CHƯƠNG III
GIỚI THIỆU VỀ ĐỘNG CƠ BƯỚC VÀ PHƯƠNG
PHÁP ĐIỀU KHIỂN ĐỘNG CƠ BƯỚC
Trong hệ thống tự động và trong máy tính điện tử ngày càng sử dụng rộng rải
hệ thống truyền động rời rạc.
Các hệ thống truyền động rời rạc này thực hiện nhờ loại động cơ chấp hành
đặc biệt gọi là động cơ bước.
Động cơ bước thường là động cơ đồng bộ dùng để phổ biến các tín hiệu điều
khiển dươí dạng các xung điện áp thành các chuyển động góc quay hoặc chuyển động
của rotor và có khả năng cố đònh rotor vào những vò trí cấn thiết.
Động cơ bước làm việc được nhờ có bộ chuyển mạch điện tử , để đưa tín hiệu
điều khiển vào các cuộn dây stator, theo một thứ tự và một tần số nhất đònh . Tổng số
góc quay của rotor tương ứng với số lần chuyển mạch, cũng như chiều quay và tốc độ
quay của rotor, phụ thuộc vào thứ tự chuyển và tần số chuyển đổi.
Động cơ bước được chia thành hai loại, động cơ bước nam châm vónh cửu và
động cơ bước từ trở thay đổi( cũng có loại động cơ phối hợp cả hai loại trên ) cách
chia cũng phụ thuộc quan điểm người sử dụng .
Nếu đánh mất nhãn trên động cơ ta có thể tổng quát nêu lên được hai khác
biệt bởi cảm nhận được qua giác quan. Động cơ nam châm vónh cửu có xu hướng
“khớp “ khi ta dùng tay xoay rotor trong khi động cơ từ trở thay đổi hầu như quay tự
nhiên, ta cũng có thể phân biệt được sự khác nhau khi dùng một Ohm-Metter động cơ
từ trở thay đổi thường có ba hay bốn cuộn dây với một đầu chung trong khi động cơ
nam châm vónh cửu luôn có hai cuộn dây độc lập có hay không có đầu nối ở tâm (loại
nam châm vónh cửu đơn cực thường dùng ) .
Động cơ bước có tầm rộng của độ phân giải góc, bước lớn nhất khoảng 90 độ
trên mỗi bước. Đối với động cơ nam châm vónh cửu có độ phân giải cao thường có thể
điều khiển được 1.8 hay ngay cả 0.72 độ cho mỗi bước. Với bộ điều khiển thích hợp,
động cơ nam châm vónh cửu và hổn hợp có thể hoạt động ở chế độ Hafl-Step, một số
bộ điều khiển có thể điều khiển ở các bước rất nhỏ gọi là micro-step.
II. ĐỘNG CƠ ĐƠN CỰC
Hình 3.2
Động cơ bước đơn cực cả nam châm vónh cửu lẫn động cơ bước hỗn hợp có 5
hay 6 đầu dây thường dùng sơ đồ trên một kết nối giữa cho mỗi dây. Khi sử dụng các
kết nối giữa của cuộn dây thường được kết vào nguồn cung cấp dương và hai đầu của
mỗi cuộn dây được nối xuống đất, tuỳ thuộc đầu vào nối đất ta sẽ xác đònh chiều quay
rotor.
Động cơ mô tả ở trên là loại động cơ nam châm vónh cửu hay hỗn hợp mỗi
bước tương ứng 30 độ. Cuộn dây số một của động cơ được đònh ở giữa cực trên và cực
dưới của stator trong khi cuộn dây thứ 2 của động cơ được đònh giữa cực trái và phải
của động cơ. Rotor động cơ nam châm vónh cửu này có 6 cực 3 nam và 3 bắc được sắp
xêáp vòng tròn.
Cho độ phân giải cấp cao hơn rotor động cơ phải có nhiều cực hơn loại động cơ
30 độ cho mỗi bước ở trên là một trong các thiết kế động cơ điện phổ biến nhất tuy
nhiên loại động cơ 15 hay 7.5 độ cho mỗi bước cực có giá trò hơn.
Như trong hình vẽ minh họa dòng điện chạy từ điểm giữa cuộn dây tới điểm
cuối là nguyên nhân gây ra cho đỉnh của cực stator là bắc trong khi đó cực dưới lại
nam , nó hút rotor về vò trí như hình vẽ. Nếu ta ngưng cấp điện cho cuộn thứ nhất và
cấp điện cho cuộn thứ hai thì rotor sẽ quay 30 độ hay một bước.
Để cho động cơ quay liên tục ta cấp điện cho hai cuộn dây tuần tự. Hình sau sẽ
minh hoạ cho động cơ quay theo chiều thuận:
Winding 1a 1000100010001000100010001
Winding 1b 0010001000100010001000100
Winding 2a 0100010001000100010001000
Winding 2b 0001000100010001000100010
time --->
mỗi cuộn dây. Mạch cầu H cung cấp năng lượng 1 cách độc lập mỗi đầu cuộn dây.
Tín hiệu điều khiển tuần tự cho mỗi bước động cơ như sau:
Terminal 1a +---+---+---+--- ++--++--++--++-Terminal 1b --+---+---+---+- --++--++--++--++
Terminal 2a -+---+---+---+-- -++--++--++--++Terminal 2b ---+---+---+---+ +--++--++--++--+
time --->
Thông thường H-bridge có một tín hiệu cho phép xuất và một tín hiệu điều
khiển khác dùng để điều khiển chiều quay cho mỗi cực:
Enable
1 1010101010101010 1111111111111111
Direction 1 1x0x1x0x1x0x1x0x 1100110011001100
Enable
2 0101010101010101 1111111111111111
Direction 2 x1x0x1x0x1x0x1x0 0110011001100110
time --->
Ta có thể nhận ra động cơ bước lưỡng cực nam châm vónh cửu 4 đầu dây động
cơ bằng cách đo điện trở giữa các đầu dây ta sẽ xác đònh được hai cuộn dây. Trong
mỗi dây nếu hai đầu được mắc nối tiếp thì động cơ có thể sử dụng ở mức điện áp cao.
Nếu chúng được mắc song song thì chúng có thể sử dụng ở mức điện áp thấp. Nếu
chúng được mắc với điểm giữa thì chúng ở chế độ như là động cơ đơn cực.
IV. ĐỘNG CƠ NHIỀU PHA
Hình 3.4
Loại động cơ này hiếm thấy trong các loại động cơ bước nam châm vónh cửu,
đầu của các cuộn dây được nối tuần hoàn với một nút giữa hai cặp cuộn dây trên hình
Cuộn dây động cơ, cuộn dây soilenoide và các thiết bò tương tự điều gây ra
hiện tượng cảm ứng do đó dòng điện trong cuộn dây không thể tăng giảm một cách
đột ngột khi ta ngắt các khoá analog dòng điện không thể về 0 ngay tức thì mà phải
mất 1 thời gian nhất đònh nào đó. Kết quả là gai điện áp xuất hiện làm hỏng các khoá
nếu không dùng thiết bò phù hợp. Có hai cách để khác để khắc phục tình trạng này là
mắc đối song các cực của cuộn dây động cơ với một diode hoặc cách khác là dùng tụ.
Diode ở trên cho phép dẫn toàn bộ dòng trong mỗi cuộn dây, nhưng nó chỉ dẫn
trong thời gian ngắn mỗi khi khoá bò ngắt, dòng điện sẽ giảm về 0. Nếu ta dùng họ
diode ít phổ biến như là 1N400X được dùng với các khoá đóng ngắt nhanh thì ta nên
dùng tụ mắc song với diode.
Tụ ở sơ đồ trên sẽ đưa ra một số vấn đề khi thiết kế. Khi nó được kích đóng tụ
xả năng lượng qua khoá xuống đất và khoá phải chòu được các xung áp khi tụ xả trong
một thời gian ngắn.
Điện trở trong mạch và nguồn cung cấp sẽ giới hạn dòng này. Khi khóa được
mở năng lượng tích trữ trong cuộn dây motor sẽ nạp năng lượng cho tụ có đặc tính là
áp cao hơn nguồn và khoá phải chòu được áp này.
Ta có thể tính toán tụ theo phương trình năng lượng:
CV 2
P=
2
P=
LI 2
2
P: năng lượng tồn trữ (W.s hay Cu.v)
C: giá trò tụ điện (F)
V: điện áp đặc lên tụ (V)
ứng làm hỏng khoá khi khoá bò khích ngắt ta phải mắt thêm 4 diode như sau:
Hình 3.8
Các diode thêm vào là bắt buộc bởi vì cuộn dây của động cơ không là hai
phần điện cảm riêng biệt, chúng được nối chung với nhau như hình vẽ và được nối với
một điện áp cố đònh. Trong hai đầu dây còn lại nếu một đầu được đưa xuống mức
thấp thì đầu còn lại phải đưa lên mức cao và ngược lại. Khi một khoá đang chuyển từ
trạng thái đóng sang trạng thái ngắt thì dòng điện cảm ứng sinh ra có thể làm hư
mạch, điều này được hạn chế bằng diode.
Một tụ điện cũng có thể được sử dụng để hạn chế điều trên:
Hình 3.9
Cách tính giá trò tụ tương tự như hình trên nhưng các thông số cộng hưỡng thì
khác. Với một động cơ bước nam châm vónh cửu nếu tụ hoạt động gần tần số cộng
hưởng thì moment sẽ tăng gấp đôi kết quả là đồ thò moment và tốc độ sẽ phức tạp:
Hình 3.10
3. Mạch cầu điều khiển động cơ bước lưỡng cực và cầu H
Điều khiển động cơ bước nam châm vónh cửu lưỡng cực thì phức tạp hơn nhiều
vì không có cuộn dây ở giữa mỗi cuộn dây động cơ vậy để đảo chiều động cơ một
cách trực tiếp chúng ta phải đảo chiều dòng điện ở mỗi cuộn dây. Ta phải dùng hai
cặp cực ghép với mỗi khoá để tạo ra điện trường mong muốn, mạch này thường được
gọi là mạch cầu H:
Hình 3.11
Như đã đề cập, mạch cầu H phải được bảo vệ xung áp khi đóng khoá, do đó ta
phải dùng diode như hình.