm trao đổi chất và các chất thải thải ra nhiều sẽ làm ô nhiễm môi
trường nước nuôi, dẫn đến ấu trùng và hầu giống phát triển chậm, thời gian
nuôi kéo dài. Do đó, việc nghiên cứu nhằm tìm ra mật độ nuôi phù hợp rất cần
thiết, góp phần nâng cao năng suất của nghề nuôi hầu Thái Bình Dương.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 2
Xuất phát từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
của mật độ ương đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của hầu Thái bình dương
(Crassostrea angulata Lamarck, 1819) giai đọan ấu trùng chữ D đến con
giống cấp 2 (15mm)”.
* Mục tiêu chung: Góp phần hoàn thiện công nghệ sản xuất giống hầu TBD
(dạng bám).
* Mục tiêu cụ thể: Xác định được mật độ tối ưu cho sinh trưởng tốt nhất và tỷ
lệ sống cao nhất cho giai đoạn ương từ ấu trùng lên con giống cấp 2.
* Nội dung:
1. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và
thời gian biến thái của giai đoạn ấu trùng phù du.
2. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng giai đoạn bám lên con giống cấp 2 (15mm).
có hai vỏ úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép vỏ. Hai vỏ này rất cứng,
thô, khác nhau về hình dạng và kích thước. Vỏ phải thì nhỏ, nông nằm ở trên
còn vỏ trái thì sâu và lớn dùng để bám chặt vào vật cứng và nằm ở dưới. Hầu
TBD không có răng bản lề ở bên trong. Cơ khép vỏ có màu tím hay màu nâu.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 4
Hầu TBD có tỉ lệ chiều dài và chiều rộng vỏ tương đối lớn (thường chiều dài
gấp 3 lần chiều rộng). Ngoài ra hai mép lưng bụng của hầu gần như song song
với nhau cũng là một đặc điểm nhận dạng khác [18].
2.1.2. Đặc điểm phân bố
Phân bố địa lý:
Hầu có phân bố địa lý tương đối rộng từ 14 - 40 vĩ độ Bắc đến 107 -
124 kinh độ Đông. Diện tích phân bố địa lý rộng hay hẹp chủ yếu được quyết
định bởi hai yếu tố là nhiệt độ và nồng độ muối. Đa số các loài hầu có phạm
vi phân bố rất rộng, chúng có mặt khắp nơi trên thế giới từ hàn đới, ôn đới,
nhiệt đới. Ví dụ: Hầu Châu Âu O. edulis phân bố từ ven biển Na Uy xuống
đến Maroc, qua Địa trung hải vào đến Biển Đen. Hầu Mỹ Crassostrea
virginica phân bố dọc ven biển Đại Tây Dương: từ New Brunswich (Canada)
xuống đến Vịnh Mexico. Loài O. lurida phân bố từ Alaska xuống đến Baja,
California nhưng tập trung nhiều nhất tại Oregon và Washington. C. gigaslà
loài bản địa của Đông Bắc châu Á như Nhật Bản nhưng được di chuyển và
lan rộng ra nhiều quốc gia như Pháp, Trung Quốc (du nhập vào đầu và cuối
những năm 70 của thế kỉ 20), Anh bờ tây nước Mỹ (vào những năm 1950) và
hiện nay chúng được nghiên cứu để du nhập và phát triển nuôi tại bờ đông,
Ca-na-đa, Bra-xin, Hàn Quốc, Úc (những năm 1960) New Zealand vì mục
đích nuôi và vì sự phát tán ngẫu nhiên bởi những tàu buôn lớn. Cho nên có
thể nói hầu TBD phân bố toàn cầu. Trong khi đó hầu C. angulata có nguồn
thể đã bị tiêu hao hết, cơ quan tiêu hóa đã dần được hình thành và ấu trùng
phải sử dụng thức ăn từ bên ngoài môi trường. Thức ăn của ấu trùng giai đoạn
này thường là các loại thực vật phù du có kích thước nhỏ bé (2 – 8µm) như
Nannochloropsis, Irochrysis, Chaetocerosi, Pavlova, Chlorella,
Cryptomonas, Platymonas… Trong sinh sản nhân tạo, vấn đề thức ăn của ấu
trùng là một vấn đề cần được chú trọng.
Giai đoạn trưởng thành:
Theo kết quả nghiên cứu thức ăn của hầu người ta thấy rằng thức ăn của
hầu gồm có sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ và những chất hòa tan trong nước
như amino acid, muối khoáng (đặc biệt là các muối calci rất cần thiết cho sự
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 6
hình thành vỏ). Thực vật phù du (phytoplankton) chủ yếu là tảo silic:
Melosira, Coscinodiscus, Navicula, Nitzschia, Chaetoceros, Biddulphia,
Skeletonema, Cyclotella, Rhizosolema, Thalassiotrix… Động vật phù du
(zooplankton) bao gồm ấu trùng giun nhiều tơ, ấu trùng copepoda, copepode
nhỏ, rotifer.
Phương thức bắt mồi:
Lebesnerais (1985), Boucaud-Camou và ctv (1985) đã nghiên cứu cơ chế
lọc thức ăn và quá trình chuyển hóa thức ăn trong hệ thống tiêu hóa của hầu
Thái Bình Dương [7], [8]. Theo Chestinnt (1946) thì phương thức bắt mồi của
hầu là bị động theo hình thức lọc nhiều lần. Hầu bắt mồi trong quá trình hô
hấp, dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp, nước có mang theo thức
ăn qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ đính vào các tiêm mao trên bề mặt
mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao. Hạt thức ăn có kích cỡ
thích hợp (nhỏ) sẽ bị đính vào dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên sau
đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn có kích cỡ quá lớn tiêm
ngắn có thể lọc được 31-34 L/h bằng 1500 lần khối lượng của nó [16].
Độ pH của nước biển có ảnh hưởng đến hoạt động bắt mồi của hầu.
Khi pH = 7,75 cường độ lọc nước bình thường, từ 6,75 – 7,00 cường độ lọc
nước tăng nhưng khi pH giảm dưới 6,5 thì cường độ lọc giảm xuống. Khi pH
= 4,14 lượng nước lọc chỉ còn 10% mức bình thường (Loosanoff, 1948).
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng
Hầu có tốc độ sinh trưởng rất nhanh khi so sánh với các loài hầu khác có
trên thế giới [23]. Sinh trưởng của hầu phụ thuộc rất nhiều vào tập tính sinh lý
và sinh thái.
Nhiệt độ được xem là một trong những nguyên nhân gây nên hiện
tượng chết mùa hè của hầu mà đã được nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế
giới quan tâm như Perdue và CTV (1981); Cheney và CTV (2000); Huvert và
CTV (2004); Garnier và CTV (2007) và Samain (2004, 2007) [26]. Theo
Beatrice Gagnaire và CTV (2006) [14], sự tương tác giữa nhiệt độ, độ mặn,
chất ô nhiễm và các yếu tố môi trường khác như (pH, DO) có thể là nguyên
nhân của hiện tượng chết mùa hè.
Hầu sống ở nơi có dòng chảy nhanh lớn chậm hơn nơi có dòng chảy
chậm, ở độ sâu từ tầng mặt đến 3m sinh trưởng nhanh hơn ở tầng nước sâu,
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 8
dưới độ sâu 3m sẽ hạn chế hầu sinh trưởng, hầu sống ở độ sâu 7m lớn nhanh
hơn 13m [19]. Từng vùng nuôi khác nhau thì hầu có tốc độ sinh trưởng và độ
dày vỏ khác nhau [25].
Mức độ phong phú của thức ăn, sự phát triển của tuyến sinh dục là
những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của hầu. Đặc biệt là số lượng và
khối lượng thức ăn - những yếu tố này lại ảnh hưởng bởi mức độ trao đổi
nước và các điều kiện thời tiết như mưa rào, tốc độ gió, thuỷ triều và hàm
khoảng 50-100 triệu trứng trong một lần đẻ. Quá trình thụ tinh diễn ra trong
nước và phải mất khoảng 10-15 phút sau khi đẻ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của hầu:
Quá trình sinh sản của hầu chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện môi
trường, đặc biệt là nhiệt độ.
Theo Byung Ha Park và ctv (1988), nghiên cứu sự thành thục của hầu
C.gigas tại Hàn Quốc cho thấy, yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành
thục là nhiệt độ. Nhiệt độ tăng cao thời gian chín của tuyến sinh dục càng rút
ngắn. Còn theo thí nghiệm của Loosanoff về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự
phát triển của tuyến sinh dục hầu C.virginica cho thấy ở nhiệt độ 10
o
C thì sau
35 ngày hầu mới thành thục nhưng tỷ lệ thành thục ít, ở 20
o
C sau 5 ngày hầu
đã thành thục nhưng tỷ lệ đẻ thấp chỉ đạt 24%, ở 30
o
C chỉ sau 3 ngày hầu đã
thành thục và cho tỷ lệ sinh sản cao.
Ngoài ra, hoạt động sinh sản của hầu còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố
môi trường khác như:
- Độ mặn: có quan hệ chặt chẽ đến sinh sản của hầu. Khí hậu vùng
nhiệt đới quanh năm thích hợp cho hầu Ấn Độ Ostrea cucullata sinh sản
nhưng ở Ấn Độ hầu này chỉ đẻ từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; còn tháng 7,
8 tuy tuyến sinh dục thành thục nhưng vẫn không đẻ vì lúc đó mùa mưa
xuống độ mặn giảm không thích hợp cho sinh sản của nó. Ở nước ta, hầu sông
có mùa sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9, trong các tháng này hầu đẻ rộ nhất
vào thời kỳ nhiệt độ nước cao nhất trong toàn năm (trung bình 30
o
C) nhưng
trưng của giai đoạn này là sự hình thành các tơ chân, màng áo và một số cơ
quan khác. Ấu trùng chuyển sang hoàn toàn sống bám.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 11
* Giai đoạn sống con giống
Từ ấu trùng spat, ấu trùng bám vào giá thể là các loại vỏ động vật thân
mềm, các tấm nhựa… chúng sống cố định vào các vật bám cho đến khi
trưởng thành. Thời gian từ giai đoạn ấu trùng spat đến con giống cấp 2 kéo
dài khoảng 2 tháng tùy vào điều kiện chăm sóc.
Hình 2.2. Vòng đời phát triển của Hầu Thái Bình Dương
(Nguồn: Fishers and Marine technology center Saturo Aka Shige)
2.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu Crassostrea angulata trên
thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Tình hình nghiên cứu sản xuất giống hầu trên thế giới
thích sinh sản trong sản xuất giống nhân tạo.
Trên thế giới phương pháp sản xuất giống mang tính thương mại đã có từ
những năm cuối của thế kỷ 19. Công trình nghiên cứu cho hầu đẻ thành công
vào năm 1897 của Brook, ông đã nuôi được ấu trùng bơi lội tự do từ trứng và
tinh trùng của hầu trong mùa sinh sản. Cũng có nhiều nghiên cứu tiến hành
ương nuôi ấu trùng hầu trong phòng thí nghiệm nhưng mãi đến năm 1920,
Wells mới thành công trong kỹ thuật ương nuôi ấu thể Spat.
Để làm cơ sở cho việc sử dụng vật bám trong sản xuất giống nhân tạo
cũng như cải tiến phương pháp thu giống ngoài tự nhiên, Latama (1996) đã sử
dụng những vật liệu sẵn có, rẻ tiền như thanh tre và tấm xi măng để thu giống
hầu C. cucullata tại Indonesia. Kết quả cho thấy hầu bám nhiều hơn trên
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 13
những tấm xi măng so với thanh tre. Năm 2000, Yulianda và Atmadipura đã
kết luận rằng độ ghồ ghề và loại của vật bám có ảnh hưởng đến mật độ bám
của con giống hầu Crassostrea sp. Thí nghiệm của họ cho kết quả là hầu
giống bám nhiều hơn trên những vật bám là những viên đá có bề mặt gồ ghề
hơn vật bám là những vỏ sò [1].
Theo Jones và Jones (1988), một chi tiết rất quan trọng liên quan đến
việc vận chuyển ấu trùng để cho bám ở những vùng không có khả năng xây
dựng trại giống là ấu trùng điểm mắt của hầu Thái Bình Dương có thể giữ
trong điều kiện độ ẩm và nhiệt độ 5
o
C trong thời gian hàng tuần, hầu vẫn có
thể bám tốt. Nhưng trong nghiên cứu của Tan và Wong (1995) tại Hong Kong
cũng đã kết luận rằng ấu trùng điểm mắt của hầu C. belcheri có thể giữ tốt
nhất trong vòng 12 giờ ở nhiệt độ 15
độ sâu 10 mét nước ở những vùng nước thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng
[6]. Nguyễn Văn Chung (2001) khi điều tra đánh giá tình hình phân bố của
hầu Thái Bình Dương phân bố ở đầm Cù Mông, đầm Ô Loan nhưng với tần
số bắt gặp rất ít [3].
Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản hay sinh thái của hầu
dường như ít được đề cập đến trong các tài liệu, có chăng đó chỉ là những tài
liệu tiếng Việt được dịch từ các thứ tiếng khác như tiếng Trung, tiếng Anh,
tiếng Nhật… Điều đó chứng tỏ rằng việc nghiên cứu sản xuất giống hay nuôi
hầu thương phẩm ở nước ta chưa thực sự phổ biến. Việc nuôi hầu chỉ là tự
phát, xuất phát từ giá trị kinh tế và người nuôi chỉ dựa vào kinh nghiệm.
Đến năm 2001 – 2004, Bộ Khoa Học & Công Nghệ đã cấp kinh phí cho
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I nghiên cứu đề tài “nghiên cứu công
nghệ sản xuất hầu giống và nuôi hầu (Crassostrea) thương phẩm” do kỹ sư
Hà Đức Thắng làm chủ nhiệm, bao gồm 3 chi nhánh: miền Bắc do kỹ sư Hà
Đức Thắng đảm nhiệm, miền Trung do tiến sỹ Lê Trọng Phấn phụ trách và
miền Nam do tiến sỹ Lê Minh Viễn đảm nhiệm.
Từ đó đến nay, đề tài đã có những thành công nhất định trong việc phát
triển nghề nuôi hầu ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam với các loài C. belcheri và
C. rivularis.
Đa số các hộ ở miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng) nhập con giống hầu
C.angulata từ Trung Quốc và Đài Loan về nuôi, còn ở miền Nam có công ty
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 15
nuôi trồng thủy sản và thương mại Viễn Thành tiếp tục sản xuất giống các
loại hầu C. belcheri, C. rivularis để cung cấp cho hoạt động nuôi hầu của
công ty, đồng thời cung cấp giống cho người dân.
Lê Minh Viễn (2004) đã tiến hành nghiên cứu và sản xuất thành công
3.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2011.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Trung Tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc – xã Xuân Đám – Huyện
Cát Hải – Thành phố Hải Phòng.
3.1.3. Đối tượng nghiên cứu
Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea angulata Lamarck, 1819)
3.2. Phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận trực tiếp: Thông qua thực tế sản xuất và bố trí thí nghiệm, thu
thập, xử lý số liệu, đánh giá kết quả.
- Tiếp cận gián tiếp: Thông qua các tài liệu tham khảo, các báo cáo khoa
học và các tài liệu khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu.
- Thu số liệu của các yếu tố môi trường: Trực tiếp đo đạc các yếu tố môi
trường như t
o
C, S ‰, pH, DO, kiểm tra lượng Chlor dư trong xử lý nước.
3.3. Dụng cụ thí nghiệm
- Vật bám sử dụng là vỏ hầu được vệ sinh sạch sẽ, xâu lại thành dây, mỗi
dây có 30 vỏ hầu. Mỗi lô thí nghiệm bố trí 20 dây vật bám.
- Gồm có 15 bể composite 400 lít với thể tích thực sử dụng là 300 lít bố trí
thí nghiệm về ảnh hưởng của 5 mức mật độ ương giai đoạn ấu trùng phù du. 1
bể thuyền 3m
3
, bể được bố trí với 5 khoảng, mỗi khoảng chia làm 3 phần
phân biệt bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ ương giai đoạn con giống
sống bám. Xô nhựa và bể được ngâm bằng Chlorine, sau đó rửa lại bằng xà
phòng và nước ngọt nhiều lần trước khi sử dụng.
- Nước mặn: Nước biển được lấy vào bể lọc thô, sau đó được xử lý bằng
3.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Hầu bố mẹ sau khi kiểm tra tuyến sinh dục phát triển tốt tiến hành lấy
trứng và tinh trùng cho thụ tinh, sau đó đưa vào bể ấp trứng.
3.4.1. Ảnh hưởng của mật độ ương tới sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian
biến thái của ấu trùng giai đoạn phù du.
* Sơ đồ thí nghiệm:
Hình 3.1. Thí nghiệm ương ấu trùng phù du hầu ở các mật độ khác nhau
- Tỷ lệ sống
- Tăng trưởng
- Thời gian biến thái
MĐ 7
AT/ml
MĐ 5
AT/ml
MĐ 9
AT/ml
MĐ 11