điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến gây hại của bọ vòi voi diocalandra frumenti fab (coleoptera curculionidae) trên dừa tại huyện cù lao dung và long phú, tỉnh sóc trăng - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG


NGUYỄN DUY KHÁNH

ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VÀ
DIỄN BIẾN GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI VOI
DIOCALANDRA FRUMENTI Fab.
(COLEOPTERA: CURCULIONIDAE)
TRÊN DỪA TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG
VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ, 2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VÀ
DIỄN BIẾN GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI VOI
DIOCALANRRA FRUMENTI Fab.
(COLEOPTERA: CURCULIONIDAE)
TRÊN DỪA TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG
VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG


Ks. Châu Nguyễn Quốc Khánh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố bất kỳ
luận văn nào trước đây.

Cần Thơ, ngày…..tháng….năm 2014

Người viết

Nguyễn Duy Khánh


LỜI CẢM TẠ

Để có được những kết quả ngày hôm nay con xin gửi lòng thành kính
biết ơn thiêng liêng nhất đến công lao sinh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Lê Văn Vàng và anh Châu Nguyễn Quốc Khánh đã hướng dẫn
tận tình, tạo điều kiện và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong công việc
nghiêm cưu và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn
Quý Thầy, Cô của khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường
Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt
khóa học.
Các bạn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thị
Diễm Quỳnh, Lâm Xuân Khoa lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 37 đã hỗ trợ tôi làm
luận văn.


Năm sinh: 1970

II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Tốt nghiệp trung học phổ thông 2011, tại Trường Trung Học Phổ
Thông Lai Vung 2, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Thi đậu vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2011 thuộc Khoa Nông
nghiệp và Sinh học Ứng dụng, ngành Bảo vệ thực vật khóa 37 và tốt nghiệp kỹ
sư Bảo vệ thực vật tháng 11 năm 2014.
NGUYỄN DUY KHÁNH (2014), “Điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến
gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fab. (Coleoptera:
Cuculionidae) trên dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng”. Luận văn Đại Học, ngành Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ.
45 trang
Cán bộ hướng dẫn: Ts. Lê văn Vàng, Ks. Châu Nguyễn Quốc Khánh.


TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến gây hại của bọ vòi
voi Diocalandra frumenti Fab. (Coleoptera: Cuculionidae) trên dừa tại
huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện trên các
vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng từ tháng
11 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014 đạt được những kết quả sau:
Phần lớn nông dân đều tự học kỹ thuật canh tác và không tham gia vào
các lớp tập huấn kỹ thuật. Các loại phân được nông dân sử dụng chủ yếu là
phân vô cơ. Đa phần nông dân không sử dụng phân hữu cơ để bón cho các
vườn dừa.
Kết quả điều tra ghi nhận được sự gây hại của bọ vòi voi Diocalandra
frumenti là 100% số vườn dừa, bọ vòi voi chủ yếu gây hại trên trái và buồng.
Đa phần nông dân đều ghi nhận hiện tượng rụng trái non, trái non bị biến dạng


vi

Danh sách hình

ix

Danh sách bảng

x

MỞ ĐẦU…………………………………………………………………. 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU…………………………………. 3
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY DỪA.................................................................... 3
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố…………………………………………… 3
1.1.1.1 Nguồn gốc………………………………………………………… 3
1.1.1.2 Phân bố……………………………………………………... 3
1.1.2 Đặc tính thực vật………………………………………………… 3
1.1.2.1 Rễ…………………………………………………………… 3
1.1.2.2 Thân………………………………………………………… 4
1.1.2.3 Lá…………………………………………………………… 4
1.1.2.4 Hoa…………………………………………………………. 5
1.1.2.5 Trái…………………………………………………………. 5
1.1.3 Yêu cầu điều kiện môi trường…………………………………… 6
1.1.3.1 Khí hậu……………………………………………………... 6
1.1.3.2 Đất…………………………………………………………...7
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT DỪA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG
NƯỚC…………………………………………………………………….. 7
1.2.1 Trên thế giới……………………………………………………... 7
1.2.2 Trong nước………………………………………………………. 8

3.1.2.3 Quản lý cỏ…………………………………………………... 29
3.1.2.4 Cắt tỉa bẹ……………………………………………………. 29
3.1.2.5 Kỹ thuật bón phân…………………………………………... 30


3.1.3 Tình hình sâu bệnh hại và cách phòng trị………………………...33
3.1.3.1 Động vật và côn trùng gây hại trên dừa theo ghi nhận của nông
dân………………………………………………………………………... 33
3.1.3.2 Các loại bệnh theo ghi nhận của nông dân………………… 35
3.2 TÌNH HÌNH GÂY HẠI TRÊN CÁC VƯỜN DỪA CỦA BỌ VÒI VOI
(DIOCALANDRA FRUMENTI) TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG VÀ LONG
PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG…………………………………….................. 36
3.2.1 Nhận thức chung của nông dân…………………………….......... 36
3.2.2 Đánh giá chung của nông dân về hiện tượng xì mủ, rụng trái non, trái
non bị biến dạng do bọ vòi voi (D. frumenti) gây ra trên các vườn dừa của
huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng………………………..37
3.2.3 Tình hình gây hại của bọ vòi voi trên các vườn dừa tại huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng………………………………………. 38
3.3 DIỄN BIẾN GÂY HẠI TRÊN CÁC VƯỜN DỪA CỦA BỌ VÒI VOI
(DIOCALANDRA FRUMENTI) TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG VÀ LONG
PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG…………………………………….................. 40
3.3.1 Huyện Cù Lao Dung…………………………………………….. 40
3.3.2 Huyện Long Phú……………………………………………….....41
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ…………………………………...... 43
4.1 KẾT LUẬN........................................................................................... 43
4.2 ĐỀ NGHỊ……………………………………………………………... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………... 44
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2



Phần trăm số hộ có vườn dừa qua các độ tuổi khác nhau tại
huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

22

3.2

Tỷ lệ các giai đoạn dừa trên các vườn được đều tra tại huyện
Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

23

3.3

Tỷ lệ giữa nguồn gốc giống dừa của nông dân được nông dân
trồng tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

24

3.4

Tỷ lệ các giống dừa trên các vườn được điều tra tại huyện Cù
Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

24

3.5

Diễn biến gây hại của bọ vòi voi gây ra trên 3 vườn dừa tiêu


Kinh nghiệm canh tác dừa của nông dân tại huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

20

3.2

Tỷ lệ phần trăm số hộ về diện tích canh tác dừa của nông
dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

21

3.3

Tỷ lệ số hộ về các kiểu trồng được nông dân huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc trăng áp dụng

25

3.4

Tỷ lệ số hộ về mật độ và khoảng cách trồng được nông dân
áp dụng tại các vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long
Phú, tỉnh Sóc Trăng.

26

3.5



30

3.10

Tỷ lệ phần trăm số hộ sử dụng phân hữu cư và loại phân
được nông dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tình Sóc
Trăng sử dụng

31

3.11

Tỷ lệ số hộ sử dụng phân hóa học và cách bón phân được
nông dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng áp dụng

32

3.12

Liều lượng phân bón trung mà nông dân huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng sử dụng

33


3.13

Tỷ lệ số hộ được điều tra đánh giá về thành phần các loài

Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

37

3.18

Tình hình nhiễm bọ vòi voi (D.frumenti) trên các vườn dừa
tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

38

3.19

Tỷ lệ vườn bị hại theo kích thước trái

39


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

FAO

Food and Agriculture Organization

APCC

Asian and Pacific Coconut Community

đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Trung, đã làm giảm năng suất và
chất lượng dừa gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người dân trồng dừa.
Trên cơ sở đó, đề tài: “Điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến gây
hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fab. (Coleoptera: Curculionidae)
trên dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng” được thực
hiện tại các vườn dừa ở huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
nhằm các mục tiêu sau:
- Biết được hiện trạng canh tác dừa của nông dân.
- Tình hình gây hại của bọ vòi voi D. frumenti trên các vườn dừa tại
tỉnh Sóc Trăng.
- Khảo sát diễn biến gây hại của bọ vòi voi D. frumenti trên các vườn
dừa tại tỉnh Sóc Trăng.


CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY DỪA
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố
1.1.1.1 Nguồn gốc
Cây dừa được ghi nhận là canh tác đầu tiên ở Ấn Độ, từ rất lâu đời,
khoảng 300 năm trước Công Nguyên (Woodroof, 1979). Vì vậy, nguồn gốc
của cây dừa có thể không xa Ấn Độ lắm. Tuy vậy Ấn Độ và Sri Lanka không
được xem là nơi phát sinh của dừa. Vùng Nam Thái Bình Dương và Nam Phi
thường được cho là trung tâm phát sinh nguồn gốc của cây dừa, có thể là ở
Đông Nam Phi và đặc biệt là ở Đông Nam Châu Á trải dài từ phía Tây Mã Lai
đến phía Đông Melanesia.
1.1.1.2 Phân bố
Cây dừa được phân bố rộng rãi trong vùng nhiệt đới, có khoảng 90%
dừa được tìm thấy trong giới hạn vĩ độ 200 Bắc và 200 Nam. Nhìn chung tổng

khi nó bị cắt hay bị tổn thương thì không phục hồi hoặc lành vết thương bằng
mô mới và đường kính thân cũng không lớn ra thêm theo thời gian.
Trong giai đoạn đầu mới trồng, chiều dài lóng trên thân dừa ngắn và
chậm phát triển, đến khi chiều ngang của thân phát triển đầy đủ thì mới cao
lên, tiến trình này có thể kéo dài đến 4 năm tùy thuộc vào giống (Ohler, 1984).
Gốc dừa là một trong những đặc điểm để phân biệt nhóm dừa cao và dừa lùn.
Ở nhóm dừa lùn thường có gốc nhỏ, ngược lại ở nhóm dừa cao và dừa lai giữa
giống dừa lùn và dừa cao thường có gốc phình to đến rất to. Dừa có thể mọc
cao đến 35 m, không phân nhánh, thân cọc to, chắc, khỏe, mang nhiều sẹo lá
quấn ngang trọn thân. Sẹo lá ở dừa mọc tốt có thể rộng đến 8 cm và cách nhau
khoảng cách 3 cm, khoảng cách sẹo rộng chứng tỏ cây bị thiếu ánh sáng. Nhìn
sẹo và khoảng cách giữa các sẹo trên thân biết được dừa phát triển tốt hay xấu
của một thời điểm trước đó.
1.1.2.3 Lá
Lá dừa (tàu lá) rất to gồm một bẹ lá ôm trọn thân, mọc theo hình xoắn
ốc. Bẹ lá này cách bẹ lá kia 1400, diệp tử 2/5 nghĩa là 2 vòng xoắn ốc thì hai lá
ở cùng vị trí, như lá thứ nhất và lá thứ 6 chẳng hạn (Tôn Thất Trình, 1974). Bẹ
gồm một phần cứng và yếm dừa nhiều xơ đan chéo nhau. Tàu lá dừa có một
song chánh mang hai hàng lá phụ hai bên, dạng hình lông chim dài từ 4,5-6 m,
rộng từ 0,5-0,8 m, nặng từ 10-15 kg. Lá phụ nhỏ, hẹp, dài khảng 1 m, có
khoảng 200 lá, mọc không đối xứng hai bên song chính và thường chênh nhau
4-5 lá. Lá phụ có một gân chính và nhiều gân phụ song hành, mặt trên có màu
xanh láng hơn mặt dưới. Cây dừa lúc còn nhỏ chỉ có tàu lá nguyên, sau đó tàu
lá mới có lá phụ tách ra, đến khoảng 4-5 năm cây mới hoàn toàn có tàu lá lông
chim.


Tùy thuộc vào giống và điều kiện sinh trưởng, một cây dừa có từ 30-40
tàu lá đâm ra từ đỉnh thân. Số tàu lá đã nở có thể phân chia như sau: (a) có 5
tàu lá có hoa tự nhưng chưa thấy rõ khối sơ khởi, (b) 20 tàu lá có hoa tự và (c)

và có bón phân là biện pháp làm tăng số hoa cái trên buồng.
1.1.2.5 Trái
Trái dừa được phân loại như là quả hạch sợi, nó phát triển từ bầu noãn
có 3 tâm bì có “mắt”, mỗi tâm bì chứa một tiểu noãn. Thông thường có hai


tiểu noãn không phát triển sau khi thụ phấn, chính vì vậy trong 3 “mắt” chỉ có
một mắt chứa mầm của tiểu noãn phát triển (Ohler, 1984). Mắt dừa có chứa
mầm thì mềm, 2 mắt còn lại không có mầm bị cứng do hóa gỗ. Mầm nhỏ nằm
bên trong cơm dừa có tử diệp (mộng dừa) sẽ phù to khi mọc để tiêu hóa phôi
nhũ (Phạm Hoàng Hộ, 1968). Phôi nhũ khá đặc biệt, gồm một phần lỏng ở bên
trong và một phần đặc (cơm dừa) bao bọc ở ngoài.
Không phải tất cả hoa cái đều đậu thành trái, hoa cái có thụ tinh mới
cho trái. Nhưng việc rụng trái non vẫn xảy ra như những loài cây trồng khác
và xảy ra nhiều nhất trong 6 tuần sau khi thụ phấn. Có cây rụng trên 50% số
hoa cái có trên buồng. Ban đầu sau khi thụ phấn, vỏ và gáo dừa phát triển về
kích thước và túi mầm rộng ra rất đáng kể chứa đầy chất lỏng. Từ 6 hay 7
tháng sau, cơm dừa bắt đầu phát triển bên trong gáo dừa. Ở giai đoạn này, cơm
dừa có cấu trúc giống như thạch trắng. Tháng thứ tám sau khi thụ phấn, cơm
dừa cứng lại và ở thời điểm này trọng lượng và kích thước trái dừa lớn nhất.
Cơm dừa trở nên cứng hơn và trắng ở giai đoạn sau của thời kỳ trái chín và
được bao bọc bởi lớp vỏ màu nâu cứng. Cơm dừa chứa 95% nước và nhỏ hơn
1% dầu khi chưa trưởng thành, khi trưởng thành chứa 50% nước và 30-40%
dầu. Nước dừa được tạo ra từ tháng 3 và đạt thể tích tối đa vào tháng thứ 8.
Trái thường già trong vòng 12 tháng sau khi thụ phấn và có dạng tròn hay oval
có 3 mảnh là dấu tích của 3 tâm bì. Ngoại quả bì chuyển từ màu xanh sang
màu nâu khi trái trưởng thành. Mô của trung quả bì ở thể sợi. Nội quả bì là
gáo dừa cứng có 3 mảnh, ở phần tiếp giáp với cuống trái thấy rõ có 3 “mắt”.
Vỏ khô cùng lúc với mất nước trong ruột trái và ở giai đoạn trưởng thành dừa
rụng từ điểm dính với cuống trái.

Ở ĐBSCL, dừa mọc tốt và cho năng suất cao nhất trên đất phù sa vùng
hạ lưu sông Cửu Long, nhưng dừa cũng cho năng suất cao trên những loại đất
khác, trừ đất phèn nặng. Tuy nhiên, đất thịt phù sa có ẩm độ đất thích hợp và
thoát nước tốt rất phù hợp cho dừa phát triển. Ở đất có độ mặn 1 phần ngàn
dừa phát triển rất tốt. Mặc dù dừa kháng mặn nhưng cũng bị thiệt hại ở đất
mặn nhiều. Vùng nước ngọt hoặc lợ có độ mặn từ 1-10 phần ngàn dừa đều
mọc tốt.
Tóm lại, dừa không kén đất, có thể trồng nhiều loại đất khác nhau. Tuy
nhiên, không chọn vùng đất thấp, ngập nước. Dừa không chịu hạn lâu, vì vậy
chọn nơi cung cấp đủ nước cho dừa.
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT DỪA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG
NƯỚC
1.2.1 Trên thế giới
Theo số liệu của FAO (2001), thế giới có khoảng 11,86 triệu ha đất
canh tác dừa. Cây dừa phấn bố khá rộng khắp ở khu vực nhiệt đới và cận xích
đạo, trải dài từ Đông bán cầu sang Tây bán cầu. Tuy nhiên, cây dừa tập trung
nhiều nhất ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Cây dừa được phân bố
nhiều nhất ở vùng Đông Nam Á (60,89%); kế đó là vùng Nam Á (19,75%);
vùng Châu Đại Dương (4,6%). Sau đó là vùng Châu Mỹ La Tinh, mà chủ yếu
là Brazil (2,79%), các đảo quốc ở vùng Caribbean đóng góp 0,97%, và Trung


Quốc, mà chủ yếu là đảo Hải Nam, chiếm tỷ trọng 0,24%. Các vùng còn lại
đóng góp 10,75% diện tích.
Năm 2000, sản lượng dừa của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
chiếm khoảng 87% tổng sản lượng dừa trên thế giới, nước có sản lượng dừa
cao nhất thế giới là Indonesia (16.235.000 tấn), Ấn Độ (11.100.000 tấn) và
Philippines (5.761.000 tấn), còn lại là những nước khác có sản lượng dưới 2
triệu tấn.
1.2.2 Trong nước


bị chặt bỏ để chuyển sang nuôi tôm, ví dụ vùng dừa ở huyện Đầm Dơi, Thới
Bình, Trần Văn Thời… của tỉnh Cà Mau.
Hiện nay, cây dừa ở Việt Nam được trồng phân tán ở nhiều tỉnh khác
nhau, tuy nhiên được trồng tập trung với quy mô lớn tại hai tỉnh là Bình Định
của vùng duyên hải miền Trung (nổi tiếng với vùng dừa Tam Quan) và tỉnh
Bến Tre ở ĐBSCL.
1.3 DỊCH HẠI TRÊN DỪA
1.3.1 Động vật hại dừa
Một số loài như chuột, dơi, sóc góp phần gây hại cho các vườn dừa
bằng cách đục lấy nước uống, đưa đến sự suy giảm nắng suất. Trong các loài
kể trên thì chuột gây hại trái nhiều hơn cả vì chúng nhân đàn suốt năm, sinh
sản nhiều lứa rất nhanh (25-30 con/năm), ngoài ra chuột còn cắn phá cây con,
gặm nhắm ăn mầm, rễ cây con làm thất thoát lớn ở các vườn ươm.
Biện pháp phòng trị: dùng bẫy, dùng thuốc diệt chuột, thường xuyên
dọn dẹp vệ sinh vườn không tạo điều kiện cho chuột có nơi trú ẩn, làm hang,
khống chế đường đi của chuột, hạn chế nguồn thức ăn cho chuột (Nguyễn Bảo
Vệ và ctv., 2005).
1.3.2 Bệnh hại dừa
 Bệnh chảy mủ thân
Do nấm Ceratostomella paradoxa Dade gây ra, từ vết nứt trên thân cây
có chất mủ màu nâu chảy ra, sau đó đậm dần chuyển sang màu đen. Nấm bệnh
thường gây hại trên cây dừa tơ và làm giảm năng suất.
Biện pháp phòng trị: cắt bỏ phần vết thương chảy mủ rồi dùng dầu
hắc bôi vào hoặc dùng thuốc gốc đồng xát lên vết thương (Nguyễn Bảo Vệ và
ctv., 2005).
 Bệnh nứt trái non
Hiện tượng nứt trái có thể do nấm Fusarium sp., do thiếu nước hoặc dư
nước, do côn trùng, thiếu kali làm giảm năng suất. Tùy theo từng nguyên nhân
gây bệnh mà có biện pháp phòng trị thích hợp, tuy nhiên việc cung cấp nước

and Kurian, 1971; Latch and Falloon, 1976; Zelazny, 1979; Bedford, 1986;
Darwis, 1990. Trích từ nguồn Nguyễn Thị Thu Cúc, 2001).
 Đuông
Đuông dừa theo đường đục của kiến vương đi sâu vào trong cây, ngoài
ra đuông cũng theo vết nứt trên thân cây mà xâm nhập vào trong cây. Thường
thì ít phát hiện được sớm khi đuông dừa mới xâm nhập vào thân cây, vì vậy
đến khi thấy những triệu chứng xuất hiện như lá bị vàng, khô và rụng thì cây
không thể phục hồi được. Vì vậy cần có biện pháp kiểm tra vườn dừa thường
xuyên, để nhận biết sớm những cây dừa bị đuông tấn công xuất hiện trên
vườn:


- Có những lỗ đục trên thân trong đó có những sợi tơ còn sót lại và có
chất nhựa dẻo chảy ra.
- Ghé sát tai vào thân dừa để nghe tiếng động do đuông dừa ăn gây ra.
- Chồi ngọn phát triển cằn cỗi, lá non nhỏ không mở ra được sau đó khô
héo và chết khi cây bị gây hại nặng.
Biện pháp phòng trị:
Cần đốn bỏ, chặt sát gốc và đốt những cây bị đuông phá hại nặng nhằm
loại bớt nguồn gây bệnh.
Tiêm thuốc Actara 25 WG, Furadan, Basudin 50 EC,… vào thân cây
dừa khi đuông gây hại chưa đến mức độ nghiêm trọng.
Bịt kín các vết thương trên thân cây bằng thuốc hóa học hoặc bôi trơn
dầu hắc (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005).
 Bọ dừa
Trong thời gian gần đây, bọ dừa (Brontispa longissima Gestro) mới
xuất hiện nhưng tàn phá thật nặng nề ở khắp nơi và gây hại đặc biệt nghiêm
trọng trong những vùng trồng dừa của các tỉnh ở ĐBSCL như tỉnh Bến Tre,
Đồng Tháp, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Kiên Giang,…
Biện pháp phòng trị:

ctv., 2005)
Sâu sừng:
Có tên khoa học là Amathusia phidippus L.. Sâu có chiều dài khoảng 89 cm, trên đầu có 2 sừng, đốt cuối có cập gai nhiều lông, thân màu xám xanh
có sọc đen trên lưng, có chùm lông màu đỏ trên ngực. Sâu ăn lá nhưng sự phá
hại này không nghiêm trọng lắm (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005).
 Nhóm rệp dính, rầy bông
Rệp dính nâu lợt (Aspidiotus destructor Singnoret) không chỉ gây hại
trên dừa mà còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác. Lá bị rệp dính phủ đầy
mặt dưới sẽ khô vì bị hút hết nhựa và các khí khổng lá bị bịt kín. Lá trở màu
lốm đốm vàng hay xanh lợt, yếu đuối, các vết chích khô, mặt trên lá đóng bồ
hống đen như khói đèn, cây dừa mất sức trái rụng sớm và đôi khi cây bị chết.
Nếu cây con bị bệnh nặng thì trị bằng Parthion, các nhũ dầu của thực vật hay
dầu lửa (Tôn Thất Trình, 1974). Rệp dính chích hút nhựa trên lá, làm cho lá
chuyển màu vàng, tác động đến khả năng quang hợp và hạn chế sự phát triển
của trái. Rệp gây hại trên dừa tơ (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005).
Rệp dính đen (Diaspis pentagona Targ) thường chỉ xuất hiện ở lá già
mà thôi (Tôn Thất Trình, 1974).
Rệp dính đỏ (Chrysomphalus dictyosperm) có mai tròn lồi nhưng giữa
mai đỏ chói, dưới mai con cái màu vàng chói (Tôn Thất Trình, 1974).
Rầy bông (Pseudococcusnipae Maskfll) nhận diện nhờ quanh mình rầy
bông có nhiều lông dài, xếp thành hình các ngôi sao (Tôn Thất Trình, 1974).


Trích đoạn Điều tra và khảo sát tình hình gây hại của bọ vòi voi D Frumenti trên Khảo sát diễn biến sự gây hại của bọ vòi voi D.frumenti trên các Thông tin nông hộ Tình hình dừa trên các vườn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status