Lời cảm ơn
Lời đầu tiên trân trọng nhất, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.
Vũ Duy Mền, ngời đã trực tiếp quan tâm, hớng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài với tất cả sự nhiệt tình và tinh thần
trách nhiệm.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô đặc biệt là
thầy cô trong tổ lịch sử Việt Nam, phòng t liệu khoa lịch sử, phòng đào tạo và
phòng sau đại học, th viện trờng Đại học S phạm Hà Nội; th viện Quốc gia, th
viện Viện TTKHXH, Viện Hán Nôm, th viện tỉnh Bắc Giang, UBND huyện
Việt Yên đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong
quá trình học tập, nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên tác
giả hoàn thành khóa học này.
Các chữ viết tắt trong luận văn
1. BCĐ: Ban chỉ đạo.
2. BCHTWĐCSVN: Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam.
3. CMT8: Cách mạng tháng Tám.
4. CP: Chính phủ.
5. CT: Chỉ thị.
6. CTQG HN: Chính trị Quốc gia Hà Nội.
7. ĐHKHXH &NV: Đại học khoa học Xã hội & Nhân văn.
8. ĐHSP HN: Đại học S phạm Hà Nội.
9. ĐHVH HN: Đại học Văn hóa Hà Nội.
10. HĐKH: Hội đồng kỳ hào.
11. HĐKM: Hội đồng kỳ mục.
12. HĐTB: Hội đồng tộc biểu.
13. HTX: Hợp tác xã.
14. NCLS: Nghiên cứu lịch sử.
1
15. NĐ: Nghị định.
16. Nxb: Nhà xuất bản.
động đầy thuyết phục về sức sống mãnh liệt của làng quê Việt Nam trớc cách
mạng tháng Tám.
Hơng ớc cải lơng của huyện Việt Yên còn lại rất nhiều, song chủ yếu lu giữ
ở Viện TTKHXH các bản gốc viết tay rất giá trị. Th viện Bắc Giang chụp lại
48 bản, th viện huyện và phòng văn hoá không giữ một hơng ớc nào. Một điều
đáng buồn khi đợc trao đổi với những ngời làm văn hoá huyện, xã thì họ dờng
nh không có khái niệm gì về hơng ớc cải lơng. Xây dựng làng văn hoá mới chủ
yếu dựa trên những văn bản hớng dẫn của chính phủ khá xa vời, cứng nhắc,
nặng tính áp đặt với làng quê. Là một ngời con của quê hơng Việt Yên, ớc
muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình để lu giữ những phong tục tốt đẹp,
hợp thời vào việc xây dựng làng văn hoá mới.
Hà Bắc cũ, bây giờ là tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh hai tỉnh đi đầu trong
cuộc vận động xây dựng qui ớc làng văn hoá của cả nớc. Do đó, việc tìm hiểu
hơng ớc ngày càng cấp thiết để gạn đục khơi trong, gìn giữ những giá trị tốt
đẹp của ngời xa. Với những lý do trên tác giả đã chọn đề tài - Hơng ớc cải l-
ơng huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang (1923-1942) làm luận văn Thạc sĩ.
Mặc dù, ngời viết đã hết sức cố gắng cùng với sự giúp đỡ
nhiệt tình của Thầy hớng dẫn, song khả năng và điều kiện mọi mặt có hạn,
luận văn không tránh khỏi những thiếu xót. Kính mong nhận đợc sự góp ý của
các thầy, cô và bạn bè để tác giả đợc học hỏi và hiểu sâu sắc hơn về vấn đề
này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3
Khi tìm hiểu các bản hơng ớc, ta càng thấy đợc giá trị thực tiễn, lý luận và
một phần nào hồn quê xa. Là một đề tài lý thú, hấp dẫn đã thu hút đợc sự chú
ý của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau nh lịch sử, văn hoá, dân
tộc học, pháp lý, ngôn ngữ ... Các công trình nghiên cứu hơng ớc đã đợc tập
hợp thành sách hoặc in rải rác trên các báo, tạp chí nghiên cứu (Nghiên cứu
lịch sử, Dân tộc học, Nhà nớc và Pháp luật)
Do nội dung phong phú, hơng ớc đợc tìm hiểu ở nhiều góc độ, có khi
3. Các luận án, luận văn và khoá luận về hơng ớc
Luận án PTS.KHLS của Bùi Xuân Đính Về một số hơng ớc làng Việt ở
đồng bằng Bắc Bộ (H.1996) đã trình bày nội dung cơ bản, vai trò và tác động
hơng ớc trong việc quản lý làng xã. Năm 2003, Nguyễn Huy Tính đã bảo vệ
thành công luận án TS. Luật học với đề tài Hơng ớc mới - một phơng tiện góp
phần quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn tỉnh Bắc
Ninh). Luận văn phân tích những biến đổi lịch sử từ hơng ớc làng xã cổ truyền
đến hơng ớc mới, khẳng định hơng ớc mới là phơng tiện tự quản, tự điều chỉnh
hữu hiệu của làng xã, có quan hệ biện chứng với pháp luật; đồng thời tác giả
cũng đa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện hơng ớc mới.
Một số luận văn Thạc sĩ cũng coi hơng ớc là đối tợng nghiên cứu. Hoàng
Hoa Vinh với Vai trò của hơng ớc làng Nhất trong việc xây dựng làng văn
hoá tỉnh Hà Nam (ĐHVH HN, 2000); Hơng ớc với việc xây dựng làng văn
hoá ở huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình (ĐHVH HN, 2004) của Dơng Xuân
Thoạn. Năm 2008 học viên Lê Thị Luyến đã bảo vệ thành công Hơng ớc cải
lơng huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc (1922 - 1942) (ĐHSPHN, 2008)...
Trong khoá luận tốt nghiệp, SV Đào Thu Vân, khoa lịch sử - ĐHSPHN đã
Bớc đầu tìm hiểu công cuộc bảo vệ tài nguyên môi trờng của ông cha ta (qua
5
nguồn t liệu hơng ớc ngời Việt trớc cách mạng tháng Tám - năm 1945). Đến
năm 2005, SV Nguyễn Lan Dung, khoa lịch sử - ĐHKHXH & NV đã khai
thác hơng ớc của một huyện để tìm hiểu Sinh hoạt làng xã huyện Hoàn Long
tỉnh Hà Đông trong cuộc cải lơng hơng chính giai đoạn 1915 - 1945 (qua hơng
ớc).
Ngoài các công trình trực tiếp về hơng ớc nêu trên, nhiều công trình
nghiên cứu gián tiếp về hơng ớc đã xuất bản. Khi đề cập đến hơng ớc trong
mối quan hệ với phong tục làng xã nh Ngô Tất Tố với phóng sự Việc làng
(Nxb Mai Lĩnh HN, 1937) và Tập án cái đình (Nxb Văn học HN, tái bản
1997)... Khi tìm hiểu cơ cấu tổ chức quản lý làng xã, các nhà sử học đã sử
dụng hơng ớc nh một nguồn t liệu đáng tin cậy nh Xã thôn Việt Nam (Nxb
Ngoài ra, tác giả còn đợc kế thừa các công trình nghiên cứu trớc đó về h-
ơng ớc, về làng Việt cổ truyền đợc công bố từ trớc đến nay qua sách báo, tạp
chí, luận án ...
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Khi tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày vấn đề, ngời viết đã sử dụng phơng
pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể, phơng pháp Lôgic, phơng pháp so sánh, thống
kê, phơng pháp liên ngành để làm sáng tỏ nội dung luận văn.
5. Đóng góp của luận văn
Qua hơng ớc tác giả cố gắng làm rõ xuất xứ, nội dung và giá trị của hơng -
ớc cải lơng nh là một di sản văn hoá của địa phơng. Qua đó góp phần phác họa
một phần nào đó bức tranh sinh hoạt chốn thôn quê. Đồng thời, góp phần giúp
cho những ngời trực tiếp soạn thảo qui ớc văn hoá mới ở Việt Yên có cái nhìn
đúng đắn hơn về hơng ớc cải lơng, trong việc chắt lọc, kế thừa những tinh hoa
của ông cha xa đối với việc xây dựng làng quê đổi mới hiện nay.
7
Đây là một công trình đầu tiên, nghiên cứu một cách có hệ thống về hơng -
ớc cải lơng huyện Việt Yên trớc cách mạng tháng Tám nên trớc hết nó có ý
nghĩa về mặt t liệu, góp phần vào việc biên soạn lịch sử và địa chí huyện Việt
Yên. Hơn hết, với ngời làm công tác giáo dục, luận văn còn có một ý nghĩa
thiết thực là cung cấp tài liệu rất bổ ích cho việc giảng dạy lịch sử địa phơng.
6. Cấu trúc luận văn
Chơng 1: Khái quát về huyện Việt Yên và hơng ớc. Sự ra đời của hơng ớc
cải lơng.
Chơng 2: Hơng ớc cải lơng huyện Việt Yên.
Chơng 3: Vai trò của hơng ớc cải lơng với việc xây dựng làng văn hoá
huyện Việt Yên hiện nay.
Chơng 1
Khái quát về huyện Việt Yên và hơng ớc. Sự ra
đời của hơng ớc cải lơng
1.1 Tổng quan về huyện Việt Yên
khoảng 6km theo chỉ dẫn rẽ vào đờng đi Bắc Ninh. Đi hết tỉnh Bắc Ninh qua
cầu Nh Nguyệt là đặt chân đến huyện Việt Yên với hai khu công nghiệp lớn
Hoàng Mai, Đình Trám. Cách thứ hai từ cầu Chơng Dơng theo xe buýt tuyến
203, sẽ đi thẳng quốc lộ 1A cũ qua tỉnh Bắc Ninh sang đến Việt Yên - cửa
ngõ vào tỉnh Bắc Giang.
Điều kiện Tự nhiên
Địa hình
Nếu nhìn trên bình diện lớn, Việt Yên đợc đặt trong một khung cảnh bằng
phẳng tơng đối so với nhiều huyện khác trong tiểu vùng. ở góc độ hẹp hơn
xuất hiện rõ cái cảm giác về sự tơng phản địa hình bởi các khu trũng xen kẽ
các khu cao cục bộ. Trong khi độ cao trung bình của toàn huyện là 6,5m thì
núi Bài (Vân Trung) vơn tới + 196m còn đồng ruộng Quang Biểu là + 2m. Về
phơng diện địa hình dễ dàng tách bóc Việt Yên thành hai vùng khác nhau:
Vùng nớc máng tự chảy gồm 12 xã ở phía Bắc và phía Nam ngòi Đa Mai,
diện tích tự nhiên là 141km
2
, có 75% đất đai bằng phẳng dốc dần theo hớng
Đông Bắc - Tây Nam.
Vùng thấp nhờ nớc trời gồm 5 xã phía Đông quốc lộ 1A, diện tích 40km
2
,
độ dốc cục bộ nhiều hớng về hai phía Tăng Tiến và Hoàng Ninh, Quang Châu.
Khí hậu
Khí hậu - thời tiết đợc ngời dân quan tâm, tổng kết và chiêm nghiệm qua
nhiều đời, dù chỉ mang tính trực quan thì trong Bắc Ninh tỉnh chí đã viết về
Việt yên thời tiết hàng năm trong hạt thì vào mùa xuân, mùa hạ gió hơi
9
nhiều, ma cũng lắm còn mùa thu, mùa đông ma gió ít hơn. Duy chỉ về tháng
11 là khí trời rất lạnh, tháng 6, tháng 7 là những tháng nóng nhất
Dới góc độ của khí tợng học hiện tại cho biết Việt Yên nằm trong khu vực
đó cao nhất núi Bài 196m.
Giao thông thủy bộ
Sông Cầu bắt nguồn từ chợ Đồn, dài 300km chạy qua Bắc Thái (Thái
Nguyên và Bắc Cạn) vào hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, trong đó có 22km qua
đất Việt Yên. Con sông này, đóng vai trò quan trọng về giao thông đờng thuỷ
và giao lu kinh tế. Thông qua nó, Việt Yên có thể giao lu với các tỉnh nh Thái
Nguyên, Bắc Cạn, Hải Dơng và Hải Phòng. Ngoài ra, còn tạo ra nguồn lợi về
thuỷ sản.
Sông Bắc Cầu (ngòi Đa Mai, sông Nh Thiết) bắt nguồn từ Phú Bình, Thái
Nguyên chảy qua phía Bắc huyện Hiệp Hòa vào Việt Yên rồi chảy ra Sông Th-
ơng qua cống Đa Mai. Ngòi Đa Mai không có giá trị lớn về giao thông nhng
có giá trị về thủy lợi.
Do vị trí địa lý của mình Việt Yên trở thành khu đệm giữa hai trung tâm
lớn của 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh đó là Thành phố Bắc Giang và thành
phố Bắc Ninh.
Một lợi thế của Việt Yên là có mạng lới giao thông khá thuận
tiện. Quốc lộ 1A, đờng xe lửa xuyên Việt tuy chỉ có hơn 10km chạy qua
huyện nhng nó tạo nên một mạch máu thông suốt giữa Việt yên và các tỉnh
phía Bắc vào tận phía Nam. Các đờng quốc lộ 37, tỉnh lộ 172, 269 cùng mạng
lới đờng liên xã liên thôn nối liền các xã thôn với nhau và các vùng xung
quanh. Từ khi có đờng quốc lộ mới đợc xây dựng (dân hay gọi đờng cao tốc),
việc đi lại nhanh chóng hơn, tác động lớn đến việc phát triển kinh tế đặc biệt
hai khu công nghiệp lớn của huyện là Hoàng Mai và Đình Trám đều nằm trên
trục đờng này.
Thiên nhiên có cả những yếu tố thuận lợi và khó khăn. Nhân dân Việt Yên
trong quá khứ và hiện tại bằng trí sáng tạo cần mẫn đã tận dụng khai thác triệt
11
để các yếu tố thuận lợi bớt đi những trở ngại để tồn tại và phát triển. Ngời Việt
yên đã tạo dựng nên một vùng quê giàu đẹp với những xóm làng đầy cây
trái, những làng ven sông san sát vó bè, những làng gốm tỏa nh chiếc l hơng
- Tổng Hoàng Mai: Điêu Liễn, Hoàng Mai, Hùng Lãm, My Điền, Phúc
Long, Phúc Tằng, Thợng Phúc, Thung Đổng, Vân Cốc.
- Tổng Mật Ninh: Cao Lôi, Chu Xá, Giá Sơn, Hữu Nghị, Khả Lý, Mai
Vũ, Mật Ninh, Nội Ninh, Ninh Động, Phúc Ninh, Sen Hồ.
- Tổng Quang Biểu: Đạo Ngạn, Đông Tiến, Nam Ngạn, Ninh Khánh,
Phúc Lâm, Quang Biểu, Yên Ninh.
- Tổng Tiên Lát: Hà Hạ, Lơng Tài, Nguyệt Đức, Phù Tài, Thần Chúc, Thổ
Hà, Thợng Phúc, Yên Viên.
- Tổng Thiết Sơn: Mỏ Thổ, Ngân Đài, Nghĩa Hạ, Nghĩa Thợng, Nghĩa
Vũ, Nh Thiết, Tĩnh Lộc, Thiết Nham, Thiết Thợng, Thiết Sơn, Trung Lai, Yên
Liễn.
- Tổng Tự Lạn: Hạ Lát, Hà Thợng, Hơng Giáp, Hơng Mai, Lan Trạch,
Làng Chàng, Làng Núi, Tự Lạn, Xuân Lạn.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị cấp tổng bị bãi bỏ. Nhiều liên
xã hoặc xã ra đời với những tên mang tính cách mạng nh Chấn Hng, Cộng
Hòa, Hồng Phong và những tên cũ nh: Kinh ái, Hà Lạn, Phơng Lạn, Cai
Vàng, Mỏ Ngân, Nghĩa Hạ, Thiết Thợng, Chu Ngàn, Quang Tiến, Quang
Trung, Khả Cao, Tăng Long, Thần Chúc, Tiên Sơn, Yên Hà, Lan Đình, Ninh
Sơn. Trong quá trình kháng chiến lại diễn ra sự sáp nhập, hoặc đổi tên nh hai
xã Chấn Hng, Cộng Hòa hợp với Vân Trung thành xã Hồng Phong, 2 xã Hà
Lạn, Phợng Lạn thành Việt Tiến, 2 xã Cai Vàng và Mỏ Ngân thành Minh Đức,
2 xã Chu Ngàn và Quang Tiến thành Quang Châu
13
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi lại tiến hành
chia tách xã. Hàng loạt xã mới xuất hiện nh: xã Việt Tiến chia thành xã Việt
Tiến, Hòa Tiến; xã Kinh ái chia thành Hồng Thái, Tăng Tiến; xã Hồng Phong
chia thành Dân Tiến, Hòa Bình; xã Quảng Minh chia thành Quảng Minh, Ninh
Sơn; xã Sơn Hà chia thành Vân Hà, Tiên Sơn; xã Lan Đình chia thành Thợng
Lạn, Tân Tiến.
Ngày 15/10/1957, Bộ nội vụ đã ra thông t số 5904 về việc đặt tên xã xóm ở
vào tài liệu lịch sử để lại, nghề làm gốm có từ thời nhà Lý. Nguyên liệu chủ
yếu là đất sét đồng chiêm trũng có mầu xanh nõn dong hoặc vàng ngả mầu
múi mít. Với bàn tay khéo léo, phơng pháp tạo hình chủ yếu là chuốt đã tạo ra
những sản phẩm bền đẹp với cái mộc mạc, nhẫn nại đơn sơ của bồn hoa,
chậu cảnh, chum vại Gốm Thổ Hà không lẫn với nơi khác bởi nó không
tráng men, nhng trong giai đoạn đun lò do khéo điều khiển nên một lớp tráng
men mầu nâu sẫm nh da lơn, bóng nhẫy phủ khắp đồ gốm, tiếng kêu của gốm
Thổ Hà đanh chắc, vang lên nh thép [27;253]. Vì vậy, công việc nhóm và lấp
lò đợc giao cho các ông S lò đảm nhiệm.
Nghề nấu rợu lâu đời ở Vạn Vân cũng đợc nhiều nơi biết đến. Rợu làng
Vân từ xa đã nổi tiếng thơm ngon nhờ hơng liệu của nếp cái hoa vàng - thứ
nếp đặc biệt thơm ngon cùng men rợu bí truyền nơi đây. Sau 72 giờ ngâm ủ
cho ra rợu nếp nh một thứ tinh tuý nhất của trời đất ban tặng. Rợu làng Vân
thứ nớc trong văn vắt đợc đóng vào chai với nhãn hiệu Ông Tiên, chỉ cần lắc
nhẹ thấy sủi tăm. Hàng ngàn tăm rợu xoay tròn, ngời sành chỉ cần nhìn vào
tăm biết đợc rợu đạt độ bao nhiêu, uống vào có êm hay không.
Đến Thổ Hà, nơi có dòng sông đẹp ôm ấp những làng mạc trù phú ta còn
nghe truyền lại tập tục xa Nam thú đồng hơng, nữ giá bản quán; hay:
Trời ma cho ớt lá khoai
Đố ai lấy đợc con trai Thổ Hà
Trời ma cho ớt lá cà
Đố ai lấy đợc đàn bà Vạn Vân .
Nghề buôn bán ở Việt Yên khá thịnh đạt. Từ thế kỷ XVII, buôn bán đã trở
thành một loại hình kinh tế tơng đối phổ biến. Mật độ chợ khá dày, trung bình
cứ 10km
2
có một chợ. Trong đó nổi lên có chợ Thổ Hà mang tính chất văn hoá
- kinh tế hàng năm họp một lần vào ngày 25 tháng Chạp tại sân đình. Theo
tấm bia còn lại ở chùa Thổ Hà khắc năm Chính Hoà thứ 14 (1693) ở xã ta từ
15
Hoà nhịp chung với cả nớc, nhân dân Việt Yên có tinh thần yêu nớc, đấu
tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm. Mở đầu cho trang sử hào hùng này theo
truyền thuyết là chiến công của Thạch tớng quân (ngời Tiên Lát) đánh đuổi
giặc Man Khấu kéo đến xâm lợc nớc Văn Lang vào đời Hùng Vơng thứ 16.
Suốt nghìn năm chống giặc phơng Bắc, Việt Yên là nơi diễn ra nhiều trận
đánh, trận thắng lớn của quân và dân ta chống kẻ thù xâm lợc. Phòng tuyến
sông Cầu của Lý Thờng Kiệt đã đánh tan sự xâm lợc của nhà Tống. Núi Tam
Tầng - nơi diễn ra những trận quyết chiến giữa nhà Trần với quân Mông -
Nguyên, giữa quân Tây Sơn với quân Thanh những địa danh ấy đã làm cho
kẻ thù phải khiếp sợ mỗi khi nhắc tới.
Từ giữa thế kỷ XVIII, nhân dân Việt Yên đã tham gia vào các cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751), Quận Tờng (1866-1874), Đại Trận
(1870-1875) chống lại chế độ phong kiến hà khắc.
Trải qua bao thế kỷ đấu tranh để tồn tại và phát triển với truyền thống đoàn
kết, tơng thân tơng ái, tự lực tự cờng, dũng cảm bất khuất trớc mọi thử thách
của thiên nhiên và sự tàn bạo của kẻ thù, nhân dân Việt Yên đã cùng nhân dân
cả nớc viết nên những trang sử vẻ vang trong quá trình dựng nớc và giữ nớc.
Truyền thống đó vừa là cơ sở, vừa là yếu tố tinh thần để nhân dân Việt Yên
tiếp tục phát huy trên con đờng phía trớc.
1.1.3.2 Tình hình chính trị - kinh tế - xã hội trớc cách mạng T8/1945
Sau hiệp ớc Patơnốt (1884), đất nớc ta rơi vào tay thực dân Pháp. Kẻ thù
của dân tộc Việt Nam lúc này là thực dân Pháp và bọn phong kiến nhà Nguyễn
đầu hàng. Khi không đạt đợc mục đích đánh chiếm Bắc Kỳ vào năm 1873, đến
tháng 4 năm 1882 quân Pháp tiến hành xâm lợc Bắc Kỳ lần II.
17
Chớp lấy cơ hội đó, triều đình Mãn Thanh đã đa 2 vạn quân tràn vào Bắc
Kỳ để mặc cả với thực dân Pháp. ở tỉnh Bắc Giang, tớng Mãn Thanh là Hoàng
Quế Lan chiếm Lạng Giang, Trần Đắc Quý giữ Yên Dũng, Diệp Phùng Xuân
chốt ở Tam Tầng. Mùa xuân năm 1884, quân Pháp tổ chức đánh chiếm tỉnh
Bắc Ninh. Mặc dù, quân đội nhà Nguyễn có quân Thanh hỗ trợ vẫn để Bắc
nhũng vả lại nó cũng vấp phải sự chống đối của lớp kỳ mục cũ. Vì vậy, năm
1927 chúng lập lại HĐKM bên cạnh HĐTB. Nhng những cố gắng đó không
đem lại kết quả, đến năm 1941 cả hai Hội đồng này đều bị giải thể thay vào đó
là HĐKH trên sự củng cố lại HĐKM.
Để tăng thêm lực lợng quân sự, thực hiện đợc chủ đích thay thế mầu da
trên xác chết, thực dân Pháp tìm mọi cách biệt đãi những ngời tham gia lực l-
ợng vũ trang của chúng. Mỗi ngời đi lính kể cả lính cơ, lính trạm, lính lệ đều
đợc hởng 3 mẫu lơng điền hoặc lĩnh 250$00 ngoài lơng tháng. Tất cả các
khoản này đều do cấp xã chi. Khi chiến tranh thế giới bùng nổ, chúng tìm mọi
cách mộ thêm thanh niên sang Pháp làm lính thợ không chuyên với nhiều biệt
đãi.
Một điều khiến thực dân Pháp rất quan tâm là việc đào tạo đội ngũ quan lại
và những ngời giúp việc. Thông qua thực tiễn cai trị, chính quyền bảo hộ thấy
rằng trí thức Hán học - Nho học tỏ ra không phù hợp với phơng thức cai trị
mới tuy họ sâu sắc uyên thâm gần dân và hiểu dân. Từ năm 1903, số này vẫn
đa đi làm Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo, Giáo thụ nhng đều phải trải qua trờng
hậu bổ và đến năm 1912 qua trờng sỹ hoạn. Sau khi khoa thi hơng cuối cùng
đợc tổ chức, trờng sỹ hoạn đợc thay thế bằng trờng Pháp chính để đào tạo quan
cai trị ngời Việt theo ngạch Tây để bổ Tri huyện, Tri phủ. Mãi tới năm 1917
chúng mới đa ra qui chế giáo dục hoàn chỉnh để đào tạo nguồn quan lại, ngời
giúp việc hoàn toàn mới.
19
Hệ thống trờng tiểu học Pháp Việt ở Việt Yên tính đến năm 1936 có:
Trờng tiểu học Pháp Việt toàn cấp, trờng kiêm bị ở Sen Hồ, trờng sơ đẳng
tiểu học Pháp Việt có một giáo viên ở My Điền, Tự Lạn, Thiết Nham, Nội
Ninh, Bích Động
Trờng hơng học có một hơng s: Mỏ Thổ, Hoàng Mai, Hùng Lãm, Vân Cốc,
Khả Lý, Điêu Liễn, Lan Trạch.
Trừ trờng kiêm bị ở Sen Hồ còn hầu hết các trờng khác đều đặt ở đình đền.
Cũng theo thống kê năm 1936, tỷ lệ đi học của Việt Yên 6,8%, trong khi Hiệp
chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập các đồn điền. Bọn địa chủ nơi đây là
Táctaranh chiếm 780,96 ha. Một số tên Việt gian cũng dựa vào thực dân Pháp
chiếm đất lập đồn điền nh Mai Trung Tâm chiếm 199,5 ha. Ngoài ra còn có
hàng trăm địa chủ vừa và nhỏ ở các làng xã chiếm hàng ngàn mẫu ruộng.
Vừa bị tớc đoạt ruộng đất, ngời nông dân Việt Yên còn bị bóc lột tàn bạo
bởi chính sách su thuế. Một loạt chính sách do Toàn quyền Đông Dơng
Pônđume ký nh: thay đổi kích thớc quan điền xích - tức thớc ta, một mẫu Bắc
Bộ đợc tính từ 4970m
2
chỉ còn 3600 m
2
. Nhờ vậy, diện tích ruộng đất tăng lên
1/3 một cách giả tạo. Su (thuế thân, thuế đinh) đánh vào cả ngoại đinh (đàn
ông từ 18 - 60 tuổi ngụ c), nội đinh (đàn ông chính c) ngoại đinh 0$30 một
năm, nội đinh năm 1897 nộp 2$50 đến năm 1908 đã lên 4$80: Theo thống kê
của chính quyền Pháp năm 1933 huyện Việt Yên có 11.182 xuất su, số tiền
phải nộp 31.824 đồng bình quân mỗi xuất phải đóng 2,84 đồng, tơng đơng với
gần tạ thóc thời giá ngày đấy [7,14].
Huyện Việt Yên cũng nh nhiều nơi khác, mỗi lần đến kỳ khảo thuế lại diễn
ra bao cảnh đau lòng. Tỉnh chỉ đa lệnh bài về huyện, huyện giao cho Lý trởng,
Lý trởng cho họp để bổ thuế. Ai không tiền nộp liền bị Chánh Phó lý bắt ra
đình tra tấn kiểu ngũ trảo (kẹp 5 ngón tay).
21
Ngoài su cao thuế nặng, ngời nông dân Việt Yên phải nộp thêm các khoản
thuế công điền, công thổ và nhiều thứ thuế vô lý khác nh nhiều khoản phụ thu
lạm bổ do bọn quan lại và bọn hào lý tự tiện đặt ra.
Từ khi phát xít Nhật vào xâm lợc nớc ta, ngời nông dân càng bị bóc lột
nặng nề hơn: đi phu làm các công trình quân sự, phải nhổ lúa và hoa mầu để
trồng đay phục vụ cuộc chiến, bán thóc gạo với giá rẻ cho phát xít Nhật. Năm
1943, mức thu thóc tạ của Nhật tăng lên 7 lần so với năm 1942; năm 1944
sâu xa.
Trong những năm gần đây, thuật ngữ hơng ớc không chỉ quen thuộc đối với
các nhà khoa học mà còn rất phổ biến trong nhân dân, nhất là từ khi hiện tợng
tái lập hơng ớc và xây dựng làng văn hoá phát triển thành một phong trào
rộng khắp cả nớc. Tuy nhiên, để hiểu một cách thấu đáo, toàn diện khái niệm
hơng ớc cũng nh để lý giải đợc nguồn gốc sâu sa và sự xuất hiện của thuật ngữ
này trong lịch sử Việt Nam không phải là vấn đề đơn giản.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, hơng ớc là thuật ngữ nguyên Hán, đợc du nhập
vào Việt Nam muộn nhất vào thế kỷ XV, bằng chứng là bản sao hơng ớc làng
Tri Lễ xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn mang dấu ấn niên đại sớm nhất còn lại
đến ngày nay [41;283]. Song cho tới cuối thế kỷ XVII, các qui ớc trong làng
xã vẫn mang tên gọi là khoán ớc. Thế kỷ XVIII, XIX thuật ngữ hơng ớc mới
dần trở nên quen thuộc. Sang đầu thế kỷ XX, hơng ớc đợc dùng hết sức rộng
rãi trong các làng xã, nhiều nơi không còn thuật ngữ khoán ớc, mà lệ làng
thành văn bản là hơng ớc [41;285].
Từ cận đại đến nay, các nhà nghiên cứu thuộc nhiều bộ môn KHXH đã đa
ra những định nghĩa khác nhau về hơng ớc. Trong sách Việt Nam phong tục,
23
Phan Kế Bính nêu chốn hơng thôn thờng có hẹn riêng với nhau lập ra sổ sách,
đồng dân ký kết gọi là khoán ớc [10;206], sau đó trong mục khoán ớc ông lại
đồng nhất thuật ngữ khoán ớc với hơng ớc. Tác giả cuốn Hơng ớc và quản lý
làng xã của Bùi Xuân Đính còn khẳng định tuỳ theo cách ghi chép của từng
làng mà hơng ớc đợc gọi bằng những tên khác nhau: hơng biên, hơng khoán,
hơng lệ, khoán ớc, khoán lệ, tục lệ, cựu khoán, điều ớc, điều lệ [22;24].
Hơng ớc là gì? đã có rất nhiều các quan điểm đa ra dựa trên những góc
độ của từng nhà nghiên cứu:
- Cao Văn Biền cho rằng: Hơng ớc là văn bản pháp quy về các tục lệ của
làng xã do quan viên ở làng xã tự xây dựng nên cho làng mình nhằm bảo vệ sự
tồn tại của cộng đồng dân c ở làng xã trong t thế ổn định của nó về lãnh thổ;
xây dựng phong tục, tập quán tốt đẹp; phát triển đời sống văn hoá, kinh tế, xã
ơng ớc, còn gọi là hơng ớc mới (qui ớc làng văn hoá).
Hơng ớc cổ (từ thế kỷ XV đến trớc năm 1921)
Các nhà nghiên cứu về hơng ớc đều thống nhất lấy thời điểm trớc năm
1921, vì cho tới nay vẫn cha có t liệu lịch sử nào cho phép chúng ta xác định
niên đại chính xác mà hơng ớc cổ ra đời. Chỉ biết rằng, vào thế kỷ XV, vua Lê
Thánh Tông đã có đạo dụ nhằm hạn chế bớt các làng lập khoán ớc, hơng ớc đã
trở thành một hiện tợng khiến nhà nớc phải quan tâm. Theo TS. Vũ Duy Mền
bản sao ớc từ (hơng ớc) xã Tri Lễ (xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An)
mang dấu ấn niên đại sớm nhất còn lại đến ngày nay (1420) [41;283]. Có rất
nhiều lý do để những bản hơng ớc cổ vốn rất quý giá bị mất đi - đặc biệt trên
đất nớc phải vợt qua nhiều thử thách trong đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc - do tàn phá của chiến tranh, thời tiết, bảo quản Vì vậy mà ngoài bản
sao kể trên, những hơng ớc mà chúng ta biết đến hiện nay đều mang niên đại
khá muộn (thế kỷ XVII). Đó là: Quỳnh Đôi kim cổ, sự tích hơng biên
25