Tội phạm chưa hoàn thành trong luật hình sự việt nam - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: LUẬT TƯ PHÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 – 2011)
Đề tài:

TỘI PHẠM CHƯA HOÀN THÀNH TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn
TS. PHẠM VĂN BEO

Sinh viên thực hiện
TRẦN QUANG VŨ
MSSV: 5075161
Lớp: Luật Tư Pháp II – K33

Cần Thơ, 04/2011


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
LỜI CẢM ƠN
bàa
Để hoàn thành tốt luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô Khoa
Luật trường Đại học Cần Thơ đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập.
Tôi kính lời cảm ơn thầy TS. Phạm Văn Beo, Trưởng Bộ môn Tư Pháp Khoa Luật
trường Đại học Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến với gia đình, những người luôn bên cạnh tôi và hỗ trợ
hết mực về cả vật chất và tinh thần cho tôi.

................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Giáo viên hướng dẫn

TS. Phạm Văn Beo

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

3

SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

˜&™
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................

1.1.1. Khái niệm về các giai đoạn thực hiện tội phạm ...................................................... 3
1.1.2. Khái niệm về chế định tội phạm chưa hoàn thành ................................................. 4
1.1.3. Khái niệm về chuẩn bị phạm tội .............................................................................. 4
1.1.3.1. Khái niệm ............................................................................................................... 4
1.1.3.2. Dấu hiệu cơ bản của chuẩn bị phạm tội................................................................. 5
1.1.4. Khái niệm về phạm tội chưa đạt .............................................................................. 6
1.1.4.1. Khái niệm phạm tội chưa đạt................................................................................. 6
1.1.4.2. Dấu hiệu cơ bản của phạm tội chưa đạt................................................................. 6
1.1.4.3. Phân loại phạm tội chưa đạt .................................................................................. 7
1.2. Phân tích cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa hoàn thành tại
Phần Chung Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)........................... 8
1.2.1. Khái quát chung về chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Bộ luật hình sự
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ............................................................................. 8
1.2.1.1. Cấu thành tội phạm cơ bản..................................................................................... 8
1.2.1.2. Cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa hoàn thành ................................. 9
1.2.2. Phân tích cấu thành tội phạm của hành vi chuẩn bị phạm tội ............................ 10
1.2.3. Phân tích cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa đạt ............................ 12
1.2.4. Phân biệt chế định tội phạm chưa hoàn thành với một số hình thức
phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm ........................................................ 13
1.2.4.1. Tội phạm chưa hoàn thành và ý định phạm tội ................................................... 14
1.2.4.2. Phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội.............................................................. 15
1.2.4.3. Tội phạm chưa hoàn thành và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội .............. 16
1.2.4.4. Tội phạm chưa hoàn thành và tội phạm kết thúc ................................................. 16
1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu chế định tội phạm chưa hoàn thành ...................... 17
1.3.1. Ý nghĩa trong lý luận .............................................................................................. 17
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn........................................................................................... 18
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

5


2.2.1.2. Nhóm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; sở hữu;
trật tự quản lý kinh tế; & môi trường ................................................................................ 37
2.2.1.3. Nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng;
trật tự quản lý hành chính & tội phạm về chức vụ ........................................................... 41
2.2.1.4. Nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp & nghĩa vụ,
trách nhiệm của quân nhân .............................................................................................. 42
CHƯƠNG 3. NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP VỀ CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM CHƯA
HOÀN THÀNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
3.1. Những bất cập về chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Bộ luật hình sự
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ......................................................................... 44
3.1.1. Những bất cập về chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Phần chung
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

6

SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ............................................... 44
3.1.1.1. Chuẩn bị phạm tội................................................................................................. 44
3.1.1.2. Phạm tội chưa đạt................................................................................................. 45
3.1.2. Những bất cập về chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Phần các tội phạm Bộ
luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)...................................................... 47
3.1.3. Những bất cập về chế định tội phạm chưa hoàn thành trên thực tế ................... 48
3.2. Giải pháp hoàn thiện chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt
Nam ................................................................................................................................... 49
3.2.1. Giải pháp về chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Phần chung Bộ luật hình
sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ...................................................................... 50
3.2.1.1. Chuẩn bị phạm tội................................................................................................. 50

Thế nên, pháp luật hình sự không chỉ có những quy định nhằm trừng phạt những hành vi
phạm tội đã xảy ra, mà hơn hết còn phải có những quy định nhằm răn đe, phòng ngừa tội
phạm ở mức độ khi người phạm tội mới có ý định thực hiện hành vi hoặc đã thực hiện hành
vi nhưng chưa gây ra hậu quả theo quy định của pháp luật.
Hơn nữa, trong quá trình tìm hiểu chế định tội phạm chưa hoàn thành, người viết nhận
thấy có rất nhiều bài viết, sách báo, công trình nghiên cứu khoa học về chế định này của
GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, PGS.TS. Lê Thị Sơn, TS. Phạm Văn Beo, Ths. Đinh Văn Quế,
Ths. Luật gia Đặng Đình Thái.v.v.. nhưng không đi sâu vào phân tích chuyên khảo mà chỉ ở
mức độ khái quát chung về các giai đoạn thực hiện tội phạm hay đi sâu vào phân tích các
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo quy định của Bộ luật hình sự hiện
hành. Mà chưa định hình một cách khái quát, phân tích một cách cụ thể về toàn bộ chế định
tội phạm chưa hoàn thành.
Chính vì những lý do đó để hiểu rõ, hiểu đúng và cụ thể những quy định pháp luật về
chế định tội phạm chưa hoàn thành, nghiên cứu những bất cập trong quy định của pháp luật
và đưa ra những ý kiến đề xuất là một vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong lý
luận và trong việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn trên thực tế. Thế nên, người viết đã
chọn đề tài: “Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam” để làm đề tài
nghiên cứu trong luận văn cuối khóa.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ hơn những quy định của pháp luật về chế định tội phạm
chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam. Thông qua đó đưa ra những quy định còn
hạn chế và nêu lên những đề xuất góp phần làm cho chế định tội phạm chưa hoàn thành nói
riêng và pháp luật hình sự nói chung ngày càng hoàn thiện hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

8

SVTH: Trần Quang Vũ



Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
Phần nội dung
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỊNH TỘI PHẠM CHƯA HOÀN THÀNH
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Tại chương này, người viết đi sâu vào phân tích những khái quát chung về chế định
tội phạm chưa hoàn thành: Về khái niệm, về cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa
hoàn thành tại Phần chung Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Từ đó,
phân biệt chế định tội phạm chưa hoàn thành với các chế định khác trong cùng Bộ luật hình
sự. Hơn nữa, xem qua lịch sử về chế định này trong pháp luật hình sự của các nước trên thế
giới, cũng như lịch sử hình thành trong pháp luật hình sự Việt Nam để có được cái nhìn
tổng quan về chế định này.
1.1. Khái niệm về chế định tội phạm chưa hoàn thành
1.1.1. Khái niệm về các giai đoạn thực hiện tội phạm
Hoạt động phạm tội cũng như bất kỳ hoạt động nào khác của con người trong xã hội,
nó diễn ra theo một quá trình và trong một khoảng thời gian dài, ngắn nhất định. Người cố ý
thực hiện tội phạm bao giờ cũng mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trình đó để đạt được kết
quả mong muốn. Nhưng trong thực tế có những trường hợp vì những nguyên nhân ngoài ý
muốn, người phạm tội đã không thực hiện được toàn bộ quá trình đó mà phải dừng lại ở
những thời điểm khác nhau. Vì vậy, với mục đích phòng ngừa tội phạm trong việc xử lý
hình sự, pháp luật hình sự đã đặt ra trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp này. Do đó,
để đánh giá mức độ thực hiện tội phạm và qua đó có cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm
hình sự của người phạm tội, Luật hình sự Việt Nam phân biệt ba mức độ thực hiện tội
phạm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Có ba điểm khác nhau cơ bản giữa các giai đoạn phạm tội chính là ở những yếu tố
khách quan của hành vi phạm tội bao gồm:
1) Tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội;
2) Mức độ thực hiện ý định phạm tội của chủ thể thực hiện hành vi;
3) Thời điểm chấm dứt của những hành vi đó1

Như vậy, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý (trực tiếp)
thực hiện tội phạm bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
1.1.2. Khái niệm về chế định tội phạm chưa hoàn thành
Từ khái niệm về các giai đoạn thực hiện tội phạm, ta có thể rút ra được khái niệm về
tội phạm chưa hoàn thành, như sau:
Tội phạm chưa hoàn thành là các bước trong quá trình cố ý (trực tiếp) thực hiện tội
phạm nhưng người phạm tội chưa thực hiện được ý định phạm tội của mình để có thể cấu
thành một tội phạm độc lập được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam.
Chế định tội phạm chưa hoàn thành bao gồm hai giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị phạm
tội và phạm tội chưa đạt, hay thường được gọi là hoạt động tội phạm sơ bộ2.
1.1.3. Khái niệm về chuẩn bị phạm tội
1.1.3.1. Khái niệm
Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai
đoạn này người phạm tội tuy đã có một số hành vi khách quan được biểu hiện ra bên ngoài
ý nghĩ, tư tưởng phạm tội, nhưng hành vi này chưa phải là hành vi thuộc mặt khách quan
của cấu thành tội phạm, tức là bắt tay vào việc thực hiện tội phạm (chưa có hành vi xâm
phạm đến đối tượng tác động)3.
1.1.3.2. Dấu hiệu cơ bản của chuẩn bị phạm tội
Thời điểm sớm nhất của giai đoạn phạm tội này là thời điểm người phạm tội bắt đầu
có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi
phạm tội có thể xảy ra và xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn. Những suy nghĩ, tính toán của
con người diễn ra trong đầu của họ không phải là chuẩn bị phạm tội dù đó là ý định phạm
tội. Thời điểm muộn nhất là thời điểm trước lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi
2

TSKH. Lê Cảm, Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự tập IV, NXB Công an nhân dân, 2002,
Tr.112.
3
Ths. Đinh Văn Quế, Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, NXB Phương Đông, 2010, Tr.107.


các cơ quan có thẩm quyền như các thông tư, nghị quyết (Thông tư liên tịch, Nghị Quyết
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Ví dụ, Điều 93 Bộ luật hình sự quy định
tội giết người, nhưng điều luật chỉ quy định: “người nào giết người…” còn hành vi giết
người bao gồm những hành vi nào thì điều luật không quy định. Ngay cả trong trường hợp
điều luật quy định hành vi khách quan của cấu thành tội phạm, thì cũng không phải bao giờ
cũng nhận biết được hành vi nào là hành vi khách quan, mà nhiều điều luật chỉ quy định
hành vi chung, còn hành vi cụ thể thì phải căn cứ vào các giải thích cụ thể thì mới xác định
được4.
1.1.4. Khái niệm về phạm tội chưa đạt
1.1.4.1. Khái niệm phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý trực
tiếp. Đồng thời là trường hợp một người đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm

4

Ths. Đinh Văn Quế, đd, Tr.107.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

12

SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng không thực hiện được hành vi đó
đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó5.
1.1.4.2. Dấu hiệu cơ bản của phạm tội chưa đạt
Hành vi phạm tội chưa đạt phải được thể hiện dưới ba dấu hiệu:
- Một là, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm. Đây là dấu hiệu phân biệt

5

Trịnh Tiến Việt, Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Luật học 25 (2009), Tr.125-133.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

13

SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
+ Có những trở ngại khác như bắn nhưng đạn không nổ, thuốc độc dùng đầu độc
không đủ liều lượng hoặc thuốc giả…6
1.1.4.3. Phân loại phạm tội chưa đạt
- Căn cứ vào mục đích của hành vi phạm tội, phạm tội chưa đạt bao gồm hai trường
hợp:
+ Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành
Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hết hành vi thuộc mặt khách quan của cấu
thành, nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, đã
hoàn thành về hành vi). Ví dụ, một người có ý định giết người khác, đã dùng súng bắn ba
phát vào nạn nhân và tin rằng nạn nhân đã chết nên bỏ đi, nhưng sau đó, nạn nhân đã được
cứu chữa nên không chết. Ở đây, người phạm tội đã hành động theo ý muốn và tin rằng hậu
quả sẽ xảy ra nhưng lại không xảy ra.
+ Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành
Là trường hợp vì nguyên nhân khách quan mà người phạm tội chưa thực hiện hết hành
vi khách quan của thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm để gây ra hậu quả, nên hậu
quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi). Ví dụ, một người có ý
định dùng dao đâm găm nhiều nhát vào một người để tước đoạt tính mạng của người đó,



Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
thuộc về ý thức chủ quan của người phạm tội (sự hiểu lầm về đối tượng hoặc phương tiện,
công cụ phạm tội...dẫn tới hậu quả không xảy ra)8.
1.2. Phân tích cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa hoàn thành tại
Phần Chung Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1.2.1. Khái quát chung về chế định tội phạm chưa hoàn thành trong Bộ luật hình
sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Chế định tội phạm chưa hoàn thành được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009), bao gồm ba điều luật:
+ Chuẩn bị phạm tội tại Điều 17 Bộ luật hình sự;
+ Phạm tội chưa đạt tại Điều 18 Bộ luật hình sự;
+ Quyết định hình phạt của hai giai đoạn trên tại Điều 52 Bộ luật hình sự nhằm quy
định về trách nhiệm hình sự của hai giai đoạn này.
1.2.1.1. Cấu thành tội phạm cơ bản
Đầu tiên, để phân tích cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa hoàn thành thì
chúng ta cần xem xét qua cấu thành tội phạm cơ bản là nền tảng đầu tiên trong việc định tội
danh.
Đối với một tội danh, nhà làm luật mô tả trong các điều luật phần riêng dấu hiệu đặc
trưng của tội phạm để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định và phân biệt tội phạm này với
các tội phạm khác, và có thể với cả trường hợp chưa phải là tội phạm. Đây là cấu thành tội
phạm cơ bản của một tội danh.
Mỗi tội danh đều phải có một cấu thành tội phạm cơ bản. Trong cấu thành tội phạm có
thể có nhiều loại trường hợp phạm tội được mô tả với các dạng hành vi phạm tội khác nhau
hoặc với các đối tượng tác động khác nhau. Tương ứng với mỗi loại trường hợp phạm tội có
thể có khung hình phạt riêng. Đây có thể được coi là cấu thành tội phạm gốc của các cấu
thành tội phạm khác.
Do vậy, trong thực tế, khi nói đến cấu thành tội phạm thường được hiểu là cấu thành
tội phạm cơ bản và khái niệm cấu thành tội phạm cơ bản chỉ được sử dụng khi cần phải

chung cho tất cả các tội danh nhưng chưa phải là cấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội
và cấu thành tội phạm của phạm tội chưa đạt của tội phạm cụ thể. Cấu thành tội phạm này
chỉ được hình thành riêng trên cơ sở kết hợp cấu thành tội phạm của tội phạm cụ thể với quy
định chung về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
Việc thừa nhận sự tồn tại của cấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội và cấu thành
tội phạm của phạm tội chưa đạt là cần thiết và hoàn toàn có cơ sở. Nếu không thừa nhận có
hai loại cấu thành tội phạm này thì cũng có nghĩa, nguyên tắc “cấu thành tội phạm là cơ sở
pháp lý của trách nhiệm hình sự” không đúng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm
tội chưa đạt. Bất cứ hành vi nào, không có ngoại lệ, đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì
đều phải thỏa mãn những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm. Nếu đối chiếu hành vi
chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt với chỉ riêng cấu thành tội phạm cơ bản thì hành vi
này không thỏa mãn hoặc chưa thỏa mãn hết những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản.
Nhưng nếu đặt cấu thành tội phạm trong mối liên hệ với điều luật quy định về các giai đoạn
thực hiện tội phạm thì hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều hoàn toàn thỏa
mãn những dấu hiệu tổng hợp của cấu thành tội phạm cơ bản và của chế định các giai đoạn
thực hiện tội phạm. Sự tổng hợp dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản với những dấu hiệu
của chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm chính là cấu thành tội phạm dự phòng cho cấu
thành tội phạm cơ bản – cấu thành tội phạm của hành vi chuẩn bị phạm tội và cấu thành tội
phạm của hành vi chuẩn bị phạm tội chưa đạt. Sự tổng hợp này vừa là hình thức ghi nhận
những đặc điểm cấu trúc và vừa phản ánh nội dung chính trị - xã hội của hành vi chuẩn bị
phạm tội cũng như hành vi phạm tội chưa đạt. Cơ sở pháp lý duy nhất để truy cứu trách
nhiệm hình sự hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt là sự thỏa mãn dấu
hiệu của những cấu thành tội phạm dự phòng này.10
1.2.2. Phân tích cấu thành tội phạm của hành vi chuẩn bị phạm tội
- Cơ sở pháp lý: Điều 17 Bộ luật hình sự về chuẩn bị phạm tội.
“Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những
điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

10


- Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm
phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của công dân. Ví dụ, A muốn
trộm cắp nhà B nên A đã nhiều lần đến nhà B, thăm dò xem gia đình B thường vắng nhà vào
giờ nào, quy luật sinh hoạt của gia đình B ra sao để tiến hành trộm cắp.
- Chuẩn bị công cụ, phương tiện tội phạm như: Chuẩn bị xe máy để đi cướp giật,
chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà,
chuẩn bị thuốc mê để làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ, chuẩn
bị giấy tờ giả mạo để lừa đảo. v.v...
- Loại trừ những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi dễ dàng:
Ngắt cầu dao điện để đêm đột nhập vào nhà kho trộm tài sản, cho các con đi nghỉ mát để ở
nhà giết vợ được dễ dàng. v.v…11
+Về mặt chủ quan: Là lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi chuẩn bị phải là hành vi có mục đích
là thực hiện tội phạm đến cùng.
+Về trách nhiệm hình sự:

11

Ths. Đinh Văn Quế, Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, NXB Phương Đông, Quý III, 2010,
Tr. 107.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

17

SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
Theo điều 17 Bộ luật hình sự thì hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự trong trường hợp người chuẩn bị phạm tội định phạm một tội mà tội đó là tội rất

hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó. Ví dụ, vì có ý
định giết B nên A đã tìm kiếm súng quân dụng giữ trong nhà. Sau khi có súng nhưng chưa
tiến hành việc giết B thì A đã bị bắt. Trong trường hợp này, hành vi tìm kiếm và tàng trữ vụ
khí là hành vi chuẩn bị giết người nhưng bản thân hành vi này đã cấu thành tội độc lập khác
là tội tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép (Điều 230 Bộ luật hình sự)12.
1.2.3. Phân tích cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa đạt
- Cơ sở pháp lý: Điều 18 Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt.

12

TS. Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 (phần chung), NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009, Tr.233.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

18

SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng
vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt”.
- Phân tích cấu thành tội phạm:
+ Về chủ thể: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định theo từng loại
tội phạm cụ thể trong cấu thành tội phạm tương ứng của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự
(hay nói một cách khác, hành vi phạm tội chưa đạt đã xâm phạm đến các quan hệ xã hội
được luật hình sự xác lập và bảo vệ).
+ Về khách thể: Tùy theo tội phạm cụ thể mà hành vi phạm tội chưa đạt xâm phạm
đến một khách thể nhất định.


SVTH: Trần Quang Vũ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
Quy định của điều luật

Phạm tội chưa đạt

- Hình phạt cao nhất: chung thân
hoặc tử hình.
- Hình phạt: Tù có thời hạn.

- Hình phạt chỉ áp dụng trong trường
hợp đặc biệt nghiêm trọng.
- Hình phạt: Không quá ¾ mức quy
định của điều luật.

1.2.4. Phân biệt chế định tội phạm chưa hoàn thành với một số hình thức phạm tội
khác trong quá trình thực hiện tội phạm
Bên cạnh với việc thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, thì pháp
luật hình sự cũng đặt ra yêu cầu phải bảo vệ các quan hệ xã hội trong tất cả các thời điểm
khác nhau, đồng thời xác định chính xác từng giai đoạn phạm tội trong thực tiễn để có
đường lối xử lý công bằng về mặt pháp lý và thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự có
căn cứ và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô
tội.
Điều 1 Bộ luật hình sự ghi nhận nhiệm vụ của Bộ luật “…đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm” cũng chính là thể hiện tư tưởng trên. Cho nên, để làm tốt điều này đòi hỏi
phải có sự phân định ranh giới chính xác không chỉ trên phương diện khoa học mà cả dưới
phương diện thực tiễn áp dụng chế định tội phạm chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội, phạm


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
- Khác nhau:
Tội phạm chưa hoàn thành

Ý định phạm tội

- Chủ thể từ khi có ý định phạm tội
- Chủ thể chưa hề xâm hại đến các
đã bắt đầu có những biểu hiện là hành quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập
động, hay đã bắt tay vào việc thực hiện và bảo vệ, cũng như chưa gây ra hậu quả
một hành vi phạm tội cụ thể được quy nguy hiểm cho xã hội.
định trong mặt khách quan của cấu thành
tội phạm tương ứng thuộc Phần các tội
phạm Bộ luật hình sự, có nghĩa hành vi
của người này đã thể hiện ra bằng hành
động cụ thể để chuẩn bị xâm hại hoặc đã
xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật
hình sự xác lập và bảo vệ.
- Trách nhiệm hình sự: Người phạm
tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong
mọi trường hợp đối với trường hợp phạm
tội chưa đạt, và chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự khi một người chuẩn bị phạm một
tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt
nghiêm trọng.

- Trách nhiệm hình sự: Người phạm
tội không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhưng trong một số trường hợp ngoại lệ


Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
tương ứng thuộc Phần các tội phạm Bộ đầu bị xâm hại, hậu quả đã gây ra cho xã
luật hình sự (có nghĩa là hành vi chưa xâm hội, nên mức độ nguy hiểm cho xã hội của
phạm đến các quan hệ xã hội được luật trường hợp này rõ ràng cao hơn so với
hình sự xác lập và bảo vệ), mà chỉ mới chuẩn bị phạm tội, đồng thời sẽ đặc biệt
thực hiện những hành vi tạo ra các điều nguy hiểm hơn nếu không có căn cứ “do
kiện thuận lợi, cần thiết cho việc thực hiện nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn”
tội phạm nhanh chóng về sau.
ngăn chặn lại việc tiếp tục để hành vi
phạm tội đó tiếp diễn.
- Trách nhiệm hình sự: Người thực

- Trách nhiệm hình sự: Người thực

hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự
hình sự (trừ hai trường hợp đặc biệt – khi trong mọi trường hợp trên những cơ sở
một người chuẩn bị phạm một tội rất chung tương ứng và điều này cũng được
nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự năm 1999
nghiêm trọng).

(sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Điều 52.

1.2.4.3. Tội phạm chưa hoàn thành và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
- Khái niệm về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Là trường hợp một người tự
mình không thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù khách quan không có gì ngăn cản.
- Khác nhau:
Tội phạm chưa hoàn thành

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tội phạm chưa hoàn thành trong Luật hình sự Việt Nam
hình sự khi một người chuẩn bị phạm một cấu thành tội phạm khác, thì họ phải chịu
tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt trách nhiệm hình sự trên những cơ sở
nghiêm trọng.

chung tương ứng).

1.2.4.4. Tội phạm chưa hoàn thành và tội phạm kết thúc
- Khái niệm về tội phạm kết thúc: Là trường hợp hành vi phạm tội của chủ thể đã
chấm dứt thực sự trên thực tế do các nguyên nhân khác nhau và thời điểm hành vi phạm tội
chấm dứt cũng chính là thời điểm tội phạm kết thúc.
- Giống nhau:
+ Thời điểm hoàn thành của hai chế định trùng nhau trong trường hợp do nguyên nhân
khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội.
- Khác nhau:
Tội phạm chưa hoàn thành

Tội phạm kết thúc

- Hành vi phạm tội chỉ chấm dứt do
- Hành vi phạm tội đã thực sự chấm
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn dứt hoàn toàn có thể do bất kỳ lý do nào.
của người phạm tội.
- Trách nhiệm hình sự: Người phạm
tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong
mọi trường hợp đối với trường hợp phạm
tội chưa đạt, và chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự khi một người chuẩn bị phạm một

- Trách nhiệm hình sự: Tùy từng

- Hơn nữa, nghiên cứu cách phân loại phạm tội chưa đạt thành tội phạm chưa đạt chưa
hoàn thành hay chưa đạt đã hoàn thành có ý nghĩa thực tiễn trong việc xác định trách nhiệm
hình sự và quyết định hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp
cùng thực hiện một tội phạm và với những điều kiện khác như nhau, thì rõ ràng mức độ
trách nhiệm hình sự của người phạm tội chưa đạt đã hoàn thành nguy hiểm hơn người phạm
tội chưa đạt chưa hoàn thành. Mặt khác, cách phân loại này cũng có ý nghĩa trong việc xác
định trách nhiệm hình sự của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Điều kiện của
một người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trước hết chỉ xảy ra đối với giai đoạn
chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Nếu một người đang ở giai
đoạn chưa đạt đã hoàn thành thì không còn cơ hội để thực hiện việc tự ý nửa chừng chấm
dứt việc phạm tội nữa.
- Cuối cùng, việc nghiên cứu trách nhiệm hình sự của giai đoạn chuẩn bị phạm tội và
phạm tội chưa đạt giúp cho việc áp dụng các chế định pháp lý hình sự khác có căn cứ, khách
quan và đúng pháp luật đối với người phạm tội.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Thứ nhất, việc nghiên cứu chế định tội phạm chưa hoàn thành nói riêng và các giai
đoạn thực hiện tội phạm nói chung góp phần bảo đảm yêu cầu xử lý đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội.
- Thứ hai, việc nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các trường hợp tội phạm chưa hoàn
thành xảy ra trên thực tế có ý nghĩa giúp cho Tòa án có thể xác định được trách nhiệm hình
sự không chỉ của người trực tiếp thực hiện tội phạm mà còn của những người đồng phạm
khác trong cùng một vụ án hình sự.
- Thứ ba, khi chế định tội phạm chưa hoàn thành cũng như các giai đoạn thực hiện tội
phạm khác được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh thì việc tập huấn pháp luật cho các cán bộ
sẽ trở nên tiện lợi hơn. Vì đã có một hệ thống lý luận đầy đủ và bao quát nhất về các giai
đoạn thực hiện tội phạm, các cán bộ sẽ có thể hiểu chính xác và đầy đủ. Từ đây, việc áp
dụng pháp luật trên thực tế đảm bảo đúng nguyên tắc của pháp luật hình sự, càng làm tăng
thêm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước ta.
- Cuối cùng, việc tuyên truyền, phổ biến các giai đoạn thực hiện tội phạm nói chung,
cũng như giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành nói riêng, có ý nghĩa quan trọng trong công

quy định tại điều luật về tội phạm cụ thể.
Do phạm tội chưa đạt được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc đặc biệt nên mức độ trách
nhiệm hình sự của phạm tội chưa đạt được quy định thấp hơn so với tội phạm hoàn thành.
Điều 49 Bộ luật hình sự quy định cụ thể mức độ giảm nhẹ (cả mức cao nhất và mức thấp
nhất) của khung hình phạt áp dụng cho tội phạm chưa đạt so với tội phạm hoàn thành. Theo
Điều 49 Bộ luật hình sự thì hình phạt được giảm nhẹ cho tội phạm chưa đạt cũng như các
trường hợp khác có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt sau:
+ Hình phạt chung thân được thay thế bằng hình phạt tù có thời hạn không dưới 3
năm.
+ Đối với hình phạt tù có thời hạn thì mức cao nhất chỉ bằng 3/4 mức cao nhất của
khung hình phạt quy định.
Số ngày lương tối đa ở hình phạt phạt tiền cũng được tính tương tự như vậy:
+ Mức cao nhất của khung hình phạt tù là 10 năm hoặc 5 năm được giảm xuống còn 2
năm.
+ Mức thấp nhất của khung hình phạt tù là 1 năm được giảm xuống còn 3 tháng15.
Thứ hai, khác với Bộ luật hình sự của Cộng Hòa Liên Bang Đức, Bộ luật hình sự của
Cộng Hòa Nhân Dân Trung hoa không quy định cụ thể về mức độ giảm nhẹ của hình phạt
áp dụng cho các trường hợp phạm tội chưa hoàn thành nhưng cũng có quy định về trường
15

PGS.TS. Lê Thị Sơn, Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, Tạp chí Luật học
Số 4, 2002, tr.50 - 54.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

25

SVTH: Trần Quang Vũ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status