Phân tích sự phát triển về vai trò của thị trường, chính phủ và các nhân tố tác động tới tăng trưởng qua các lý thuyết của K.Marx và các lý thuyết tăng trưởng hiện đại - Pdf 31

Phân tích sự phát triển về vai trò của thị trường, chính phủ và các nhân tố tác động
tới tăng trưởng qua các lý thuyết của K.Marx, Tân cổ điển, Keynes, Harrod Domar
và các lý thuyết tăng trưởng hiện đại.
A. Lý thuyết của K. Marx
I. Quan điểm về nhân tố tăng trưởng
Marx cho rằng các yếu tố liên quan đến quá trình sản xuất là đất đai, lao động, vốn và
công nghệ. Trong đó, ông nhấn mạnh vai trò của lao động vì nó tạo ra của cải thặng dư.
Đối với nhà tư bản, lao động chính là một thứ hàng hoá đặc biệt. Do vậy, lao động cũng
được mua trên thị trường và tiêu thụ trong quá trình sản xuất. Nhưng trong quá trình tiêu
thụ này, lao động có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó (đặc điểm mà các loại
hàng hoá khác không có). Giá trị này chính bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị
thặng dư.
Marx cũng cho rằng, trong xã hội TBCN, tiền lương của công nhân luôn ở mức tối thiểu
và chỉ đủ sống.
Tỷ lệ m/V phản ánh sự phân phối thời gian lao động của công nhân, trong đó (V) là làm
việc cho bản thân, (m) là sáng tạo ra của cải cho nhà tư bản và địa chủ.
Mặt khác, Marx cho rằng, mục đích của nhà tư bản chính là giá trị thặng dư. Để đạt được
điều này, họ tìm cách tăng thời gian làm việc của công nhân, giảm tiền lương công nhân
hoặc cải tiến kĩ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động. Trong đó cải tiến kĩ thuật là
phương án khả thi nhất vì 2 cách kia đều có giới hạn. Tiến bộ kĩ thuật sẽ làm tăng số
lượng máy móc và dụng cụ cho người lao động, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản C/V
có xu hướng tăng. Chính vì lẽ đó, các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để cải tiến kĩ thuật,
nâng cao năng suất lao động của công nhân.

1


Nhưng để có vốn dùng cho cải tiến kĩ thuật, các nhà tư bản không được tiêu dùng hết giá
trị thặng dư. Giá trị thặng dư phải được chia làm 2 phần, 1 phần để tiêu dùng cho nhà tư
bản, 1 phần để tích luỹ phát triển sản xuất. Đây cũng là nguyên lý tích luỹ của CNTB.
Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị tăng trưởng: K.marx đã đưa ra khái niệm tổng sản

động làm ra. Do đó, chỉ có tư bản khả biến mới đem lại giá trị thặng dư trong quá trình
sản xuất tư bản chủ nghĩa hay lao động tạo ra giá trị. Marx cho rằng quy luật phát triển
của tư bản chủ nghĩa là tỷ lệ tư bản bất biến trên tư bản khả biến tăng lên, do đó, tỷ lệ giá
trị thặng dư (lợi nhuận) trên tổng giá trị tư bản sẽ giảm xuống. Tỷ suất lợi nhuận giảm
dần làm giảm tích luỹ vốn và cuối cùng dẫn đến trạng thái ngừng tăng trưởng kinh tế nên
sẽ khuyến khích các nhà tư bản tiếp tục giảm tiền lương công nhân và do đó đẩy cuộc
sống người lao động lâm vào cảnh khốn khó hơn.
Quá trình phát triển tư bản theo Marx nhất thiết phải đi đôi với bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập. Những người công nhân luôn chịu sự đe doạ bị sa thải bởi sự thay
thế của đội quân hậu bị. Thậm chí, thu nhập của người lao động ngày càng giảm so với
nhà tư bản do hiệu ứng tiết kiệm lao động của công nghệ hiện đại.
II. Vai trò của thị trường và chính phủ
Nhìn nhận về thị trường, Marx bác bỏ quan niệm trọng cung và coi đất đai là yếu tố ảnh
hưởng đến giới hạn tăng trưởng. Marx và tân cổ điển đều không phân biệt rành mạch
tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế:
Trên cơ sở giá cả linh hoạt và nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động:
 Cho rằng 1 nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang
trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, nó sẽ mau chóng trở
về trạng thái cân bằng(nềnkinhtếluônđạtđượcsựcânbằng ở mứcsảnlượngtiềmnăng)
Cụ thể hơn, theo Marx, nguyên tắc cơ bản của sự vận động tiền và hàng trên thị trường là
phải đảm bảo sự thống nhất giữa giá trị và hiện vật. Lưu thông hàng hoá phải đảm bảo sự
3


phù hợp giữa khối lượng hàng hoá mua và bán. Nếu có sự chênh lệch quá nhiều giữa khối
lượng hàng hoá mua và bán sẽ dẫn đến khủng hoảng. Khủng hoảng chủ yếu trong CNTB
là khủng hoàng thừa khi số cầu tiêu thụ thiếu hụt. Ông cho rằng khủng hoảng là một giải
pháp khôi phục thăng bằng cho nền kinh tế và các nhà tư bản buộc phải đổi mới trên quy
mô lớn.
Vai trò của chính phủ:

những tiến bộ về quan niệm nổi bật của trường phái tân cổ điển
Đưa ra quan điểm “Phát triển kinh tế theo chiều sâu” bằng cách gia tăng số lượng
vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, cò sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia

-

tăng về lao động được gọi là “phát triển kinh tế theo chiều rộng”
Các nhà kinh tế của trường phái tân cổ điển cho rằng tiến bộ Khoa học kĩ thuật là
yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nhận định này đã phát triển hơn rất
nhiều so với yếu tố cơ bản của tăng trưởng trong lý thuyết tăng trưởng cổ điển (lao
động, đất đai là quan trọng nhất) và của K.Marx (lao động là yếu tố cơ bản của

tăng trưởng)
II.
Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế
- Về việc đánh giá vai trò của chính phủ thì các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng:
Chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lượng,nó chỉ ảnh
hưởng đến mức giá cả,do vậy vai trò của Chính phủ là mờ nhạt trong nền kinh tế.
C. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Keynes
John Maynard Keynes (1883-1946) là nhà kinh tế học Anh, được coi là nhà kinh tế học
có ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh tế học phương Tây hiện đại và chính sách kinh tế của
các chính phủ nhằm duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vào những năm 30 của thế kỷ 20 ,khủng hoảng kinh tế 1929-1933 cho thấy học thuyết
“tự điều tiết” của thị trường và “bàn tay vô hình” của trường phái tân cổ điển đã không
còn sức thuyết phục.
Năm 1936, trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm,lãi suất và tiền tệ” của
J.Keynes đánh giá sự ra đời của một học thuyết mới.
I.Sự cân bằng của nền kinh tế:-J.Keynes cho rằng:
-Nền kinh tế có xu hướng tự điều chỉnh đi đến cân bằng ở một mức sản lượng nào đó
dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho tất cả mọi người,tại nơi mà những khoản chi tiêu

6


duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần
phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu
dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập. Theo ông, chính
phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động:
đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến
khích tiêu dùng.
Ông đề nghị :
-Chính phủ sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư (thông qua đơn đặt hàng của chính
phủ ,trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp)
-Áp dụng nhiều biện pháp để tăng lợi nhuận,giảm lãi suất.
-Tăng khối lượng tiền trong lưu thong,lạm phát có mức độ.
-Coi trọng hệ thống thuế,áp dụng thuế thu nhập lũy tiến để làm cho phân phối công bằng
hơn.
-Coi trọng đầu tư của Chính phủ vào khu vực công,trợ cấp thất nghiệp,… như là một
loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút.
=> So sánh với mô hình tân cổ điển ,các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng chính sách
kinh tế của chính phủ không thể tác động vào sản lượng,nó chỉ có thể làm ảnh hưởng đến
mức giá của nền kinh tế,do đó vai trò của Chính phủ là mờ nhạt trong phát triển kinh
tế.Họ cho rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh,khi nền kinh tế có biến động thì sự
linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản
lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động.

D. Mô hình Harrod Domar

7



sử dụng công nghệ thủ công, đòi hỏi nhiều lao động (tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng)
thì chỉ số ICOR nhỏ. Chỉ số ICOR càng lớn chứng tỏ trình độ kỹ thuật của sản xuất ngày
càng hiện đại hơn (nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu).
(ii) Mức độ khan hiếm nguồn lực: Nếu nguồn lực càng khan hiếm thì chi phí cho đầu tư
càng cao, làm hệ số ICOR ngày càng lớn hơn.
(iii) Hiệu quả sử dụng của vốn đầu tư: Nếu vốn đầu tư được phân bổ vào những lĩnh vực
sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cao, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cao hơn, tránh
được thất thoát, lãng phí thì hệ số ICOR sẽ thấp hơn. ICOR càng cao thể hiện đầu tư càng
không có hiệu quả.
Theo đó, ICOR vận động theo hai khuynh hướng:

 Dưới sự tác động của 2 nhân tố (i) và (ii), hệ số ICOR có xu hướng
ngày càng tăng lên trong quá trình phát triển kinh tế, nó thể hiện trình
độ phát triển ngày càng cao hơn. Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh công
nghiệp thường có hệ số ICOR cao nhất;
 Dưới tác động của nhân tố (iii), hệ số ICOR sẽ có xu hướng giảm trong
quá trình nâng cao hiệu quả của quản lý và sử dụng vốn đầu tư xã hội
và lựa chọn lĩnh vực đầu tư hiệu quả.
(2) Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tiết kiệm và đầu tư
Gọi thu nhập của nền kinh tế là (Y), tốc độ tăng trưởng kinh tế là g thì:
gt+1 = ΔYt+1/Yt
Sử dụng công thức tính ICOR ở trên, thay vào công thức này, ta có:
9


gt+1 = Δ kt+1/k x Yt
Theo giả định trong nghiên cứu của Harrod - Domar: Δ k t+1 = It = St; mức vốn sản xuất
gia tăng của thời kỳ sau bằng mức đầu tư của thời kỳ trước và tổng đầu tư bằng tổng tiết
kiệm. Ta có:
gt+1 = It/k x Yt = St/k x Yt

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại xuất hiện vào thập niên 40 của thế kỷ 20, học
thuyết của Keynes được áp dụng một cách rộng rãi tuy nhiên học thuyết này lại có xu
hướng quá nhấn mạnh vào vai trò của chính sách kinh tế, hạn chế mức độ tự điều chỉnh
của thị trường dẫn tới những trở ngại cho quá trình tăng trưởng. Tới năm 1948, tác phẩm
“Kinh tế học” của P.A. Samuelson ra đời đánh dấu bước phát triển mới học học thuyết
tăng trưởng kinh tế hiện đại, sự kết hợp của học thuyết tân cổ điện và học thuyết của
Keynes.
Lần đầu tiên khái niệm nền kinh tế hỗn hợp được đưa ra như là cơ sở của học thuyết
tăng trưởng kinh tế hiện đại. Một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường có vai trò quan
trọng trong việc xác định những vấn đề cơ bản của tố chức kinh tế và Nhà nước cũng
tham gia dẫn dắt, điều tiết một cách có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cức của thị
trường. Khái niệm nền kinh tế hỗn hợp chính là bước tiến bộ đầu tiên của học thuyết tăng
trưởng kinh tế hiện đại so với các lý thuyết trong quá khứ như Adam Smith, David
Ricardo, K.Marx hay các học thuyết tân cổ điển… khi đã đưa ra được khái niệm nền kinh
tế mà trong đó, vai trò của thị trường và Nhà nước cùng song hành quản lý và điều chỉnh.
I, Sự cân bằng của nền kinh tế
Trong lý thuyết tăng trưởng hiện đại, các nhà kinh tế học thừa nhận 2 điểm rất quan
trọng trong mô hình tăng trưởng của Keynes đó là: sự cân bằng của nền kinh tế dựa theo
mô hình của Keynes, nghĩa là điểm cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết phải tại
11


mức sản lượng tiềm năng, như các quan điểm của trưởng phái cố điển và học thuyết của
K.Marx thừa nhận, mà thường nằm dưới mức sản lượng tiềm năng, kết hợp với tư tưởng
của trường phái tân cố điển khi cho rằng tổng cung và tổng cầu đều có vai trò tác động tới
tăng trưởng của nền kinh tế mà từ đó các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra được lý
thuyết của nền kinh tế hỗn hợp. Thứ hai là trong khi nền kinh tế hoạt động bình thường
nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và lạm phát và nhà nước phải xác định tỉ lệ thất nghiệp tự
nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận được.


động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của một tổ chức kinh tế đó
là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?
Nói tới thị trường là nói tới cung cầu hàng hóa và quy luật cung cầu hàng hóa, chính
sự tác động qua lại giữa tổng mức cung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế,
công ăn việc làm- tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Cùng với chính sách của Chính phủ,
thị trường là nhân tố điều tiết hoạt động của thị trường.
Tuy nhiên việc đánh giá được vai trò của thị trường trong tăng trưởng kinh tế vẫn
chưa phải là điểm tiến bộ nhất của lý thuyết tăng trưởng hiện đại so với các lý thuyết
trước đó, thành tựu quan trọng của lý thuyết hiện đại là đã đánh giá được rằng nền kinh tế
hỗn hợp vận động theo cơ chế hỗn hợp, với vai trò trung tâm dẫn dắt của chính phủ trong
việc điều tiết các hoạt động thị trường.
13


IV, Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế:
Trở lại với lý thuyết tăng trưởng cổ điển, Adam Smith và David Ricardo đã phủ nhận
sự can thiệp của chính phủ, cho rằng chính phủ không cần can thiệp, mà thị trường tự
điều tiết hoạt động của thị trường. Tiền bộ hơn với những quan điểm của K.Marx khi ông
nhận ra được vai trò của chính phủ trong việc ra các chính sách kinh tế, tuy nhiên vai trò
ấy chỉ dừng lại ở mức khuyến khích và kích cầu. Cùng quan điểm với Marx, Keynes
cũng đã nhìn nhận và đánh giá cao vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết và kích cầu
tiêu dùng, đồng thời có vai trò quan trọng trong thúc đẩy, kích cầu đầu tư khi nền kinh tế
giảm sút và đầu tư vào các công trình công cộng.
Với xu hướng nổi bật là vai trò ngày càng tăng của Chính phủ trong tăng trưởng kinh
tế, nó không chỉ vì thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không thể tự khắc
phục được mà còn bởi vì những mục tiêu mà xã hội đặt ra mà thị trường không thể đáp
ứng được. Theo Samuelson trong nền kinh tế hỗn hợp với “bàn tay vô hình” của thị
trường và “bàn tay hữu hình” của chính phủ thì Chính phủ có bốn chức năng cơ bản tiến
bộ hơn so với các học thuyết trước đó: Thiết lập khuôn khổ pháp luật; xác định chính
sách ổn định kinh tế vĩ mô; tác động vào việc phân bố tài nguyên để cải thiện hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status