TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 – 2011)
TIỀN LƢƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG
LÀM CÔNG ĂN LƢƠNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hƣớng dẫn
Sinh viên thực hiện
Võ Hoàng Yến
Mai Quốc Việt
MSSV: 5075159
Lớp: Luật Tƣ pháp 2 K33
Cần Thơ, 4/2011
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
Cần thơ, ngày…....tháng…....năm…….
MỤC LỤC
Lời nói đầu ............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài .................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài .................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài ............................................................................ 2
5. Kết cấu của đề tài................................................................................................. 3
Chƣơng 1. Lý luận chung về tiền lƣơng tối thiểu đối với ngƣời lao
động làm công ăn lƣơng trong pháp luật Việt Nam ............................................. 4
1.1. Khái niệm và lịch sử về tiền lương tối thiểu qua các thời kỳ
phát triển của đất nước ............................................................................................. 4
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................. 4
1.1.1.1. Khái niệm tiền lương ....................................................................... 4
1.1.1.2. Khái niệm tiền lương tối thiểu .......................................................... 6
1.1.1.3. Khái niệm người lao động làm công ăn lương .................................. 7
1.1.2. Lịch sử về tiền lương tối thiểu qua các thời kỳ phát triển
của đất nước ....................................................................................................... 8
2.3. Thực trạng thực hiện về tiền lương tối thiểu đối với người lao
động làm công ăn lương ......................................................................................... 30
2.3.1. Thực trạng thực hiện về tiền lương tối thiểu ............................................ 30
2.3.2. Những thành tựu đạt được và một số vướng mắc còn tồn tại
về tiền lương tối thiểu ....................................................................................... 34
2.3.2.1. Những thành tựu đạt được của chính sách về tiền lương
tối thiểu ....................................................................................................... 34
2.3.2.2. Những vướng mắc còn tồn tại của chính sách về tiền
lương tôí thiểu ............................................................................................ 37
2.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tiền lương tối thiểu
đối với người lao động làm công ăn lương ............................................................ 46
2.4.1. Các định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về tiền
lương tối thiểu .................................................................................................. 46
2.4.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối
thiểu đối với người lao động làm công ăn lương .............................................. 48
Kết luận ................................................................................................................ 58
Danh mục tài liệu tham khảo
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có nhiều thay
đổi quan trọng, đánh dấu bước ngoặc trên con đưòng phát triển ở tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Có được những thành tựu đó là do đường lối đổi mới đã được
Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện thông qua các chính sách và biện pháp trên
mọi lĩnh vực trong đó có chính sách về tiền lương tối thiểu. Chính sách tiền lương là
Trang 1
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
điểm, hạn chế, để từ đó lý giải nguyên nhân và đưa ra những kiến nghị góp phần
nâng cao hiệu quả của chế độ tiền lương tối thiểu trong thực tiễn.
Với tầm quan trọng nêu trên, bản thân là một sinh viên chuyên ngành luật,
người viết cũng đã có điều kiện để được tiếp xúc và tìm hiểu về một số vấn đề có
liên quan đến tiền lương tối thiểu, đặc biệt là đã nhận thấy được tầm quan trọng của
chính sách về tiền lương tối thiểu, là một trong những vấn đề quan trong bậc nhất
trong công cuộc phát triển và đổi mới đất nước. Vì lý do đó người viết chọn đề tài
“Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương – một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” để làm đề tài tốt nghiệp cho mình với mong muốn thông qua việc
thực hiện đề tài sẽ được tìm hiểu rõ hơn về chính sách tiền lương tối thiểu ở nước ta
hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở các quy định của pháp
luật hiện hành về chế độ tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn
lương và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật. Trên cơ sở này, chỉ ra những quy
định còn bất cập của chế độ tiền lương tối thiểu hiện hành, để từ đó rút ra những kết
luận và đồng thời đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề tiền
lương tối thiểu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu một cách cơ bản có tính hệ thống những vấn đề lý luận và
Chương 1. Lý luận chung về tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm
công ăn lương trong pháp luật Việt Nam.
-
Chương 2. Thực trạng thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật về tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương.
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 3
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI NGƢỜI
LAO ĐỘNG LÀM CÔNG ĂN LƢƠNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.2. Khái niệm và lịch sử về tiền lƣơng tối thiểu qua các thời kỳ phát triển của
đất nƣớc
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm tiền lương
Ở mỗi thời kỳ khác nhau, tiền lương được hiểu theo nhiều hướng khác nhau:
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, về thực chất tiền lương dưới chủ nghĩa
xã hội được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hinh thức tiền tệ,
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
của người công nhân cũng như mức độ phức tạp, tính chất độc hại của công việc để
trả lương cho người lao động. Từ đó, ta có thể thấy được tiền lương là một hiện
tượng phức tạp, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau, nhưng chủ yếu và trước hết là khoa học kinh tế và khoa học pháp lý 1.
Dưới góc độ kinh tế: Dưới góc độ kinh tế tiền lương được gọi dưới nhiều tên
gọi khác nhau như: tiền lương, tiền công, thù lao lao động…
Về mặt kinh tế, tiền lương có thể hiểu là sự biểu hiện bằng tiền của tất cả sức
lao động được hình thành trên cơ sở xác định giá trị sức lao động thông qua sự thỏa
thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động và do người sử dụng lao động
trả cho người lao động, đồng thời chịu sự chi phối của quy luật kinh tế trong đó có
quy luật cung cầu. Bên cạnh đó, còn tuân theo những quy định pháp luật của Nhà
nước trong từng thời kỳ. Mặt khác tiền lương phải bao gồm đầy đủ các yếu tố cấu
thành để đảm bảo rằng tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu bảo đảm được
cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ, là điều kiện để người hưởng
lương hòa nhập vào đời sống xã hội.
Dưới góc độ pháp lý:
Theo Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 của tổ chức lao động Quốc tế ( ILO)
thì: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào,
mà có biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng
lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử
dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng
miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch
vụ đã làm hay sẽ phải làm”.
Nhìn ra pháp luật của nhiều nước thì tiền lương cũng có nhiều tên gọi khác
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quy định tại Điều 55 Bộ Luật lao động
thì: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động
và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương
của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy
định”.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử
dụng lao động phải trả cho người lao động theo sự thỏa thuận giữa hai bên trong
hợp đồng lao động, trên cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công
việc nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
1.2.1.2. Khái niệm tiền lương tối thiểu
Để có thể duy trì được cuộc sống thì con người cần có đủ điều kiện sinh hoạt ở
mức tối thiểu, con người không chỉ cần được đáp ứng đầy đủ về mặt sinh học như:
ăn, ở, mặc, sức khỏe… mà còn cần phải đáp ứng về mặt xã hội như: học tập, giải
trí… Ở mỗi thời kỳ khác nhau, con người có những nhu cầu khác nhau và do đó có
mức sống tối thiểu cũng phải khác nhau. Mức sống thối thiểu là mức độ thỏa mãn
những nhu cầu tối thiểu của người lao động và để có thể đáp ứng được những nhu
cầu tối thiểu đó phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, tiền lương tối
thiểu là một yếu tố quan trọng, nó đảm bảo cho mức sống tối thiểu của người lao
động được tốt hơn.
Vậy, trước hết ta có thể hiểu rằng: tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động nhằm duy trì cuộc sống tối thiểu
cho bản thân và gia đình người lao động.
Theo quy định tại Điều 56 Bộ Luật lao động Việt Nam: “ Mức lương tối thiểu
được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản
đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một
phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính
các mức lương cho các loại lao động khác”.
Mức lương tối thiểu là một chế định quan trọng của pháp luật lao động nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, nhất là trong thời buổi kinh tế thị
2
Tóm lại, tiền lương tối thiểu được hiểu là số tiền nhất định được trả cho người
lao động tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ
nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường, số tiền đó đảm bảo nhu
cầu tiêu dùng các tư liệu sinh hoạt ở mức tối thiểu để tái sản xuất sức lao động của
bản thân người lao động.
1.2.1.3. Khái niệm người lao động làm công ăn lương
Theo Điều 6 Bộ Luật lao động nước ta thì “ người lao động là người ít nhất đủ
15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Vậy người lao
động là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có cam kết
lao động với chủ sử dụng lao động. Họ làm việc theo yêu cầu, nhận lương và chịu
sự quản lý của chủ lao động trong thời gian cam kết làm việc. Kết quả lao động của
họ là sản phẩm dành cho người khác sử dụng và được trao đổi trên thị trường hàng
hóa, sản phẩm chân tay thì có giá trị thấp hơn sản phẩm trí óc.
Người lao động có thể được hiểu theo hai nghĩa 3:
Theo nghĩa rộng: người lao động là người làm công ăn lương. Công việc của
người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao
động. Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung
cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động.
3
http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Quan-ly-360/Nguon-nhanluc/Nguoi_lao_dong_la_ai/
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 7
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
trách nhiện các bên trong lĩnh vực trả công lao động. Đồng thời Sắc lệnh còn quy
định thẩm quyền của các cơ quan trong việc ấn định, công bố mức lương tối thiểu.
Năm 1950 giá sinh hoạt mỗi nơi mỗi khác, giá trị thực tế của đồng tiền suy
giảm. Tháng 5 năm 1950 Sắc lệnh 77-SL quy định “công nhân giúp việc Chính phủ
(nay gọi là quốc doanh) áp dụng thang lương chung 18 bậc”. Đặc điểm lương lúc
này là có sự thống nhất về chế độ tiền lương giữa công nhân và công chức. Theo
Sắc lệnh 98-SL lương và phụ cấp hàng tháng được ấn định theo giá gạo: lương tối
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 8
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
thiểu bằng 35kg gạo, lương tối đa bằng 53kg, còn lương tối đa của công chức bằng
72kg. Cho đến tháng 12 năm1955, Nghị định 650-TTg quy định chế độ tiền lương
mới, bỏ chế độ lương theo cung cấp trong kháng chiến, thực hiện việc trả lương
bằng tiền. Nghị định đã có sự phân biệt riêng giữa thang bậc lương của công chức
với thang bậc lương của công nhân.
Năm 1960, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã được triệu tập. Tháng 4
năm 1960 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết 115-NQTW về cải cách
chế độ tiền lương và tăng lương năm 1960. Đại hội đã định nền kinh tế nước ta phát
triển hoàn toàn theo hướng kế hoạch hóa, mọi vấn đề lao động đều theo kế hoạch
trực tiếp của Nhà nước và được triển khai thực hiện bẳng mệnh lệnh hành chính.
Nhà nước xác định mức lương tối thiểu bằng cách quy định cụ thể các mức lương
trong các ngành , tùy thuộc vào tính chất của từng loại công việc. Trong mỗi ngành
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
doanh đã trở thành nguyên tắc hiến định trong đường lối quản lý kinh tế của Nhà
nước. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý để
giới hạn hành vi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ pháp luật ở mọi lĩnh
vực trong đó có vấn đề trả lương cho người lao động. Trong giai đoạn này tiền
lương tối thiểu đã được quan tâm đúng mức hơn và thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó.
Năm 1985 Hội đồng Bô trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số
235/NĐ-HĐBT ngày 18/9/1985 về cải cách chế độ tiền lương của công nhân, viên
chức và các lực lượng vũ trang. Theo đó mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng.
Với mức lương này cuộc sống của người dân lao động đã được cải thiện đáng kể.
Nhưng với nền kinh tế khó khăn, tổng thu nhập quốc dân tính trên đầu người thấp
cùng với tình trạng lạm phát đã làm cho giá trị của đồng lương giảm sút nhanh
chóng và không đánh giá đúng giá trị thực tế sức lao động của người lao động. Vì
vậy Nhà nước ta đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình
nền kinh tế - xã hội và ổn định đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với người lao
động.
Do đó, tới năm 1986 cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần VI của
Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng đòi hỏi tiền lươn g tối thiểu phải có sự thay đổi
để phù hợp với thực tế. Sau Đại hội Nhà nước ta đã quyết định tăng tiền lương lên
102,27% so với năm 1985. Đây thật sự là bước chuyển mình của chính sách tiền
lương, chế độ bao cấp tiền lương mới thật sự được xóa bỏ.
Đến năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 202-HĐBT ngày
28/12/1988 về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đảm bảo sự công bằng trong việc trả công cho
người lao động.
Giai đoạn từ năm 1993 cho đến nay: từ khi chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, việc
thay đổi quan điểm về tiền lương cũng là tất yếu của sự phát triển khách quan của
các quy luật kinh tế. Hiến pháp năm 1992 ra đời đã cho thấy chính sách tiền lương
được nhà nước ngày càng quan tâm. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Quốc hội khóa
IX đã đề ra nhiệm vụ cải cách chính sách tiền lương mới, phải làm cho tiền lương
trở thành thước đo giá trị sức lao động. Đặc biệt là tiền lương tối thiểu phải thật sự
là lưới an toàn cho người lao động, đảm bảo cho họ duy trì được mức sống tối thiểu
cần thiết và tái sản xuất sức lao động.
Tháng 5 năm 1993, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định số 69-QĐTW
và sau khi được Quốc hội thông qua đề án cải cách tiền lương, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ra Quyết định số 35-UBTVQH về quy định tạm thời chế độ tiền lương
mới năm 1993. Thực hiện điều đó, ngày 23/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định
số 26-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp và Nghị
định số 25-CP quy định chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính
sự nghiệp và lực lượng vũ trang. Theo đó mức lương tối thiểu áp dụng thống nhất
cho các đối tượng trên là 120.000 đồng/tháng.
Ngày 23/6/1994 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ Luật lao
động, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam. Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành các quy định về tiền lương tối thiểu,
ngày 31/12/1994 Chính phủ ban hành Nghị định số 197-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về tiền lương.
Sau một thời gian thực hiện chính sách tiền lương mới năm 1993, mức lương tối
thiểu so với nhu cầu của người lao động và mục tiêu đặt ra là quá thấp, không đáp
ứng được các nhu cầu thiết yếu của người lao động. Do đó, ngày 21/1/1997 Chính
phủ ra Nghị định số 06/CP về việc giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với
công chức, viên chức hành chính - sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, lực
5
Ngày 15/01/2004, Chính phủ ra Nghị định số 03/2003/NĐ-CP về việc điều
chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổi mới một bước cơ chế quản lý tiền lương.
Nghị định này quy định mức lương tối thiểu là 290.000 đồng/tháng.
Ngày 14/12/2004, Chính phủ ra Nghị định số 203/2004/NĐ-CP quy định mức
lương tối thiểu tăng lên 310.000 đồng/tháng. Tiếp đó, theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài
chính, ngày 15/09/2005 Chính phủ ra Nghị định số 118/2005/NĐ-CP điều chỉnh
mức lương tối thiểu chung lên 350.000 đồng/tháng.
Để đảm bảo đời sống của người lao động và phù hợp với tình hình chung của
nền kinh tế đất nước, năm 2006 Nhà nước ta đã có nhiều thay đổi về chính sách tiền
lương. Ngày 07/09/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2006/NĐ-CP điều
chỉnh mức lương tối thiểu chung, nâng mức lương tối thiểu chung lên 450.000
đồng/tháng.
Từ ngày 01/01/2008 tiền lương tối thiểu chung được nâng lên 540.000
đồng/tháng. Việc nâng lương này được Chính phủ quy định tại Nghị định số
166/2007/NĐ-CP ngày ngày 16/11/2007 quy định mức lương tối thiểu chung. Đồng
thời, Chính phủ còn ban hành các Nghị định như: Nghị định số 167/2007/NĐ-CP
quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty,
doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức
khác của Việt Nam có thuê mướn lao động, Nghị định số 168/2007/NĐ-CP quy
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 12
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
họ nhận được phải cao hơn mức lương tối thiểu mà pháp luật quy định.
Thứ hai, tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với cường độ lao động
nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện bình thường. Giữa năng suất lao động, sức
khỏe của người lao động và cường độ của người lao động có mối quan hệ chặt chẽ
6
Xem Nghị định 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 và Phụ lục kèm theo Nghị định này.
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 13
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
với nhau. Cường độ lao động ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động và quyết
định sức khỏe người lao động. Hiện nay chưa có quy đinh cụ thể nào về cường độ
lao động khi xác định tiền lương tối thiểu. Việc hiểu cường độ lao động nhẹ nhàng
nhất còn rất chung chung và trừu tượng. Tuy nhiên ta có thể hiểu rằng cường độ lao
động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường là người lao động
làm việc trong một môi trường lao động với mức tiêu hao năng lượng thấp và điều
kiện lao động không có yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Nếu
người lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại hoặc vùng xa xôi, hẻo
lánh, khí hậu khắc nghiệt thì người sử dụng lao động phải trả lương cao hơn mức
lương tối thiểu và ngoài ra cần phải trả thêm khoản phụ cấp lương nếu có những
yếu tố không xác định được hết trong tiền lương tối thiểu như phụ cấp độc hại, nguy
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
1.3.2. Bản chất của tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành của tiền lương. Về bản chất thì
tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao
động. Giá cả sức lao động ở đây được hiểu là giá cả thấp nhất của hàng hóa sức lao
động. Tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà là khung
pháp lý quan trọng do Nhà nước quy định, mang tính chất bắt buộc. Người sử dụng
lao động phải trả tiền lương cho người lao động thấp nhất là bằng chứ không được
thấp hơn mức lương tối thiểu mà nhà nước đã ấn định. Tiền lương tối thiểu được
quy định phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ nhằm bảo vệ người lao
động. Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo được nhu cầu tối thiểu như chi phí về ăn, ở,
đi lại, nhằm bù đắp một lượng nhất định những hao phí sức lao động: cơ bắp, trí tuệ,
thần kinh để duy trì sức khỏe bản thân của người lao động trong trạng thái bình
thường và tái sản xuất sức lao động cả về lượng và chất. Tuy nhiên, trên cơ sở là giá
trị sức lao động, việc xác định mức tiền lương tối thiểu chỉ bao gồm những chi phí
cần thiết để duy trì sức khỏe và đảm bảo tái sản xuất sức lao động ở mức cần thiết.
Nghĩa là tiền lương tối thiểu chỉ đáp ứng cho giá trị sức lao động có trình độ giản
đơn nhất trong điều kiện bình thường với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất. Nó
không đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống của người lao động và gia đình họ,
mà chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống nhằm tái sản
xuất sức lao động.
Việc xác định tiền lương tối thiểu không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của
người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động mà được quyết
định bởi quyền lực nhà nước, tuy nhiên nhà nước luôn khuyến khích người sử dụng
lao động áp dụng mức lương tối thiểu cho người lao động cao hơn mức lương tối
thiểu mà nhà nước quy định.
công ăn lương. Hiện nay, tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng, đây chính là
điều kiện để người sử dụng lao động gây ra sức ép cho người lao động, trả cho họ
một mức lương thấp hơn mức lương họ đáng được hưởng. Vì vậy, ở một mức độ
nào đó tiền lương tối thiểu là sự điều hòa trong các nhóm người lao động, đảm bảo
cho sự trả lương tương đương cho những công việc tương đương. Do đó, việc quy
định tiền lương tối thiểu giới hạn rõ hành vi của người sử dụng lao động trong việc
trả lương, đảm bảo sự cân bằng và bảo vệ người lao động khỏi sự bóc lột trước sức
ép của thị trường.
Đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, tiền lương tối thiểu còn là công
cụ điều tiết của nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế. Khi
xác định mức tiền lương tối thiểu, Nhà nước đã căn cứ vào những thỏa thuận giữa
các bên trong quan hệ lao động sao cho phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước,
do đó tiền lương tối thiểu luôn đảm bảo cho người lao động có cuộc sống phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, tiền lương tối thiểu còn có sự tác động lớn đến quá trình cung cầu lao động, tình trạng lạm phát và quá trình công nghiệp hóa đất nước. Do tiền
lương tối thiểu cũng được xác định dựa trên cơ sở trung bình của thị trường trong
nước, vì thế giữa tiền lương tối thiểu và giá cả thị trường có sự cân bằng với nhau,
và đã hạn chế được sự lạm phát. Tiền lương tối thiểu loại bỏ sự cạnh tranh không
công bằng của thị trường lao động khi mà hàng hóa sức lao động dư thừa. Cạnh
tranh là quy luật chung của thị trường trong điều kiện cung lao động lớn hơn so với
cầu lao động và việc dẫn đến sự cạnh tranh giữa người lao động với nhau là tất yếu.
Vì vậy, nhà nước quy định mức lương tối thiểu là khung pháp lý quan trọng,
đảm bảo cho sự cạnh tranh này luôn ở trong khuôn khổ pháp luật.
Đối với chế độ tiền lương, Chế độ tiền lương bao gồm các nội dung cơ bản
như: tiền lương tối thiểu, hệ thống trong thang, bảng lương, các chế độ phụ cấp
lương, chế độ tiền thưởng. Trong đó tiền lương tối thiểu có vị trí và vai trò đặc biệt
quan trọng, nó là cơ sở để xác định các nội dung khác trong chế độ tiền lương. Vai
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 16
với thực tế cuộc sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Do đó, việc xác
định tiền lương tối thiểu phải gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Việc xác định đúng để trả cho người lao động sẽ kích thích người lao động
làm việc có năng suất và hiệu quả hơn. Hơn nữa, tiền lương tối thiểu đóng một vai
trò hết sức quan trọng, vì đây là công cụ của Nhà nước để điều tiết tiền lương trên
phạm vi toàn xã hội, bảo hộ cho toàn thể người lao động làm công ăn lương.
Theo quy định tại Điều 56 của Bộ Luật lao động và Điều 4 Nghị định
114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ Luật lao động về tiền lương, thì cơ sở để xây dựng tiền
lương tối thiểu ở nước ta bao gồm:
1.4.1. Nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản thân người lao động và gia đình
họ
Hệ thống các nhu cầu này bao gồm nhu cầu về mặt sinh học và nhu cầu về mặt
xã hội học. Nhu cầu về mặt sinh học của con người là nhu cầu được xác định từ sự
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 17
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
đòi hỏi tự nhiên của con người như ăn, mặc, ở, đi lại… Còn nhu cầu mang tính mặt
xã hội học là những nhu cầu được xác định trên cơ sở các hoạt động và đòi hỏi để
cho mỗi cá nhân sống trong cộng đồng với đầy đủ nhân cách như: học hành, văn
hóa, giao tiếp xã hội, nuôi con, bảo hiểm… Những nhu cầu này có sự biến đổi theo
từng thời kỳ, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội. Trước đây, mức sống tối
thiểu.
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 18
SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp
Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
Nếu trên thị trường lao động tồn tại mối quan hệ cung lao động lớn hơn cầu
lao đông thì lúc đó nhu cầu của thị trường sức lao động ít hơn so với khả năng đáp
ứng của người lao động, khi ấy người sử dụng lao động sẽ có nhiều sự lựa chọn.
Trong trường hợp này nếu tiền lương tối thiểu quy định ở mức càng cao thì người
sử dụng lao động sẽ có xu hướng giảm bớt sử dụng lao động trình độ thấp để giảm
chi phí đầu vào, dẫn đến thị trường sức lao động càng chuyển dịch theo hướng cung
lao động lớn hơn cầu lao động, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, kéo theo các vấn đề xã
hội khác phát sinh. Ngược lại, nếu quy định mức tiền lương tối thiểu thấp thì người
sử dụng lao động sẽ có xu hướng sử dụng nhiều lao động, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp sẽ
giảm xuống. Thế nhưng, với mức tiền lương thấp thì cuộc sống của người lao động
sẽ không được đảm bảo, tạo ra tình trạng đói nghèo và khi không đáp ứng được các
nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống thì việc không thể bù đắp sức lao động giản đơn
để tái sản xuất sức lao động là điều tất yếu.
Nếu trên thị trường có cung lao động nhỏ hơn cầu lao động thì lúc đó thị
trường sức lao động sẽ trở nên khan hiếm và lương tối thiểu cũng sẽ được nâng cao
nhờ vào sự tác động của quy luật thị trường. Tuy nhiên, ở nước ta đây là trường hợp
rất khó có thể xảy ra, do nước ta là nước có mật độ dân số cao nên có một thị trường
sức lao động dồi dào. Nếu có thì chỉ mang tính chất tạm thời ở một số ngành nghề
Để đảm bảo tiền lương tối thiểu có thể đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu,
những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho bản thân và gia đình người lao động thì tiền
lương tối thiểu không chỉ xây dựng dựa trên cung cầu lao động, khả năng kinh tế
của đất nước mà còn phải được tính toán trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt theo từng
thời kỳ.
Theo tính toán của bộ lao động – thương binh và xã hội thì khi chỉ số giá sinh
hoạt tăng khoảng 10% thì đòi hỏi phải thay đổi mức lương tối thiểu mới đảm bảo
được tiền lương thực tế của người lao động. Việc thay đổi này còn mang lại ý nghĩa
thực tiễn của tiền lương tối thiểu là đảm bảo được mức sống tối thiểu, nhu cầu thiết
yếu của người lao động. Tuy nhiên, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu trên cơ sở
chỉ số giá sinh hoạt như thế nào thì hiện nay chưa có quy định rõ ràng. Từ đó dẫn
đến việc áp dụng quy định của pháp luật về vấn đề này chưa đồng bộ và thống nhất
khi có sự thay đổi qua các thời kỳ. Hiện nay ở nước ta việc điều chỉnh tiền lương tối
thiểu còn nhiều vướng mắc cần phải xem xét lại, tránh tình trạng khi giá cả tiếp tục
leo thang, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và khi chỉ số giá sinh hoạt tăng mà tiền
lương tối thiểu chưa chắc lại tăng. Điển hình như giai đoạn từ năm 1993 dến năm
1997 có chỉ số giá sinh hoạt tăng khoảng 33% trong khi đó mức tiền lương tối thiểu
chỉ tăng lên 20%.
Mức độ tăng giá tiêu dùng một số năm gần đây 7:
Đơn vị tính: %
Năm
2003
2004
2005
2006
43,25
Thực phẩm
2,9
17,1
12,0
5,5
21,16
26,53
Qua đó cho ta thấy mức độ giá tiêu dùng trong những năm gần đây ngày một
tăng cao. Do đó, cần xác định được tỷ lệ hợp lý giữa chỉ số tăng của gía sinh hoạt
7
PGS.TS. Trần Xuân Cầu Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân – Tách dần tiền lương tối thiểu ra khỏi hệ
thống chính sách xã hội.
http://www.molisa.gov.vn/news/detail2/tabid/371/newsid/51639/seo/TACH-DAN-TIEN-LUONG-TOITHIEU-RA-KHOI-HE-THONG-CHINH-SACH-XA-HOI/language/vi-VN/Default.aspx. [Cập nhật ngày:
22/09/2010].
GVHD: Võ Hoàng Yến
Trang 20
SVTH: Mai Quốc Việt