Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái ở việt nam và những biến động của nó từ năm 2007 đến tháng11/2010 - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, xu hướng quốc tế hóa đang diễn ra một cách sâu sắc, toàn diện trên
phạm vi toàn thế giới và là quy luật khách quan mà Việt Nam cần sớm nắm bắt và vận
dụng. Việc tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007 tạo cơ hội tốt
cho Việt Nam tham gia vào thị trường kinh tế thế giới đồng thời cũng đặt ra những
thách thức không nhỏ. Trước những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới do cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu bùng nổ vào cuối năm 2008 mang lại, Việt
Nam đã phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn như: Lạm phát tăng cao ở mức hai
chữ số trong năm 2007 (12.6 % / năm) và năm 2008 (19.89%) chủ yếu là do dòng vốn
nước ngoài chảy vào sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO, mà chiếm phần lớn là dòng
FII tạo áp lực mất giá VND. Cán cân thương mại thì luôn trong tình trạng thâm hụt kể
từ năm 1990 đến nay, nhất là giai đoạn 2007- 2009. Nguyên nhân của tình trạng bất ổn
trên ngoài các yếu tố khách quan, phải kể đến các yếu tố chủ quan thuộc về chính sách
vĩ mô, trong đó có chính sách tỷ giá của Việt Nam.
Vấn đề tỷ giá do đó mà trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết. Nó có vai trò vô
cùng quan trọng đối với sự phát triển và ổn định kinh té vĩ mô của nước có độ mở kinh
tế lớn như Việt Nam. Là một nước đi những bước đầu tiên vào sự hội nhập với thế giới
thì hơn bao giờ hết việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái đang trở thành vấn đề cấp bách đặt
ra cho chúng ta. Xuất phát từ thực tế khách quan đó, nhóm chúng em đã chọn nghiên
cứu đề tài : “ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM VÀ
NHỮNG BIỄN ĐỘNG CỦA NÓ TỪ NĂM 2007 ĐẾN THÁNG 11/2010”
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:

3.
1.
2.
3.

Mục tiêu nghiên cứu: Nhận thức được tầm ảnh hưởng sâu sắc của các yếu tố vĩ

................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................
................................................................................................................................................................

MỤC LỤC
I : TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI......................................................3
1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái ...........................................................................................3
1.2 Phân loại tỷ giá.............................................................................................................3
1.3 Chế độ tỷ giá Việt Nam................................................................................................5
Page 3


đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác.
Ví dụ : Tỷ giá bán ra của ngân hàng ngoại thương Việt Nam ngày 09/10/2010 là
1USD=19.58157VND.
Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là loại giá cả nhưng là giá cả của một loại
hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ.
1.2 Phân loại tỷ giá :

Có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác
nhau.


Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm :

-

Tỷ giá chính thức : là một loại tỷ giá do ngân hàng trung ương của mỗi nước công bố.
Tỷ giá này đươc công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của ngân hàng trung ương.
Dựa vào tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá
mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi. Ở một số nước như Pháp, tỷ giá hối
đoái chính thức được ấn định thông qua nhiều giao dịch vào thời điểm xác định trong
ngày.

-

Tỷ giá kinh doanh : là tỷ giá dùng để kinh doanh mua bán ngoại tệ. Tỷ giá này do các
ngân hàng thương mại hay tổ chức tín dụng đưa ra. Cơ sở xác định tỷ giá nầy là tỷ giá
chính thức do ngân hàng trung ước công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp
đến kinh doanh như : quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người
giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán. Tỷ giá kinh doanh bao gồm tỷ giá mua, tỷ
giá bán.

Tỷ giá đóng cửa : tỷ giá mua bán ngoại của hợp đồng ký kết cuối tuần trong ngày.



Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá :

-

Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề
cập đến tương quan sức mua giữa chúng.

-

Tỷ giá thực là tỷ giá được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan giá của của
nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá.



Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối :

-

Tỷ giá điện hối : là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Đây là cơ sở để xác định các
loại tỷ giá khác.

-

Tỷ giá thư hối : là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.




Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình
liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối. Chế độ tỷ giá
hối đoái của mỗi nước tại mỗi thời kỳ có thể khác nhau nhưng về cơ bản là có chế độ
tỷ giá thả nổi theo đó thị trường quy định những biến động của tỷ giá và chế độ tỷ giá
cố định theo đó nhà nước sẽ can thiệp để tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của nước mình
với đồng tiền của các nước khác không đổi, hoặc là một chế độ nằm giữa hai giải pháp
gốc đó. Việt Nam là một nước mới hội nhập và cũng là nước có thị trường ngoại hối
chưa phát triển vì vậy việc chọn chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của NHTW là một
sự lựa chọn có thể nói là đúng đắn, chế độ tỷ giá này đã vận dụng được ưu điểm và hạn
chế nhược điểm của chế độ tỷ giá thả nổi và chế độ tỷ giá cố định.
Với chế độ tỷ giá cố định, chính phủ khó có thể định giá chính xác giá trị của
đồng tiền Việt Nam so với các đồng tiền khác. Nếu đồng tiền Việt Nam được định
giá cao làm cho hoạt động xuất khẩu khó khăn, thâm hụt cán cân thương mại, do đó
chính phủ sẽ tiến hành phá giá đồng tiền, làm cho hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ
hơn, hàng nhập khẩu đắt hơn. Nếu đồng tiền Việt Nam được định giá thấp làm cho
xuất khẩu nhiều hơn, thặng dư cán cân thương mại, nhưng nhập khẩu trở nên đắt
hơn, chính phủ nâng giá đồng nội tệ làm nhập khẩu rẻ hơn. Việc theo đuổi một chế
độ tỷ giá cố định sẽ tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn, tạo điều kiện cho giới đầu cơ tấn
công khi biết rằng NHTW của nước đó sẽ cố gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ
không chịu để nó mất giá và NHTW sẽ phải sử dụng một khoảng dự trữ ngoại tệ
nhằm can thiệp vào thị trường khi cần thiết đã gây một sự lãng phí lớn cho tài
nguyên vốn, nếu khoản dự trữ này được đem đầu tư sẽ mang lại những lợi ích đáng
kể cho nền kinh tế.
Với chế độ tỷ giá thả nổi, đồng tiền sẽ xuống giá hoặc lên giá cùng với những
biến động của thị trường làm cho cán cân thanh toán ở trạng thái cân bằng nhưng
gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc xác định tỷ giá do đó ảnh hưởng đến
hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu. Vì vậy, từ năm 2000 trở đi, Việt Nam chuyển từ chế độ tỷ giá cố
định sang thả nổi nhưng có điều tiết của nhà nước đã có tác động tích cực đối với

nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn
trên thị trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang
dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, do đó tỷ
giá hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu
hơn, hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái
tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá
ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng
tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản
nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong trường hợp
Page 8


các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát
tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc
gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.
2.3 Tác động của cán cân thương mại
Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để
tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua
hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài.
+ Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm.
+ Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ
để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường.
Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai
hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái
cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân
tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung
ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm
hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
2.4 Tác động của thu nhập
Khi thu nhập của một nước tăng đáng kể đối với đối tác thương mại của nó thì

Khi can thiệp vào tỷ giá hối đoái, Chính phủ có thể can thiệp trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua các chính sách, các hàng rào của chính phủ.
Can thiệp trực tiếp : NHTW có thể mua vào hay bán ra ngoại tệ để tác động lên

-

tỷ giá.
-

Can thiệp gián tiếp thông qua các chính sách của Chính phủ: NHTW có thể tác
động đến đồng nội tệ một cách gián tiếp bằng cách tác động đến các yếu tố có ảnh
hưởng đến đồng tiền nước mình. Thí dụ các NHTW có thể hạ thấp lãi suất đồng nội tệ
để làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đầu tư vào các trái phiếu Chính
phủ, do đó tạo áp lực giảm giá đồng nội tệ. Hay để tăng giá đồng nội tệ, NHTW có thể
tìm cách nâng lãi suất.
Can thiệp gián tiếp qua các hàng rào của Chính phủ : Chính phủ có thể tác động
gián tiếp đến tỷ giá bằng cách đặt các hàng rào đối với tài chính và thương mại quốc tế
hay áp dụng các hạn ngạch để hạn chế hàng nhập khẩu hay cũng có thể miễn thuế đánh
trên bất kỳ thu nhập nào do đầu tư vào nội địa từ các nhà đầu tư nước ngoài. Biện pháp
này sẽ làm gia tăng nhu cầu của nước ngoài đối với đồng nội tệ.
Nhiều hàng rào khác có thể được Chính phủ áp dụng để làm thay đổi tỷ giá.
2.6 Tác động từ các yếu tố khác :
+ Yếu tố tâm lý :
Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và tổ chức kinh doanh ngoại tệ là các
tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt động mua bán ngoại tệ của
họ trên thị trường tạo nên cung cầu ngoại tệ. Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu
tố tâm lý, tin đồn cũng như kì vọng vào tương lai. Tức giá ngoại tệ hiện tại phản ánh kì
vọng của dân chúng trong tương lai. Nếu mọi người kì vọng tỷ giá sẽ tăng trong tương
lai, đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại. Giá ngoại tệ cũng rất
nhạy cảm với thông tin, chính sách của Chính phủ. Nếu có tin đồn Chính phủ sẽ hỗ trợ

và Euro cho các ngân hàng, giá xăng dầu, sắt thép tăng mạnh…
Tình hình trong nước
Năm 2007 là năm mà Việt Nam phải đối mặt với vấn đề xử lý các nguồn
vốn ngoại tệ chuyển vào trong nước với khối lượng rất lớn, tăng đột biến, chủ yếu từ
các nguồn:
-

Vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoáng năm 2007 ước tính đạt từ 5,5- 6,5 tỷ
USD.
Nguồn kiều hối chuyển về nước tăng mạnh, năm 2007 tăng đột biến, ước tính đã vượt
con số 7,5 tỷ USD
Page 11


-

-

-

Các nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI và vốn ODA tăng mạnh. Năm 2007, lượng vốn
FDI đổ vào Việt Nam đạt 20,3 tỷ USD. Vốn ODA cam kết 4,46 tỷ USD của năm 2007,
mặc dù số thực tế giải ngân chỉ 2 tỷ USD.
Về kim ngạch xuất nhập khẩu thì riêng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 48 tỷ USD,
tăng 20,5% so với năm 2006, kim ngạch nhập khẩu đạt 60,33 tỷ USD, tăng 33,1% so
với năm trước,nâng mức nhập siêu lên mức kỷ lục tới 12,4 tỷ USD.
Lượng khách du lịch đổ vào Việt Nam tăng…
Nền kinh tế mở cửa mạnh mẽ và hội nhập nhanh với thế giới dẫn đến luồng
vốn ngoại tệ đổ vào trong nước nhiều hơn. Đó là điều rất đáng mừng, tuy nhiên vấn đề
đặt ra đó là nó cũng tác động không nhỏ đối với chính sách của NHNN Việt Nam về

hút mạnh của NHNN ở 5 tháng đầu năm bắt đầu có tác dụng mạnh khi tỷ giá những
tháng sau đó bắt đầu tăng.
Trong thời gian đó, NHNN đã làm theo chỉ đạo của Chính phủ là tích cực mua
ngoại tệ vào để tỷ giá không giảm xuống nữa. Trên thực tế, tỷ giá hối đoái danh nghĩa
đã được tăng lên để không có sự chênh lệch so với tỷ giá chính thức do NHNN công
bố, làm như vậy nhằm có lợi cho xuất khẩu và ổn định vĩ mô. Thời điểm đó, Thống
đốc Lê Đức Thúy cũng cho biết: “NHNN vẫn đang tiếp tục phải mua ngoại tệ vào mặc
Page 13


dù lượng ngoại tệ chào bán đến giờ đã ít hơn 5 tháng vừa qua”. ( 5 tháng qua, NHNN
đã mua được một lượng ngoại tệ dự trữ tăng khoảng 7 tỷ USD). Tới đây, lượng cung
ngoại tệ sẽ tiếp tục đổ vào qua con đường đầu tư trực tiếp, gián tiếp, qua con đường
chuyển tiền... Do đó không có sự căng thẳng về cung – cầu ngoại tệ.
Lượng dư thừa ngoại tệ không nhiều, tỷ giá tăng lên nhưng mức tăng vẫn nằm
trong ý đồ điều chỉnh tỷ giá mà NHNN thực hiện hàng năm, với mức biến động xoay
quanh 1%”.2
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng ngày 15/8 của Sở giao dịch NHNN là
16.213VND/USD và các NHTM cũng bán ra với mức 1USD = 16.213VND. Còn trên
thị trường tự do để mua 1USD phải cần tới 16.290VND. So với thời điểm đầu năm, tỷ
giá của các NHTM vào thời điểm ngày 15/8/2007 đã tăng khoảng 0,98% sát với mức
1% mà MHNN dự kiến cho cả năm.
Nguyên nhân nguồn cung được chú ý hơn cả, trước hết là từ tác động mua vào
mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà nước, kế đến là nhu cầu của doanh nghiệp. Trong các
quyết định tăng lãi suất thời điểm này, các ngân hàng đều có cùng nhận định nhu cầu
vay ngoại tệ của doanh nghiệp đang tăng mạnh.
Theo nhận định của một lãnh đạo Sở Giao dịch NHNN, vay ngoại tệ, cụ thể là
USD, lúc này lợi hơn vay VND, bởi không phải đối mặt với lạm phát đang tăng cao và
có lãi suất thấp hơn. Ghi nhận của Sở Giao dịch tại thời điểm đó là “hiện cầu cao
nhưng hầu hết các ngân hàng đều khá chủ động được nguồn vốn; hiện chưa có nhu cầu

đạo USD chỉ còn 4,25%/năm. Do đó lãi suất huy động vốn USD của các NHTM trong
nước cũng phải giảm xuống dưới mức 4%/năm, giảm gần 1%/năm so với thời điểm
cao nhất. Nhiều người gửi USD cảm thấy thiệt vì tỷ giá giảm mạnh trong khi đó lãi
suất gửi USD thấp chỉ bằng dưới 40% so với gửi tiết kiệm đồng Việt Nam cùng kỳ
hạn. Bởi vậy nhiều người có nguồn USD đã bán đi lấy VND gửi tiết kiệm. Các doanh
nghiệp cũng bán USD không để gửi trên tài khoản. Bên cạnh đó do lãi suất vay vốn
USD thấp, chỉ bằng dưới 1/2 lãi suất vay vốn nội tệ. Do đó nhiều doanh nghiệp vay
USD sau đó bán đi lấy VND sử dụng. Tất cả các nguyên nhân đó càng làm cho cung
ngoại tệ tăng mạnh. Dẫn đến điều không thể tránh khỏi là tỷ giá giảm vào cuối năm.
NHNN khép lại một năm điều hành chính sách tiền tệ bằng quyết định nới rộng
biên độ tỷ giá VND/USD (từ +/-0,5% lên +/-0,75%). Đây là lần điều chỉnh thứ 3 từ
đầu năm 2007, thể hiện chủ trương tạo điều kiện kinh tế Việt Nam thích nghi dần với
mức độ mở cửa, đưa tỷ giá sát hơn với thị trường. Trước đó, sức ép từ cung ngoại tệ đã
đẩy tỷ giá của các NHTM xuống sàn biên độ trong thời gian dài. Tính chung cả năm,
tỷ giá VND/USD tương đối ổn định, chỉ tăng bình quân 0,62% so với năm 2006.
Năm 2007, lãi suất huy động USD chứng kiến 3 đợt tăng phổ biến, ngược với
diễn biến trên thị trường thế giới. Trong khi đó, lãi suất VND tương đối ổn định, cân
bằng từ xu hướng giảm nhẹ đầu năm và tăng nhẹ cuối năm. Sự ổn định này đã góp
phần tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đáng chú ý là những
Page 15


tháng cuối năm, lãi suất trên thị trường mở có những thời điểm tăng đột biến, phản ánh
cầu nội tệ khá căng thẳng ở một số NHTM.
3.2 Năm 2008
Năm 2008 có thể được coi là "năm bất ổn của tỷ giá" với những
biến động tỷ giá rất phức tạp với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô,
cung cầu ngoại tệ và thậm chí cả tin đồn. Chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ
giá đã được điều chỉnh 5 lần, một mật độ chưa từng có trong lịch sử.
Quý I/2008 (1/1/2008 – 31/3/2008): Tỷ giá USD/VND giảm, sau đó

tính từ ngày 21/3 đến 28/3 tỷ giá đã tăng từ 15830 lên 16120. Nguyên nhân là do
NHNN áp đặt trần lãi suất huy động không vượt quá 12%/năm nhằm chấp dứt tình
trạng các NHTM đua lãi suất, ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi giữ tiền đồng. Nhập
siêu quý I/2008 tới 7,3 tỷ USD do một phần nhiều nhà đầu tư chứng khoán chuyển vốn
sang vàng. Theo ước tính Việt Nam nhập trên 30 tấn vàng, gấp hơn 3 lần so với cùng
kỳ hằng năm, nhu cầu ngoại tệ đối với nhập khẩu tăng khá mạnh làm cho nguồn cung
USD bị sức ép lớn. Giá USD tăng làm cho những DN khác dù chưa đến hạn thanh toán
cũng yêu cầu mua USD để tránh rủi ro làm cho cầu USD tăng mạnh hơn.
Qúy II/2008 (1/4/2008 – 30/6/2008) : Tỷ giá USD/VND tăng mạnh.
Trong giai đọan này tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh vào
giữa tháng 6, đỉnh điểm là 19.400 VND/USD(ngày 18/6), sau đó dịu lại
khi NHNN nới rộng biên độ từ 1% lên +/-2%(ngày 27/6) và kiểm sóat chặt

các bàn thu đổi.
Page 17


Nguyên nhân:
+ Lạm phát trong nước tăng: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng
4/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng lên hai chữ số là 11,6%; gần bằng tốc
độ của cả năm 2007 (12,63%). Lạm phát tháng 5 tiếp tục tăng 3,91%, cao
nhất kể từ đầu năm đến nay, đẩy chỉ số tiêu dùng trong 5 tháng đầu năm
lên đến 15,96%. Với tốc độ tăng giá tiêu dùng đã lên đến 15,96% trong 5
tháng đầu năm, tức là tăng trên 3%/tháng, trong khi lãi suất tiết kiệm chỉ
khoảng trên dưới 1,2%/tháng, nghĩa là tốc độ tăng giá tiêu dùng cao gấp
2,5 lần lãi suất tiết kiệm dẫn đến lãi suất tiền gửi thực bị âm. Tâm lý lo sợ
VND ngày càng mất giá, người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng
mà dùng đồng tiền để mua sắm, dự trữ,… còn DN thì bị khóa van tín
dụng, do lãi suất huy động cao, kéo theo lãi suất cho vay cao đến chóng
mặt 21%/năm, nên không còn tiền phải rút tiền gửi về để mua hàng hóa,

ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuất khẩu vàng; bán
ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn.
+ Do cung cầu ngoại tệ trên thị trường tương đối cân bằng nên mặc dù tỷ giá
bình quân trên thị trường liên ngân hàng ổn định (ngày 29/8 ở mức 16.495đ/USD, tăng
0,02% so với cuối tháng trước), nhưng tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại
có xu hướng giảm (tỷ giá giao dịch ngày 29/8 giảm 1% so với cuối tháng trước). Trên
thị trường tự do, tỷ giá USD/VND bám sát tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại
và ngày 29/8 dao động ở mức 16.520-16.560 đ/USD ở Hà Nội và 16.510-16.550
đ/USD ở TP.HCM.
+ Tỷ giá USD/VND trong tháng 9/2008 không có sự biến động nhiều, chỉ có gia
tăng mạnh từ 16.620 lên 16.740 (ngày 15/9 đến ngày 19/9), sau đó giảm xuống chỉ
còn 16.630 VND/USD trong ngày 24/9. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tại Mỹ. Thị trường thế giới có những tín hiệu khả quan về các
biện pháp giải cứu ngành tài chính Mỹ trị giá 700 tỷ USD.
Quý IV/2008 (1/10/2008 – 31/12/2008)
Từ cuối tháng 9 cho đến 19/10 tỷ giá tiếp tục được ổn định quanh
mốc 16.610 VND/USD. Tuy nhiên, thời gian từ 15/9 đến 24/10 ở cả hai
sàn HASTC và HOSE, nhà đầu nước ngoài đã bán ròng hơn 12.500 tỷ
đồng (750 triệu USD) giá trị cổ phiếu và trái phiếu. Một phần trong số này
được dùng để mua USD đã gây sức ép lên tỷ giá trong thời gian qua.
Ngày 22/10 tỷ giá USD/VND ở các NHTM bất ngờ tăng vọt tới mốc 16.800
VND/USD, trong khi tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn ổn định, thậm chí giảm nhẹ.
Ngày 23/10, giá bán ra đồng USD của các NHTM đồng loạt niêm yết ở mức 16.850
VND, sát trần biên độ +/-2% theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, một phần là do
cũng trong ngày này NHNN đã quyết định giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 13%.
Sau đó giá USD bán ra của các NHTM cũng giảm nhẹ, ngày 27/10 xuống còn 16.847
VND/USD và đang có xu hướng ổn định. Giá USD trên thị trường tự do cũng đã
Page 19



Cuối cùng, giá hàng hoá cơ bản giảm sẽ tác động tiêu cực và ngay lập tức đến
ngân sách chính phủ. Các khoản thu từ xuất khẩu dầu thô, thuế VAT và thuế tiêu thụ
đặc biệt sẽ giảm đáng kể.
Chính sách từng bước giảm giá VND: Trong hai năm 2007-2008, Việt Nam tiếp
nhận một lượng vốn lớn từ nước ngoài. Đồng thời để thúc đẩy tăng trưởng Chính phủ
đã không ngừng đẩy mạnh đầu tư. Hệ quả là thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại

Giá trị bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài taih HaSTC từ 15/9 đến 24/10
(nguồn dữ liệu: UBCKNN)

nặng nề và nền kinh tế trở nên quá nóng. Để khuyến khích xuất khẩu Chính phủ đã
từng bước giảm giá VND và chú trọng đúng mức tới xu thế và mức tỷ giá hiệu dụng
thực. Quyết định nới rộng biên độ tỷ giá thêm ±3% vào ngày 25/12/2008 là một sự
Page 21


khởi đầu đúng hướng trong chính sách tỷ giá (thực chất là giảm VND 3%). Theo thực
tế thì thị trường đã phản ứng tích cực với điều chỉnh của NHTW.
Nhìn chung chính sách tỷ giá của Việt Nam trong năm 2008 đã được nhiều
chuyên gia kinh tế đánh giá là hợp lý và kịp thời. Trong năm 2008 có nhiều ý kiến cho
rằng Việt Nam sẽ phá giá nội tệ và kịch bản khủng hoảng kinh tế 1997-1998 Thái Lan
sẽ lặp lại ở Việt Nam. Tuy nhiên kết thúc năm 2008 Việt Nam vẫn kiểm soát được tỷ
giá USD/VND không quá cao và không biến động nhiều. Tính đến ngày 20/12/2008 tỷ
giá USD/VND niêm yết tại NH Vietcombank là 16.990 không cao như các dự báo
trước đó.

3.3 Năm 2009
Năm 2009 là một năm Việt Nam đạt được khá nhiều thành tựu kinh tế vĩ mô
như tăng trưởng GDP đạt 5.32 %, lạm phát ở mức thấp nhất trong vòng 6 năm trước đó
6,88%; đây có thể được coi là một cuộc phục hồi khá ấn tượng của Việt Nam sau cuộc

2009 là 12,2 tỷ USD chiếm 21,6% kim ngạch xuất khẩu đã làm mất cân đối cung cầu
ngoại tệ, gây sức ép giảm giá VND.

Luồng ngoại tệ
Page 23


Trong năm 2009, luồng ngoại tệ đổ vào giảm đáng kể, ảnh hưởng đến cán cân
tổng thể, gây sức ép tỷ giá VND/USD.

a. Về FDI: Tác động kéo dài của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lớn nhất trong vòng

80 năm qua đã làm FDI toàn cầu trong năm 2009 giảm 38,7% so với năm 2008 và xấp
xỉ 50% so với năm 2007. Ở Việt Nam cũng vậy, vốn đầu tư trực tiếp FDI đăng ký vào
Việt Nam cả năm 2009 đạt 21,5 tỷ VND, vốn thực hiện 10 tỷ VND, chỉ bằng 30% so
với năm 2008
b. Về nguồn vốn FII: 3 tháng đầu năm khi mà nền kinh tế toàn cầu còn chao đảo thị
trường chứng khoán vẫn tụt dốc cũng là lúc các nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh rút
vốn khỏi Việt Nam. Trên tổng quy mô vốn 8 tỷ USD, số vốn FII chảy ra khỏi thị
trường là 700 triệu USD, nhất là ở thị trưởng chứng khoán Việt Nam với tháng 9 bán
ròng kỷ lục với hơn 2.000 tỷ đồng trên HOSE. Mặc dù khối đầu tư nước ngoài đã trở
lại mua ròng liên tiếp trong 3 tháng cuối năm vì thị trường chứng khoán phục hổi mạnh
mẽ thời điểm này nhưng lượng vốn vào vẫn ở mức khá thấp, khoảng 3-5 triệu
USD/ngày. Do vậy nguồn vốn FII gồm chủ yếu chứng khoán cổ phần và chứng khoán
nợ giảm mạnh từ 8,6% GDP (năm 2007) xuống 2% GDP (năm 2009).
c. Kiều hối giảm 12,5 % (năm 2008: 7,2 tỷ USD, năm 2009: 6,3 tỷ USD).
Dự trữ ngoại hối:
Sau mức kỉ lục 26,4 tỷ USD vào tháng 3/2008, dự trữ ngoại hối của Việt Nam
giảm dần còn 23,8 tỷ USD vào cuối năm 2008 và còn 16 tỷ USD vào cuối tháng
10/2009, qua đó cũng làm tăng sức ép giảm giá VND.

ngờ tăng vọt lên mức xấp xỉ 18.500 VND/USD, thời điểm ngày 27/11/2009, tỷ giá còn
lên đến 18.750 VND/USD.
Nguyên nhân chủ yếu của diễn biến bất thường này là ngày 26/11/2009, NHNN
điều chỉnh tỷ giá BQLNH tăng 5,16%, từ 17.034 lên 17.961 VND/USD (Quyết định
2666/QĐ-NHNN). Động thái điều chỉnh tỷ giá BQLNH của NHNN mục đích giảm
căng thẳng thực trạng tỷ giá xuất phát từ việc liên tục xuất hiện các nhân tố đã nói trên
gây sức ép giảm giá VND .
Cũng giống như các lần tăng tỷ giá trước đó (ngày 11/6/2008 và ngày
25/12/2008), sau ngày 26/11/2009, tỷ giá BQLNH có xu hướng giảm 1-3 VND mỗi
ngày, đặc biệt ngày 2/12 giảm tới 5 VND kéo theo tỷ giá giao dịch tại các NHTM cũng
giảm theo. Cộng với biên độ tỷ giá trong tháng 12 lại giảm còn ±3% cũng như các biện
Page 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status