MỐI QUAN HỆ GIỮA TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT.
1.1 Môi quan hệ lý thuyết giữa tiền tệ và lạm phát
1.2 Khái niệm lạm phát
Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát đã được đưa ra. Mac cho rằng: “lạm phát
là sự phát hành tiền mặt quá lố”. Lênin cũng đưa ra: “lạm phát là sự thừa ứ tiền giấy trong các kênh
lưu thông”. Năm 1960 Miton Friedman khẳng định: “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện
tượng tiền tệ”.Một số tác giả lại quan niệm: lạm phát là tình trạng mức giá chung tăng lên. Một số
khác nhấn mạnh tính liên tục của hiện tượng tăng giá và độ dài thời gian. Kết hợp những ý tưởng
khác nhau đó, ta có thể đưa ra khái niệm: Lạm phát là tình trạng mức giá chung của hàng hóa và dịch
vụ tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian nhất định bao lâu tùy thuộc vào đánh giá
của từng người.
1.2 Các phép đo chủ yếu của chỉ số lạm phát
Có rất nhiều phép đo khác nhau về chỉ số lạm phát vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng của
mỗi hàng hóa trong chỉ số và phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo chủ yếu của
chỉ số lạm phát bao gồm:
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): đo lường giá cả của tất cả các hàng hóa thường xuyên được mua bởi "người
tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi
theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát hay được nhắc tới.
- Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập,
trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với
nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem
như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI. CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang bằng sức mua" để
phản ánh khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một
cách rất lớn từ giá cả thế giới).
- Chỉ số giá sản xuất (PPI): đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua
đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là
giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây
cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong
CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm
phát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác
nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.
là do thiếu hụt ngân sách nhà nước. Số thiếu hụt này được tài trợ bằng nhiều cách: phát hành trái phiếu,
vay mượn ở nước ngoài và vay mượn ở ngân hàng trung ương. Một khi ngân hàng trung ương tài trợ
thâm hụt ngân sách nhà nước tức là ngân hàng trung ương đã trực tiếp làm tăng khối cung tiền. Vay
mượn của nước ngoài cũng làm tăng khối tiền tệ. Khối tiền tệ tăng làm cho tổng số chi trả tăng, do đó
gây ra áp lực lạm phát. Tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng chủ yếu là do hệ thống chính trị khủng hoảng,
kinh tế suy thoái làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ tiền tệ nhà nước bị xói mòn, từ đó gây ra
tâm lý chạy trốn đồng tiền mất giá.
1.4.2 Do chi phí đẩy
Khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các yếu tố sản xuất chưa được sử
dụng đầy đủ được gọi là lạm phát do chi phí đẩy. Nhiều nhà kinh tế cho rằng tiền lương tăng lên là một
nguyên nhân đẩy chi phí tăng lên khi tốc độ tăng tiền lương cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Một
số nhà kinh tế cho rằng việc đẩy chi phí tiền lương tăng lên là do các công đoàn gây sức ép. Tuy nhiên
một số nhà kinh tế khác lại cho rằng chính công đoàn đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tốc
độ tăng của lạm phát và giữ cho lạm phát không giảm xuống quá nhanh vì các hợp đồng lương của công
đoàn thường là dài hạn và khó thay đổi. Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng về nhiên liệu, nguyên vật liệu
cơ bản như dầu mỏ, sắt thép… cũng làm cho giá cả của nó tăng lên và đẩy chi phí sản xuất tăng lên, dẫn
đến sức ép đòi tăng giá bán.
1.4.3 Do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung
Khi nền kinh tế đạt đến mức toàn dụng (các yếu tố sản xuất: nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết
bị… gần như đã được khai thác tối ưu) và tình trạng tắc nghẽn của thị trường làm mức cung hàng hóa và
dịch vụ có khuynh hướng giảm dần. Dẫn đến tình trạng mất cân đối các yếu tố sản xuất giữa các khu vực
nhưng thị trường lại không tạo ra cơ chế điều phối có hiệu quả, khiến cho khối lượng hàng hóa không thể
đáp ứng đủ nhu cầu tăng lên của thị trường. Hàng hóa khan hiếm làm cho giá cả tăng lên, đó là hậu quả
tất yếu. Mặt khác, ngay lúc nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng nhưng nếu cơ cấu kinh tế tổ chức bất
hợp lý thì cũng không cho phép tạo ra khối lượng hàng hóa và dịch vụ đầy đủ để thỏa mãn nhu cầu ngày
càng gia tăng của thị trường. Trường hợp này cũng làm nảy sinh hiện tượng lạm phát.
1.4.4 Những nguyên nhân khác
* Nguyên nhân chủ quan: chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của nhà nước như chính sách cơ cấu
kinh tế, chính sách lãi suất… làm cho nền kinh tế quốc dân bị mất cân đối, kinh tế tăng trưởng chậm ảnh
hưởng đến nền tài chính quốc gia. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì điều tất yếu là nhà nước
Năm Cam kết
( Triệu USD )
Giải ngân
( Triệu USD )
Tỉ lệ Giải ngân
( % )
2006 4,445 1,790 40.27%
2007 5,250 2,000 38.10%
2008 5,500 2,136 38.84%
2009 6,144.4 3,600 58,59%
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.
Số liệu trên đây cho thấy mức độ giải ngân nguồn vốn ODA trong các năm gần đây đã được cải
thiện đáng kể, nhưng tính ra thì vẫn còn chậm. Cũng đã có những nỗ lực trong việc sử dụng nguồn
vốn vay ưu đãi và dài hạn này, thể hiện ở tỷ lệ giải ngân đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên vẫn
còn 1 số rào cản cần phải khắc phục để tăng số vốn giải ngân trong những năm tiếp theo. Trước tình
hình đất nước đuợc sự đầu tư khá lớn như thế giúp cho tỷ lệ tăng trưởng GDP 2006-2007 khá cao
Từ năm 2007 mở đầu cho sự kiện Việt Nam vào WTO với dòng tư bản ồ ạt chảy vào tức là vay mượn
tăng, dòng chảy tư bản nước ngoài đổ vào, tín dụng tăng, chi tiêu nhà nước tăng. Lạm phát nhanh chóng
tăng ở mức 28% vào năm 2008. Thiếu hụt cán cân thanh toán tăng. Và sau đó ngòi nổ xẹp vì kinh tế thế
giới khủng hoảng. May là có khủng hoảng, cắt đứt dòng chảy tư bản vào Việt Nam. Vấn đề là Việt Nam
vẫn đặt các chỉ tiêu tăng trưởng cao, tiếp tục chi tiêu quá mức, lần này là với lý do nhằm làm giảm ảnh
hưởng tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế thế giới. Tất nhiên bội chi ngân sách tăng rất cao.
Bội chi ngân sách 2005-2009
Để cải thiện thâm hụt ngân sách một phần chính phủ sử dụng nguồn vay nước ngoài, điều đó dẫn đến
tình trạng lạm phát. Lạm phát cao năm 2007- 2008 là do giá thị trường thế giới tăng mạnh. Như giá xăng
dầu thời điểm từ tháng 3 đến tháng 4 giá xăng dầu thế giới tăng làm cho giá xăng dầu trong nước tăng từ
13000 đồng lên 14500 đồng. Hay tính bình quân trong tháng 6/2007 giá phôi thép nhập khẩu là 513
USD/tấn, so với giá bình quân năm 2006 đã tăng tới 124 USD/tấn, cộng với thuế nhập khẩu, chí phí vận
chuyển và 50 USD chi phí cán, cùng 5% thuế VAT, giá xuất xưởng chưa tính phí vận chuyển nội địa và