TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
NIÊN KHOÁ: 2005 - 2009
ĐỀ TÀI:
Giảng viên hướng dẫn
NGUYỄN HỮU LẠC
Sinh viên thực hiện
Tăng Nguyễn Tú Quyên
MSSV: 5054895
Lớp Luật Hành Chính – K31
Cần Thơ 04/2009
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu .............................................................................................................1,2
Chương 1 : Khái quát chung về cán bộ, công chức cấp xã
1.1 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã ..................................................................3
1.1.1 Khái niệm ..........................................................................................................3
1.1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức Nhà nước ..........................................................3
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã ...............................................................6
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
a. Chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung ..................................................................39
b. Chế độ phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo...................................................40
c. Chế độ phụ cấp chức vụ ........................................................................................40
d. Chế độ phụ cấp đặc biệt ........................................................................................41
e. Chế độ phụ cấp thu hút..........................................................................................42
f. Chế độ trợ cấp khó khăn ........................................................................................43
2.2. Chính sách thu hút nguồn lực cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn về
cơ sở tại một số địa phương....................................................................................45
a. Thành phố Cần Thơ .............................................................................................. 45
b. Bình Dương ..........................................................................................................49
c. Đồng Nai ..............................................................................................................52
d. Quảng Nam...........................................................................................................54
e. Nghệ An................................................................................................................56
Chương 3 : Thực trạng triển khai chính sách thu hút nguồn lực cán bộ, công chức
về cơ sở và hướng hoàn thiện các chính sách
3.1 Thực trạng thu hút nguồn lực cán bộ, công chức về cơ sở tại một số địa
phương ....................................................................................................................58
3.1.1 Thực trạng........................................................................................................58
3.1.2 Kết quả đạt được trong việc triển khai các chính sách thu hút ..........................61
a. Thành phố Đà Nẵng .............................................................................................. 61
b. Thành phố Cần Thơ .............................................................................................. 62
c. Vĩnh Long.............................................................................................................63
d. Trà Vinh ...............................................................................................................65
trình độ cao về phục vụ chính quyền cơ sở; đồng thời giảm thiểu chi phí cho việc
đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã không đủ trình độ và năng lực.
1.2 Phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu xoay quanh chính sách, chế độ
dành cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã mục đích làm rõ những đặc trưng, vị trí
vai trò của cán bộ công chức cấp xã; phân tích những chế độ, chính sách của một số
địa phương trong việc thu hút nguồn lực cán bộ công chức có trình độ chuyên môn
về xã, phường, thị trấn công tác từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện các chế
độ, chính sách dành cho cán bộ, công chức cơ sở để họ yên tâm công tác, tâm huyết
với công việc, phát huy hết năng lực, khơi dậy niềm đam mê công việc, tạo những
động lực để cán bộ công chức có hướng phấn đấu, rèn luyện. Song song đó là việc
nghiên cứu sửa đổi những mặt còn hạn chế của nguồn lực cán bộ công chức cấp xã
để xây dựng lực lượng cán bộ công chức ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001),
Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998; Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ
sung năm 2000; 2003; Luật cán bộ công chức năm 2008 và các văn bản pháp luật có
liên quan cùng với việc tham khảo tài liệu của một số tác giả khác. Đề tài này được
tác giả nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp các
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
3
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1 KHÁI NIỆM CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ:
1.1.1 Khái niệm:
Cán bộ công chức cấp xã nói riêng là một bộ phận của cán bộ công chức Nhà
nước. Cán bộ là người quyết định mọi vấn đề trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước.Trong đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước ta, đóng vai trò là
chủ thể thống nhất quản lý cán bộ công chức; Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú ý tới
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước. Mặc dù vậy, chế định về cán bộ
công chức chỉ mới thật sự hoàn chỉnh từ năm 1998 khi Pháp lệnh cán bộ công chức
ra đời và có hiệu lực ngày 01/05/1998 và đặc biệt qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào
năm 2000, 2003 chế định cán bộ công chức xã, phường, thị trấn mới được công
nhận là cán bộ công chức trong Pháp lệnh cán bộ công chức 2003.
1.1.1.1 Khái niệm cán bộ công chức Nhà nước:
- Cán bộ công chức là hai phạm trù khác nhau. Pháp luật hiện hành chưa đưa
ra khái niệm cụ thể thế nào là cán bộ, thế nào là công chức, mà chỉ quy định chung
trong điều 1 Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 (chỉ liệt kê những người được
coi là cán bộ, công chức mà chưa phân định rõ) theo đó : “Cán bộ công chức quy
định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước, bao gồm:
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ
thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp
vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan Nhà nước, mỗi ngạch thể
hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức
hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
Thẩm phán TAND, Kiểm sát viên Viện KSND;
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ
quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp;
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư
Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
Văn phòng Quốc hội;
Văn phòng Chủ tịch nước;
Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp; cơ quan đại diện
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân;
Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
+ Theo điều 2 Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của
Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các dơn
vị sự nghiệp của Nhà nước và Nghị định số 121/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 10
năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP có quy
định: Viên chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế, được
tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường
xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số
điều của Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 ngày 29 tháng 04 năm 2003, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
lập theo quy định của pháp luật.
Tóm lại cán bộ công chức nhà nước nói chung là những người làm việc
trong các cơ quan nhà nước hoặc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội do tuyển dụng, bầu hoặc bổ nhiệm. Cán bộ công chức được trao những quyền
hạn tương ứng với một chức vụ nhất định hoặc thực hiện công việc theo sự uỷ
nhiệm của nhà nước để thực hiện trực tiếp nhiệm vụ và chức năng nhà nước, trong
danh sách biên chế, được trả lương và các chế độ phụ cấp khác từ ngân sách nhà
nước.
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã:
- Luật Cán bộ, công chức đã dành hẳn một chương riêng để điều chỉnh về đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã; đồng thời giao cho Chính phủ quy định cụ thể chế độ
chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, theo đó:
+ Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính
trị - xã hội.
+ Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, một người có thể trở thành cán bộ, công chức khi tham gia vào quan
hệ lao động với nhà nước.Mối quan hệ này hình thành trên cơ sở quyết định tuyển
dụng, quyết định bổ nhiệm hoặc dựa trên quyết định công nhận kết quả bầu cử.
1.1.2 Phân loại cán bộ công chức xã, phường, thị trấn:
- Trên cơ sở nghiên cứu Nghị định 114/2003/NĐ-CP về cán bộ công chức xã,
phường, thị trấn và Nghị định 121/2003/NĐ-CP về chế độ chính sách đối với cán
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
8
Tài chính - Kế toán;
Tư pháp - Hộ tịch;
Văn hoá – Xã hội.
+ Bên cạnh hai đối tượng vừa nêu, ở cơ sở còn có đối tượng được xác định là
cán bộ không chuyên trách (CBKCT) chiếm số đông bao gồm các chức danh sau:
Trưởng ban Tổ chức Đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng, Trưởng
ban Tuyên giáo và một cán bộ Văn phòng Đảng uỷ;
Phó Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
Phó Chỉ huy Trưởng quân sự;
Cán bộ kế hoạch- giao thông- thuỷ lợi- nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;
Cán bộ lao động- thương binh xã hội;
Cán bộ dân số- gia đình và trẻ em;
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
9
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
Thủ quỹ- văn thư- lưu trữ;
Cán bộ phụ trách đài truyền thanh;
Cán bộ quản lý văn hoá;
Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Phó các đoàn thể cấp xã: Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu
chiến binh;
Chủ tịch Hội Người cao tuổi, Chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam.
10
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
- Cán bộ công chức xã, phường, thị trấn là hiện thân của cán bộ công chức
công quyền nói chung trong mắt người dân.
- Cán bộ công chức cấp xã đóng vai trò to lớn trong hoạt động quản lý nhà
nước ở cấp cơ sở. Thông qua hoạt động của mình, họ đảm bảo sự lãnh đạo các quá
trình sản xuất, xác định hướng phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất, thục
hiện các biện pháp tổ chức…Nói chung họ là lực lượng nòng cốt quyết định mọi
vấn đề của đất nước.
- Đội ngũ cán bộ công chức xã, phường, thị trấn là đội ngũ gần dân nhất, là
cầu nối giữa Đảng với dân. Đội ngũ này có vị trí vai trò hết sức quan trọng vừa phải
thực thi các chủ trương chính sách, pháp luật từ cấp trên, vừa phản ánh nguyện vọng
của quần chúng nhân dân đến với cấp trên, đồng thời cán bộ cấp xã phải giải quyết
các công việc hằng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương. Trong
quá trình thực thi nhiệm vụ, cán bộ công chức cấp xã phải chịu sự giám sát trực tiếp
hàng ngày của người dân.
1.1.4 Trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ công chức cấp xã:
- Cán bộ công chức nói chung cũng như cán bộ công chức cấp xã nói riêng
đều là người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, từ tiền đóng thuế của nhân dân,
cán bộ công chức là công bộc của nhân dân chịu sự giám sát của nhân dân, vì vậy
phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng
lực công tác thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ, công vụ được giao, phục vụ
công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao; đạt tiêu chuẩn theo thời
gian quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán bộ công
chức;
- Gương mẫu thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn ; liên hệ
chặt chẽ, tham gia sinh hoạt với cộng đồng dân cư nơi cư trú, lắng nghe ý kiến của
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân;
- Chấp hành sự điều động, quyết định phân công công tác của cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền; khi có căn cứ để cho là quyết định dó trái pháp luật thì phải
báo cáo ngay với người ra quyết định; trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết
định thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải
chịu trách nhiệm về hậu quả việc thi hành quyết định đó;
- Cán bộ công chức cấp xã chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành
nhiệm vụ, công vụ của mình; cán bộ công chức cấp xã giữ chức vụ lãnh đạo còn
phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công chức
thuộc quyền theo quy định của pháp luật;
- Cán bộ công chức cấp xã có trách nhiệm thực hiện Quy chế làm việc giữa
Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong
việc giải quyết những vấn đề quan trọng và bức xúc của địa phương.
1.1.4.2 Quyền lợi cán bộ công chức cấp xã:
Trước khi Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 được ban hành và qua 2 lần sửa
đổi, bổ sung năm 2000, 2003 cán bộ công chức cấp xã còn nhiều thiệt thòi so với
cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên tuy sự phân biệt này không lớn nhưng phần
nào thể hiện được sự đối xử đối với cán bộ, công chức cấp xã chưa được công bằng
dù đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước ở địa phương.
Quyền lợi của cán bộ, công chức chỉ tương đối hoàn chỉnh khi Nghị định số
114/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 10 năm 2003 về cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn ban hành qui định một số quyền lợi như quan tâm hơn đến cán
bộ, công chức là lao động nữ, trong thời gian đương nhiệm được tham gia đóng
BHXH do đó khi về hưu sẽ được hưởng chế độ hưu trí, được tham gia đóng BHYT
khi đó sẽ được hưởng quyền lợi khám chữa bệnh miễn phí, ngoài ra cán bộ, công
cáo và khởi kiện đó;
- Khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ;
- Cán bộ công chức hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được xem
xét công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật; bị thương trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ được xem xét để áp dụng chính sách chế độ tương tự như đối với
thương binh;
- Cán bộ công chức là nữ còn được hưởng các quyền lợi quy định riêng đối
với lao động nữ như bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng mọi mặt với
nam giới; nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ
nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ; thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam
nữ về tuyển dụng, sư dụng, nâng bậc lương và trả công lao động; đảm bảo quyền lợi
của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản, sinh con quy định tại các khoản
2 Điều 109, các Điều 111, 113, 114, 115, 116 và 117 của Bộ luật lao động.
1.1.4.3 Những việc cán bộ công chức cấp xã không được làm:
Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức trong việc phục vụ
nhân dân, ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình thực
thi công vụ; pháp luật quy định cán bộ công chức cấp xã không được làm những
việc sau đây:
- Chây lười trong công tác, trốn tránh trách nhiệm hoặc thoái thác nhiệm vụ,
công vụ; gây bè phái, mất đoàn kết, cục bộ hoặc tự ý bỏ việc;
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
13
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân.
Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức
kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân,
được nhân dân tín nhiệm;
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng
lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
14
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
Ngoài ra các cán bộ, công chức cấp xã ở từng vị trí, chức danh phải đảm bảo
tiêu chuẩn cụ thể do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định. Cụ thể:
Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã làm việc trong các tổ chức chịnh trị, tổ
chức chính trị- xã hội, phải đáp ứng các tiêu chuẩn do các tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội ở cấp Trung ương quy định.
Đối với cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã làm việc trong Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy
định.
1.2.2 Tiêu chuẩn cụ thể:
Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở công tâm, thạo việc, tận tụy với
dân, không tham nhũng, ức hiếp dân, biết phát huy sức dân, có năng lực tổ chức và
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
15
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
Chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối
với khu vực đồng bằng. Với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần
đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Ngành chuyên môn phù hợp với
đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiến
thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã:
Tiêu chuẩn cụ thể về tuổi đời, học vấn, lý luận chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ cũng giống với tiêu chuẩn của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đòng nhân
dân.
Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ, chi uỷ, Thường trực đảng uỷ xã, phường, thị
trấn phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
Tuổi đời: Không quá 45 tuổi khi tham gia giữ chức vụ lần đầu.
đồng bằng; tốt nghiệp tiểu học trở lên ở khu vực miền núi.
Lý luận chính trị: Có trình độ sơ cấp và tương đương trở lên.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
16
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
Chuyên môn, nghiệp vụ: Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm tương đương trình độ sơ
cấp trở lên.
Các tiêu chuẩn quy định trên được áp dụng kể từ đầu nhiệm kỳ của từng tổ
chức đoàn thể.
1.2.2.2 Tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chức danh công chức cấp xã:
- Chỉ huy trưởng quân sự: Người làm việc ở vị trí này phải đáp ứng các tiêu
chuẩn sau:
Độ tuổi: không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý
luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
17
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp
Văn thư – Lưu trữ hoặc trung cấp hành chính, trung cấp Luật trở lên. Với công chức
đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn một trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển dụng lần
đầu phải có trình độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn nói trên. Sau khi
được tuyển dụng phải bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước (nếu chưa qua trung
cấp hành chính). Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học
phục vụ công tác chuyên môn.
- Công chức Tài chính - Kế toán; Công chức Tư pháp - Hộ tịch; Công chức Địa
chính – Xây dựng; Công chức Văn hoá – Xã hội: phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể
sau đây:
Độ tuổi, học vấn, lý luận chính trị: tương tự như đối với chức danh
công chức Văn phòng - Thống kê.
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
- Đối với công chức Văn hoá – Xã hội: Ở khu vực đồng bằng phải đạt trình độ
trung cấp về văn hoá nghệ thuật (chuyên ngành) hoặc trung cấp quản lý văn hoá
thông tin hoặc trung cấp nghiệp vụ Lao động- Thương binh và Xã hội trở lên. Với
công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng
kiến thức chuyên môn về một trong các ngành nói trên; nếu mới được tuyển dụng
lần đầu phải có trình độ trung cấp về một trong các ngành chuyên môn nói trên. Sau
khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và ngành
chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao. Sử dụng thành thạo các
trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn. Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải
sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn.
Bên cạnh đó, theo quy định về tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn với những cán bộ, công chức cấp xã công tác tại các nơi có đồng
bào dân tộc thiểu số sinh sống phải biết ít nhất tiếng của một dân tộc thiểu số.
1.3 VỊ TRÍ PHÁP LÝ CỦA XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN:
1.3.1 Sơ lược về chính quyền cơ sở:
- Ở nước ta, các đơn vị hành chính được chia thành 4 cấp:
+ Cấp Trung ương
+ Cấp Tỉnh và tương đương.
+ Cấp huyện và tương đương.
+ Cấp xã và tương đương (phường, thị trấn) – đây là đơn vị hành chính thấp
nhất và thường được gọi là cấp cơ sở.
Từ sự phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính các cấp, đòi
hỏi trên mỗi đơn vị hành chính đó phải có các tổ chức quyền lực nhà nước tương
ứng để dân cư ở đó thực hiện quyền lực và thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền lợi
của mình. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, trên mỗi cấp đơn vị
Giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật, các quyết định của cơ quan
nhà nước cấp trên và quyết định của chính quyền địa phương đối với tất cả các cơ
quan, tổ chức, công dân trên lãnh thổ hành chính.
- Trước khi tìm hiểu vị trí, vai trò của xã, phường, thị trấn. Xin trình bày sơ đồ
mô hình tổ chức của chính quyền địa phương1
Nhân dân
Bầu cử
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Bầu
UBND cấp tỉnh
Hội đồng nhân dân cấp huyện
Bầu
UBND cấp huyện
Hội đồng nhân dân cấp xã
Bầu
UBND cấp xã
1.3.2 Vị trí chức năng của chính quyền cơ sở:
- Chính quyền cơ sở gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã có
vị trí vai trò quan trọng trong cơ cấu chính quyền.Vị trí, vai trò đó thể hiện như sau:
+ Thứ nhất, chính quyền cơ sở nằm trong cơ cấu quyền lực thống nhất của
cơ sở tổ chức đời sống xã hội ở cơ sở bằng các hoạt động trực tiếp giải quyết quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, giải quyết tranh chấp giữa công dân, thực hiện các
biện pháp cưỡng chế hành chính, tổ chức quản lý dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu
nhà nước tại cơ sở…nhằm đảm bảo an ninh, an toàn, môi trường sống, phát triển
dân sinh và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh ở cơ sở.
Tóm lại, cấp cơ sở là đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống chính trị của
một Nhà nước; nơi thể hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước.Nói cách khác, xã, phường, thị trấn là cấp thấp nhất trong
trong hệ thống bốn cấp của bộ máy Đảng và bộ máy quản lý hành chính Nhà nước
ta hiện nay. Tuy nhiên, cấp cơ sở và hệ thống chính trị cấp cơ sở là một mắt khâu
rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội và của cả hệ thống chính trị. Hiệu quả
hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm, thái độ và
niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; đội ngũ cán bộ cơ sở và hệ thống
chính trị cơ sở có vững mạnh, trong sạch thì mới tạo động lực thúc đẩy nhân dân
hành động vì mục đích chung. Do vậy, để phát huy tính tích cực, chủ động của
chính quyền, đoàn thể ở cấp cơ sở, chúng ta phải đổi mới căn bản về về tổ chức bộ
máy, chức năng nhiệm vụ và chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở, cần “dồn sức”
cho cơ sở, tăng thẩm quyền cho cơ sở ở những lĩnh vực mà cấp cơ sở có khả năng
xử lý tốt hơn như: công tác bảo vệ trị an, xử lý vi phạm lộ giới, xây dựng trái
phép…Ngoài ra, nên tạo cơ hội để người dân trực tiếp bầu chức danh Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp cơ sở để họ trực tiếp lựa chọn người có uy tín, năng lực, qua đó
cũng tạo điều kiện để phát huy tính năng động của người đứng đầu, nâng cao hiệu
quả hoạt động của tổ chức hành chính và củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước với
công dân.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
21
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
phương”. Trải qua quá trình lao động sản xuất họ được xã nhận vào, thấy “được
việc”, cử đi học lớp bồi dưỡng và tiến hành, kết nạp họ vào đảng, cứ như vậy, họ trở
thành lãnh đạo địa phương. Nhiều người có chí tiến thủ tham gia các lớp bồi dưỡng
lí luận, thậm chí đại học tại chức và vươn lên theo con đường “tại chức”. Nhưng
một số yên vị theo kiểu “sống lâu ắt lên lão làng”. Do thiếu nguồn cán bộ mà một số
xã hình thành đội ngũ theo tính chất “gia đình ta là một chi bộ”.
Tính đến 31-12-2007, cả nước có 10.998 xã, phường, thị trấn với tổng số gần
200.000 cán bộ, công chức cơ sở hưởng lương2. Trong đó, số cán bộ chuyên trách
do bầu cử chiếm 57,75% và số công chức chuyên môn chiếm 42,25%. Ngoài số cán
bộ, công chức hưởng chế độ lương, cả nước có 568.899 cán bộ không chuyên trách
2
http:// www.tapchicongsan. org.vn/details. asp?Object=14331554news_ID=28841349
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
22
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
(cả cấp xã và cấp thôn) hưởng chế độ phụ cấp (số lượng cán bộ và mức phụ cấp cho
các chức danh do Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
quyết định). Hiện nay, trình độ học vấn, chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức
cơ sở xã, phường, thị trấn như sau:
+ Về học vấn: số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ tiểu học là 2,93%;
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
23
SVTH: Tăng Nguyễn Tú Quyên
Luận văn tốt nghiệp
Chính sách thu hút CBCC về cơ sở
cho việc điều hành bố trí cán bộ cơ sở, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả
hoàn thành công việc nhiệm vụ ở cơ sở.
Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở còn bấp hợp lý, nhất là
chế độ tiền lương giữa cán bộ chuyên trách do bầu cử với công chức chuyên môn.
Với cùng trình độ đào tạo, nhưng cán bộ chủ chốt chỉ có hai bậc lương, còn công
chức chuyên môn được nâng lương thường xuyên theo niên hạn, nên sau một số
năm, công chức chuyên môn sẽ có mức lương cao hơn mức lương của cán bộ chủ
chốt; hoặc khi đã là cán bộ chuyên trách, nhưng được bầu vào ban thường vụ cấp ủy
thì không được hưởng chế độ chuyên trách, làm cho số cán bộ công chức chuyên
môn này giảm sút ý chí phấn đấu, không muốn phấn đấu để được bầu giữ các chức
vụ chủ chốt. Một số cán bộ kiêm chức danh chủ tịch Hội đồng nhân dân nhưng chưa
được hưởng phụ cấp theo quy định. Số lượng, chức danh và mức phụ cấp đối với
cán bộ không chuyên trách (cả cấp xã và thôn) do Hội đồng nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương quyết định nên một số nơi quy định thêm nhiều
chức danh ngoài quy định tại Nghị định121/2003/NĐ-CP của Chính phủ, gây khó
khăn cho ngân sách và tạo sự chênh lệch quá lớn, không thống nhất trong đội ngũ
cán bộ ở cơ sở giữa các địa phương.Có địa phương không cân đối được ngân sách
nhưng quyết định mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách cao hơn cán bộ cùng
cấp ở những địa phương cân đối được ngân sách. Điều này đã gây áp lực đến việc