Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
PHẦN 1 . MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI - thế kỷ của sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ,
thế kỷ của hội nhập hóa kinh tế quốc tế. Thời đại này mở ra nhiều cơ hội song
cũng đặt ra nhiều thách thức với mỗi quốc gia. Cùng với sự phát triển trên thế
giới, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, nền kinh tế - văn hóa - xã hội đang có những chuyển biến mạnh mẽ.Vì
vậy, ở tất cả các ngành nghề hiện nay đều đang có sự thay đổi để ngày càng
phù hợp hơn với yêu cầu đổi mới của toàn xã hội.Với sản phẩm đặc biệt là
con người, giáo dục thực sự là yếu tố quan trọng, là động lực cho sự nghiệp
phát triển bền vững của đất nước. Đổi mới nền giáo dục sao cho đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của xã hội được coi là vấn đề cấp thiết mang tính chất thời
đại, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản lý
giáo dục cũng như chính những giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Để hoàn thành được sứ mệnh to lớn của mình, giáo dục phải đổi mới
một cách toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình
thức tổ chức dạy học hay cả đến khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh.Trong xu thế đó đổi mới về phương pháp dạy học là vấn đề nóng
bỏng được xã hội quan tâm và gần đây được đề cập rất nhiều.Tuy nhiên, việc
vận dụng những nội dung đổi mới đó vào thực tế giảng dạy lại chưa thực sự
hiệu quả. Để việc vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới sao
cho phù hợp, đạt hiệu quả điều quan trọng là cần phải nâng cao hiểu biết của
người giáo viên về xu hướng đổi mới hiện nay sao cho có thể phát huy được
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Tiểu học - bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, có
Nguyễn Thị Trang
gia từ đó chiếm lĩnh kiến thức và hình thành kĩ năng học tập cho bản thân,
phát huy sự chủ động, khả năng sáng tạo của mình. Do đó, tôi đi sâu tìm hiểu
biện pháp dạy học các dạng bài trong chủ đề “Tự nhiên” môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 1, 2, 3. Tôi chọn đề tàì “Dạy học chủ đề Tự nhiên trong môn Tự nhiên
và Xã hội lớp 1, 2 , 3 theo hướng tích cực hóa người học”.
Nguyễn Thị Trang
2
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Dạy học chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự nhiên và Xã hội theo hướng
phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cách thức dạy học các dạng bài trong chủ đề “Tự
nhiên” môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 theo hướng tích cực hóa người
học.
b. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp
1, 2, 3.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Tìm hiểu quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp,
Nguyễn Thị Trang
4
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
PHẦN 2 . NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 . CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
1. Một số khái niệm
- Phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp dạy học bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (Methodos)
có nghĩa là con đường để đạt mục đích dạy học.
Ta có thể hiểu phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và
vận dụng vào một quá trình cụ thể - quá trình dạy học. Đây là quá trình được
đặc trưng bởi tính chất hai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động: hoạt động
của thầy và hoạt động của trò. Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành
trong mối quan hệ biện chứng. Hoạt động của thầy đóng vai trò chỉ đạo (tổ
chức, điều khiển), hoạt động của trò đóng vai trò tích cực, chủ động (tự tổ
chức, tự điều khiển). Phương pháp dạy học phải nhằm thực hiện tốt các hoạt
động dạy học đó là:
+ Trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức khoa học phổ thông cơ
bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước, và hệ thống những kĩ năng, kĩ
xảo tương ứng.
+ Phát triển ở các em năng lực hoạt động trí tuệ.
(2002), Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học đại học, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội)
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người sản
xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo
ra nền văn hóa mỗi thời đại.Tính tích cực của con người biểu hiện trong các
hoạt động, học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học.
Tính tích cực học tập tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng
hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức,
lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm, “khám phá” ra
những hiểu biết mới cho bản thân. Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã
nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như hăng hái, chủ
động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi, khám phá những
điều chưa biết dựa trên những cái đã biết; sáng tạo vận dụng kiến thức đã học
vào thực tế cuộc sống,…
Nguyễn Thị Trang
6
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tính tích cực được biểu hiện qua các cấp độ:
+ Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của
bạn,…
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tính tích cực của học tập của học sinh được thể hiện qua một số đặc
điểm cơ bản sau:
Trong giờ học sinh có chú ý tới bài giảng hay không?
Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi, thảo luận,…
Thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao
Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
Có hứng thú học tập
Biết vận dụng những tri thức được học vào thực tiễn
Có sáng tạo trong quá trình học tập
+ Hoạt động hóa người học
Hoạt động là một khái niệm triết học, đó là một trong những phạm trù
quan trọng của tâm lí học. Hoạt động được xem như là sự đáp ứng của chủ thể
trước tác động của những tác động bên ngoài.
Hoạt động hóa người học là hoạt động nhằm huy động nội lực của bản
thân người học (động cơ, ý chí,…). Nội lực càng phát huy cao bao nhiêu thì
việc học tập càng diễn ra tốt bấy nhiêu. Do đó, hoạt động hóa người học làm
thay đổi chính người học. Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay
thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình.
Phương hướng chung của việc hoạt động hóa người học là quan tâm và
tạo mọi điều kiện để người học trở thành chủ thể hoạt động trong giờ học.
2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học theo hướng tích cực hóa
người học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị
quyết TW4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết TW2 khóa VIII (12/1996), được
đổi mới phương pháp dạy học là một xu thế tất yếu để nâng cao chất lượng.
Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học theo hướng tích cực hóa
người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy. Tuy nhiên
để giờ học đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với
việc dạy theo phương pháp thụ động. Giáo viên là người giữ vai trò hướng
dẫn, gợi ý, tổ chức giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức
mới theo kiểu tranh luận, thảo luận theo nhóm. Họ có vai trò là “trọng tài”
điều khiển tiến trình giờ dạy, phương pháp dạy học này chú ý đến đối tượng,
người học coi trọng việc nâng cao khả năng cho người học, nêu tình huống,
kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của người học; từ
Nguyễn Thị Trang
9
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đó hệ thống hóa các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần
nắm vững.
Muốn đổi mới cách học thì phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo
cách học nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách
dạy của thầy. Chẳng hạn có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực
nhưng giáo viên chưa đáp ứng được hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp
dụng các phương pháp dạy học mới nhưng không thành công vì học sinh chưa
2. Nội dung chương trình chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 1, 2, 3
Trong chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 chủ đề tự nhiên
gồm hai chủ đề nhỏ: Thực vật và động vật; hiện tượng tự nhiên, Mặt Trời,
Mặt Trăng và Trái đất. Những kiến thức được lựa chọn ở mức độ đơn giản,
chỉ trình bày hiện tượng về mặt đính tính, phù hợp với nhận thức của lứa tuổi
học sinh Tiểu học.
- Thực vật và động vật: Một số cây cối và một số con vật phổ biến (tên
gọi, đặc điểm và ích lợi hoặc tác hại đối với con người).
- Hiện tượng tự nhiên: Một số hiện tượng phổ biến của thời tiết (nắng,
mưa, gió, nóng, rét…), Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất
Cấu trúc nội dung chương trình thuộc chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự
nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm, mở rộng
và nâng cao dần từ gần đến xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ
những cây cối, con vật thường gặp đến thiên nhiên rộng lớn, Mặt Trời, Trái
Đất, Mặt Trăng.
Ở lớp 1 gồm 14 tiết, tương ứng với 13 bài mới và 1 bài ôn tập, kiểm tra;
lớp 2 gồm 12 tiết, tương ứng với 10 bài mới và 1 bài ôn tập, kiểm tra (2 tiết);
lớp 3 gồm 31 tiết, tương ứng với 29 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra.
Chương trình chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
dành 3 tiết dạy các bài có nội dung về thực vật (từ bài 22 đến bài 24); 4 tiết
dạy các bài có nội dung về động vật (từ bài 25 đến bài 28); 1 tiết dạy bài có
nội dung nhận biết về thực vật và động vật (Bài 29); 4 tiết dạy các bài có nội
dung về một số hiện tượng thời tiết (Bài 30, bài 32, bài 33, bài 34); 1 tiết dạy
bài có nội dung thực hành về quan sát bầu trời (Bài 31);1 tiết dạy bài có nội
dung ôn tập (Bài 35).
Nguyễn Thị Trang
11
vận dụng để học sinh:
- Quan sát về các loại động vật, thực vật (thông qua các tranh ảnh, vật
thật, …)
- Nhận biết về các loại động vật, thực vật, các hiện tượng tự nhiên, Mặt
Trời, Trái Đất, Mặt Trăng,…
Nguyễn Thị Trang
12
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Vận dụng kiến thức về tự nhiên để hiểu, biết những ích lợi trong cuộc
sống và có các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống của bản thân và gia đình.
3. Đặc điểm chủ đề “Tự nhiên”
3.1. Chương trình chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2,
3 được xây dựng theo quan điểm tích hợp
- Các kiến thức trong chủ đề là kết quả tích hợp kiến thức của nhiều
nghành khoa học: sinh học, vật lý,…
- Tùy theo trình độ nhận thức của học sinh ở từng giai đoạn của giáo
dục Tiểu học, chương trình có cấu trúc phù hợp.
3.2. Chương trình chủ đề “Tự nhiên” trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2,
3 có cấu trúc đồng tâm và phát triển qua các lớp
Trong chủ đề các kiến thức được xuyên suốt theo hai phần:
- Thực vật và động vật
Mặt Trời: nguồn sáng, nguồn nhiệt
Trái Đất: hình dạng, đặc điểm bề mặt (bề mặt trái đất, bề mặt lục địa),
sự chuyển động (ngày, đêm, năm, tháng và các mùa).
Mặt Trăng: trong hệ Mặt Trời
Với chủ đề Tự nhiên các kiến thức được trình bày đi từ cụ thể đến trìu
tượng, từ gần đến xa,từ dễ đến khó, tăng dần mức độ phức tạp và khái quát
hóa, tạo điều kiện để học sinh dễ thu nhận kiến thức.
3.3. Chủ đề “Tự nhiên” là chủ đề mà học sinh có nhiều vốn sống, vốn hiểu
biết để tham gia xây dựng bài học
Vốn sống, vốn hiểu biết đó được hình thành từ trong cuộc sống với gia
đình, làng quê, phố phường nơi các em đang sinh sống.
Các nguồn thông tin ngày càng nhiều và càng dễ tiếp nhận qua thông
tin đại chúng. Mặt khác, chủ đề “Tự nhiên” lại là chủ đề học về thiên nhiên xã
gần gũi bao quanh học sinh. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh hoàn
toàn có khả năng tự phát hiện (khám phá) kiến thức và áp dụng các kiến thức
đó vào cuộc sống. Do đó, trong quá trình giảng dạy giáo viên cần chú trọng
hướng dẫn học sinh biết cách quan sát, nêu thắc mắc, tìm tòi, phát hiện ra
những kiến thức mới về tự nhiên phù hợp với lứa tuổi các em. Đối tượng quan
sát là tranh ảnh, mẫu vật, mô hình,… là cây cối, con vật và một số hiện tượng
thời tiết diễn ra hàng ngày. Giáo viên cũng cần tổ chức những hoạt động thực
hành để học sinh biết cách thực hiện những hành vi có lợi cho tự nhiên, nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh.
Nguyễn Thị Trang
14
K34A – Giáo dục Tiểu học
Nguyễn Thị Trang
15
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trong một bài học, không phải mọi kiến thức học sinh cần lĩnh hội đều
được rút ra từ quan sát, vì vậy giáo viên cần xác định rõ việc tổ chức cho học
sinh quan sát nhằm đạt được mục tiêu kiến thức hay kĩ năng nào.
Bước 2. Lựa chọn đối tượng quan sát
Đối tượng quan sát có thể là các sự vật, hiện tượng đang diễn ra trong
môi trường tự nhiên hoặc các tranh ảnh, mô hình, sơ đồ diễn tả các sự vật,
hiện tượng đó,…Khi lựa chọn đối tượng quan sát, giáo viên cần ưu tiên lựa
chọn các vật thật.
Ví dụ
Với thực vật, giáo viên cần tổ chức cho học sinh quan sát các cây trồng
trong sân trường, vườn trường hay trên đường phố,…Khi không có điều kiện
tiếp xúc với vật thật thì giáo viên nên cho các em quan sát tranh ảnh, mô
hình,….
Trong một số trường hợp, khi học về động vật, giáo viên nên phối hợp
hướng dẫn học sinh quan sát các con vật thật lẫn tranh ảnh, vì khi quan sát vật
thật học sinh được hình thành những biểu tượng sinh động còn tranh ảnh thể
hiện được đối tượng ở trạng thái tĩnh với sự khái quát cao. Điều đó rất có lợi
cho sự phát triển tư duy của học sinh.
học sinh phát hiện ra đặc điểm, ích lợi của một số thực vật và động vật hay
các dấu hiệu để nhận biết một số hiện tượng tự nhiên,…
1.2. Phương pháp thảo luận nhóm
- Khái niệm
Phương pháp thảo luận nhóm là cách tổ chức đối thoại giữa giáo viên
và học sinh, giữa học sinh và học sinh, nhằm huy động trí tuệ của tập thể để
giải quyết một vấn đề do môn học đặt ra, hoặc một vấn đề do thực tế cuộc
sống đòi hỏi, để tìm hiểu và đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, những
quan niệm mới.
- Tác dụng
Thảo luận có tác dụng hình thành năng lực làm việc tập thể, thể hiện
trên ba mặt:
+ Học sinh được tập dượt tham gia tìm hiểu hoặc giải quyết một vấn đề
do tình huống học tập hoặc do thực tế đặt ra.
+ Học sinh được học hỏi bạn, biến kiến thức của bạn thành kiến thức
của mình. Qua thảo luận giúp các em nâng cao năng lực cá nhân.
+ Sử dụng trí tuệ tập thể theo phương châm: hợp tác để đạt được kết
quả cao.
Nguyễn Thị Trang
17
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
18
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
+ Đại diện các nhóm lần lượt báo cáo kết quả;
+ Các nhóm khác bổ sung, góp ý,…;
+ Giáo viên kết luận.
- Khả năng ứng dụng
Phương pháp thảo luận nhóm được ứng dụng để dạy hầu hết các bài
học trong chủ đề “Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 .Việc
thảo luận thường được diễn ra sau khi giáo viên cho học sinh quan sát đặc
điểm bên ngoài hoặc bên trong của một số thực vật, động vật qua vật thật
hoặc tranh ảnh, mô hình,…học sinh thảo luận để tìm ra đặc điểm của thực vật,
động vật hay các hiện tượng trong tự nhiên.
1.3. Phương pháp trò chơi học tập
- Khái niệm
Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của
học sinh.
- Tác dụng
+ Làm thay đổi hình thức học tập;
+ Làm không khí trong lớp học được thoải mái, dễ chịu hơn;
+ Làm quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn;
+ Học sinh thấy vui, nhanh nhẹn, cởi mở hơn;
+ Học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực hơn;
+ Học sinh được củng cố và hệ thống hóa kiến thức;
Phương pháp đàm thoại (phương pháp hỏi đáp) là phương pháp giáo
viên đặt ra những câu hỏi để giáo viên và học sinh đối thoại nhằm gợi mở,
dẫn dắt học sinh lĩnh hội nội dung bài học.
- Tác dụng
Phương pháp đàm thoại được vận dụng tốt sẽ có tác dụng kích thích
tính tích cực, hứng thú, độc lập, sáng tạo của học sinh trong học tập; bồi
dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời nói và làm cho không khí lớp
học sôi nổi.
Phương pháp đàm thoại không chỉ có tác dụng giúp học sinh nhận kiến
thức mà còn có tác dụng đánh giá kết quả của học sinh. Nhờ đó, giáo viên
thường xuyên thu được những tín hiệu ngược từ phía học sinh để điều chỉnh
hoạt động dạy và học.
Nguyễn Thị Trang
20
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Để tăng thêm hiệu quả của phương pháp hỏi đáp, giáo viên cần tổ chức
đối thoại nhiều chiều: giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh và học sinh giáo viên.
- Cách tiến hành
Giáo viên có thể tổ chức hoạt động của học sinh theo ba phương án sau:
+ Phương án 1: Giáo viên đặt câu hỏi nhỏ, riêng rẽ rồi chỉ định từng
học sinh trả lời (hoặc để học sinh tự nguyện). Tổ hợp các câu hỏi và đáp án là
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Tác dụng
Giúp học sinh hiểu rõ và vận dụng vào lý thuyết vào thực hành, luyện
tập, hình thành kỹ năng.
- Cách tiến hành
Bước 1: Giúp học sinh hiểu vì sao thực hành kỹ năng đó và một số
thông tin quan trọng khác.
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn để học sinh biết trình tự các bước và cách
thực hiện từng thao tác.
Bước 3: Tổ chức cho học sinh thực hành.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả thực hành trước lớp.
- Khả năng ứng dụng
Phương pháp thực hành được sử dụng nhiều trong các bài học về thực
hành trong chủ đề “Tự nhiên” môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3. Học sinh
thực hành nhận biết một số loài thực vật, động vật, các hiện tượng đơn giản
trong tự nhiên,…
1.6. Phương pháp động não
- Khái niệm
Phương pháp động não là phương pháp dùng để giải quyết nhiều vấn đề
khác nhau, giúp người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý
tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
- Tác dụng
+ Học sinh trả lời nhanh;
+ Khắc phục sự ngượng ngùng khi trình bày ý kiến;
+ Tránh trả lời hấp tấp với thời gian hạn định;
+ Tự do, chân thực, trong việc tham gia các hoạt động mà không quan
tâm đến hạn chế cá nhân.
- Cách tiến hành
2. Vài nét về phương tiện và hình thức dạy học chủ đề
2.1. Về phương tiện dạy học
2.1.1. Khái niệm
Phương tiện dạy học (hay còn gọi là đồ dùng, thiết bị dạy học), là một
vật thể hay một tập hợp các vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy
học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm,
đặc điểm, tính chất,… và hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết.
Nguyễn Thị Trang
23
K34A – Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.1.2. Các phương tiện dạy học chủ đề “Tự nhiên”
Các tranh, ảnh; mô hình giáo khoa và mẫu vật cây cối, con vật; băng
hình sách giáo khoa hay các phần mềm dạy học là những đồ dùng, dụng cụ
được sử dụng trong dạy học chủ đề này.
2.2.1.1. Tranh ảnh
Tranh là tác phẩm hội họa phản ánh hiện thực bằng đường nét, màu sắc.
Ảnh là hình người, vật thu được bằng khí cụ quang học.
Tranh, ảnh được sử dụng phổ biến trong các bài học thuộc chủ đề “Tự
nhiên”, chủ yếu là tranh ảnh trong sách giáo khoa.
2.2.1.2. Mô hình giáo khoa, mẫu vật
Mô hình giáo khoa, mẫu vật là phương tiện dạy học trực quan phản ánh
cần thiết và phù hợp với trạng thái tâm lý học sinh mà giáo viên đã tạo ra
trong tiết học. Ngoài ra cũng có các đồ dùng được trưng bày thường xuyên
trong phòng học nhằm khắc sâu và củng cố kiến thức.
- Đảm bảo sử dụng đúng chỗ: Khi sử dụng đồ dùng dạy học, giáo viên
cần tìm vị trí để trình bày cho hợp lý, sao cho học sinh ngồi ở các vị trí trong
lớp học đều có thể tiếp nhận thông tin từ đồ dùng dạy học.
- Đảm bảo sử dụng đúng mức độ và cường độ: Nội dung và phương
pháp sử dụng đồ dùng dạy học phải phù hợp với yêu cầu của tiết học và trình
độ tiếp thu của học sinh.
- Phải kết hợp sử dụng thiết bị dạy học đã được trang bị với việc tận
dụng, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, kĩ thuật ngoài xã hội.
2.2. Hình thức tổ chức dạy học chủ đề
2.2.1. Khái niệm
Hình thức tổ chức dạy học là sự biểu hiện bên ngoài của hoạt động
được phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh, được thực hiện theo một
trật tự xác định và một chế độ nhất định. Các hình thức tổ chức dạy học là
hình thái tồn tại của quá trình dạy học.
2.2.2. Các hình thức tổ chức dạy học
Các hình thức tổ chức dạy học rất đa dạng nhưng có thể kể đến hai hình
thức cơ bản sau được sử dụng chủ yếu khi dạy học chủ đề.
- Hình thức dạy học trong lớp
Hình thức dạy học trong lớp được tổ chức ở dạng tiết học. Hình thức
này được áp dụng cho nhiều môn học, dạy học chủ đề “Tự nhiên” trong môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 cũng sử dụng chủ yếu hình thức này.
Nguyễn Thị Trang
25
K34A – Giáo dục Tiểu học