KINH TẾ HỘ VÀ TRANG TRẠI
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ HỘ VÀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1. Các khái niệm cơ bản về kinh tế nông hộ
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành
kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống
chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người
làm
công, người cùng ăn chung. Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về
“Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung
và cùng có chung một ngân quỹ.
Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng:
“Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết
tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm.
Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các
nguồn lực tạo thà
nh một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ
chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”.
Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981,
1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người
có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ là một đơn
vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”.
Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cam
bridge (1988) đưa ra một
số định nghĩa về nông dân, nông hộ. Theo ông cấc đặc điểm đặc trưng của đơn vị
kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác
trong một nền kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn
hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời
(Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế.
1. Vị trí, vai trò của k
inh tế hộ trong thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân
lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng
thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình
(chỉ với 5% quỹ đất canh tác đư
ợc chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo
lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến
lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ).
Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao
động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển.
Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-01-1981
của Ba
n Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động trong hợp tác xã.
Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 05 – 04 - 1988 của Bộ Chính trị về đổi
mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp.
Đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có
Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày
03-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông
nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà
nước đối với với quản lý sảnxuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên
cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ. Tuy những đặc
điểm tru
yền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền
sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh
tự chủ, tự quản. Động lực mới cho sự phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông
thôn đã xuất hiện.
à
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Trong bản thân kinh tế hộ trang trại cũng có sự phát triển về chất, xuất hiện
nhiều nhu cầu đầu tư vốn lớn, thuê đất canh tác và lao động thường xuyên hoặc
theo thời vụ, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây, con theo hướng đáp ứng ngày một
tốt hơn nhu cầu thị trường. Chẳng hạn, trang trại chăn nuôi tăng rất nhanh, bên
cạnh số trang trại sản xuất câ
y hàng năm và cây lâu năm cũng có sự phát triển về
số lượng và chất lượng. Lượng hàng hóa nông sản của các trang trại đang ngày
càng có vị trí trên thương trường. Một số các trang trại lớn đã bắt đầu phát triển
thương hiệu, mở rộng các quan hệ làm ăn với các công ty lớn trong chế biến, thu
mua và xuất khẩu.
3. Khó khăn và thách thức trong thời gian tới
- Kinh tế hộ gia đình phần lớn sản xuất với qui mô nhỏ, tự cấp, tự túc, do
ruộng đất giao cho các hộ manh mún, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp.
-Trình độ học vấn, trình độ tay nghề của người lao động thấp, việc tổ chức
sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên chất
lượng sản xuất, kinh doanh chưa cao và thiếu bền vững.
-
Chất lượng sản phẩm hàng hoá của các hộ gia đình chưa cao, chủ yếu
dưới dạng thô, tiêu thụ khó khăn, chưa nắm bắt được thị trường, nên còn thụ động,
hiệu quả thấp.
- Khó khăn và thách thức lớn đối với nông dân nước ta nói chung và kinh tế
hộ nói riêng trong tiến trình hội nhập ngày một sâu vào kinh tế thế giới là chênh
lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Đây là
một trong số các nguyên nhâ
n chính đang khoét sâu thêm khoảng cách cả thu nhập
lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị Thêm vào đó tỷ lệ hộ nghèo khu
vực nông thôn tuy đã giảm mạnh, hơn một nửa trong khoảng thời gian 10 năm,
hội cho tất cả mọi người, nhưngkhông phải mọi người đều có đủ khả năng như
nhau để tận dụng cơ hội đó. Người nắm
thông tin, người nhiều vốn, người lanh lợi và phải có chút “tinh quái” mới tận
dụng cơ hội tốt hơn và do đó giàu lên nhanh hơn. Không ít người lợi dụng quá
trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước những năm gần đây
nắm giữ nhiều
cổ phiếu; hay những người biết trước thông tin về quy hoạch nên đầu cơ được
những khu đất đắc địa từ đó càng có điều kiện thu vén những nguồn lợi từ các cơ
hội tốt, lại càng có điều kiện tích lũy làm giàu - giàusẽ dễ giàu thêm hơn, nghèo thì
thua thiệt và dễ nghè
o đi.
Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt đó trước vòng xoáy của các
quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không còn tồn tại, chính quyền
cơ sở lại yếu kém, thì không biết dựa vào đâu? Bởi vậy, sự nghiệt ngã của tình
cảnh “nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu nhanh hơn” đang là tác nhân chính
khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa
nông thôn và thành thị. Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng số người tự do
di cư ra thành thị kiếm v
iệc làm đang tăng lên hàng ngày. Người nông dân bị thu
hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi vào tình trạng tương tự. Tư
liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để
chuyển đổi nghề nghiệp. Phần đông nông dân có tiền (ý nói tiền đền bù do bị thu
hồi đất) cũng khó tìmphương án nào cho hiệu quả để sử dụng lượng tiền dành dụm
đư
ợc cho sản xuất, kinh doanh. Họ luôn trong tâm lý lo sợ rủi ro, bởi vậy, tư duy
“ăn chắc, mặc bền” vẫn là phổ biến, có đồng nào đổ vào “xây nhà xây cửa” chắp
vá, cơi nới một cách manh mún rất tốn kém.
- Vốn tích lũy của các hộ gia đình cũng có sự phân biệt khá rõ giữa các loại
hình sản xuất. Theo số liệu của tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2006
của Tổng cục Thống kê, tính đến giữa năm
TX) hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn
chưa đáp ứng đầy đủ, do chưa hoạt động thật hiệu quả và thiết thực. Theo số liệu
điều tra của Trung tâm Phát triển nông thôn (RUDEC) năm 2007, thì HTX chỉ đáp
ứng 6,9% nhu cầu phân bón và 13,8% nhu cầu giống, trong khi đó các đại lý tư
nhân cung cấp tới 59,2% phân bón và 43,1% giống. Thực trạng chung của các
HTX là, mức vốn hoạt động còn nhỏ, đặc biệt là các HTX trong nông nghiệp, công
nghiệp, xâ
y dựng, thương mại. Tỷ lệ vốn cố định ở các HTX rất cao, từ trên 70%
đến 95%. Tình trạng này làm cho HTX thường không đủ vốn lưu động để hoạt
động, do đó cũng không phát huy được vốn cố định, trong khi vay ngân hàng thì
gặp nhiều khó khăn về tài sản thế chấp. Ngược lại, trong lĩnh vực tín dụng thì tỷ
trọng vốn cố định rấtthấp (chưa đạt 5%), dẫn đến tình trạng chung ở các quỹ tín
dụng là cơ sở làm việc rất nghèo nàn, không đảm bảo an toàn cho việc mở rộng
hoạt động huy động và cho vay. Tỷ lệ HTX có quan hệ tín dụng với ngân hàng và
các tổ chức tín dụng khác chỉ bằng 11,3%
số HTX được thống kê, điều đó cho
thấy các HTX chưa phát triển các quan hệ tín dụng với ngân hàng để có thêm vốn
phát triển các dịch vụ phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của xã viên.
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với quá trình sản xuất nông nghiệp.
Nhưng khókhăn lớn hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các khu
công nghiệp, khu đô thịvà gia
o thông với tốc độ quá nhanh. Đất trồng lúa nước
năm 2005 đã giảm trên 302 ngàn hécta so với năm 2000. Theo số liệu thống kê,
trong 5 năm qua cả nước đã có khoảng 13% số hộ nông dân bị mất đất, mà lý do
chính là bị thu hồi do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa.Trong khi đó, nhiều
hộ khác tuy đã năng động chuyển đổi ngành nghề, nhưng vẫn không đủ “can đảm”
(tính chắc chắn của nghề mới chưa bảo đảm cho các hộ chuyển nghề yên tâ
m) để
nhượng ruộng cho người khác canh tác hay thuê người làm. Phần lớn là giữ đất
hay có chăng cũng là cho con cháu làm để vừa đủ mức nộp thuế sử dụng đất. Bởi
An vào thị trường Trung Đông, gạo, hạt tiêu, cà phê xuất khẩu ra thế giới.
- Hội nhập càng sâu, nền kinh tế càng sớm hòa vào dòng chảy chung của
thế giới, rõ rệt nhất là sự san bằng mặt giá các vật phẩm tiêu dùng do giá xuất nhập
khẩu nguyên liệu đầu và và năng lượng rất nhanh chóng bị “quốc tế hóa về giá”,
bởi vậy các hộ gia định nông dân phần lớn là nghèo và dưới trung bình của xã hội
về mức sống sẽ dễ bị tốn thương khigiá cả leo thang. Thực tế vừa qua cho thấy
tình trạng nhập khẩu lạm
phát (do giá thế giới lên cao, nhất là xăng dầu ) đan xen
với xuất khẩu lạm phát (xuất được gạo giá cao thì giá gạo trong nước cũng sốt lên,
xuất được giấy giá cao thì giá giấy trong nước cũng tăng lên, thậm chí thiếu
giấy ).
- Công nghiệp của đất nước phát triển chưa đủ mạnh để thu hút một lượng
lớn lao động nông thôn. Và dù có xuất hiện một nhu cầu lớn lao động thì trình độ
đào tạo của một lượng lớn lao động nông thôn cũng chưa thế đáp
ứng kịp (ước
tính mới chỉ có 17% lao động qua đào tạo). Tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao
động đang hiện hữu. Bởi vậy, thách thức rất lớn đối với lao động nông thôn là
chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị. Theo ước tính của chúng tôi, nếu
năng suất lao động tăng như vừa qua, thì để sự chênh lệch thu nhập không quá
cách biệt giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, một hộ
gia định nông nghiệp (
trung bình có 2 lao động chính) phải được canh tác trên một
diện tích là 1 - 2 héc-ta. Đến bao giờ mới tích tụ được như thế, câu hỏi thuộc về
các nhà hoạch định chiến lược của đất nước.
4. Xu hướng phát triển kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam
Từ hộ nông dân tự cung tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hóa kinh tế hộ
nông dân nói riêng và kinh tế nông thôn nông nghiệp nói c
hung có thể phát triển
theo các xu hướng cơ bản như sau:
- Quá trình hình thành các nông trại hay trang trại gia đình. Sự hình thành
khép kín theo từng vùng, từng địa phương với kĩ thuật lạc hậu, sản xuất chậm phát
triển sang kinh tế thị trường. Thị trường là tr
ung tâm của quá trình sản xuất và các
mối quan hệ kinh tế đều thực hiện thông qua quan hệ hàng hóa - tiền tệ.
Kinh tế thị trường có sức sống kỳ diệu của chính sự phát triển. Phát triển
kinh tế hàng hóa sẽ khai thác mọi tiềm năng của nền kinh tế, phát huy được tính
sáng tạo của người lao đông. Khác với kinh tế tự nhiên, sản xuất hàng hóa là nhằm
mục đích trao đổi, đáp ứng nhu cầu của người khác do đó kinh tế hàng hóa có ưu
thế là phát triển nhu cầu. Mà nhu cầu chí
nh là động lực để thúc đẩy phát triển kinh
tế, phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, cũng chính từ đó tạo ra
động lực kinh tế cho con người, thúc đẩy làm giàu, phát triển đi lên. Chỉ có sản
xuất hàng hóa mới tạo ra được mục tiêu và động lực rõ ràng cho người sản xuất,
dịch vụ và họ tồn tại vì người khác - người tiêu dùng. Kinh tế hà
ng hóa ra đời và
phát triển trên cơ sở phân công lao động xã hộ nhưng đến lượt nó, chính sự phát
triển của kinh tế hang hóa lại tác động, thúc đẩy mạnh mẽ sự phân công lao động
xã hội ở trình độ cao hơn.
Kinh tế hàng hóa còn tạo ra được cơ chế đánh giá vai trò vị trí của từng cá
nhân, bộ phận và thành phần kinh tếtrong xã hội. Đặt mọi người v
ào vị trí bình
đẳng thực sự thông qua cơ chế cạnh tranh để chọn lọc, đào thải làm cho con người
trở nên năng động và sáng tạo hơn.
Chính kinh tế hàng hóa là yếu tố đảm bảo cho sự hòa nhập giữa kinh tế
trong nước và kinh tế thế giới, có tác dụng nâng cao trình độ quản lý sản xuất, chất
lượng sản phẩm nhằm tạo ra cơ chế động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất và xã hội hóa nền sản xuất.
Chuyển sang kinh tế hàng hóa với xuất phát điểm là hộ nông dân với tính
cách là đơn vị kinh tế độc lập đồng thời cũng là một sự xác lập một trình độ mới
của sự hợp tác.
FAO (1997), đã đưa ra khái niệm trang trại trên cơ sở khái niệm nông trại.
Theo FAO, nông trại (Farm) là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện các
hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ. Nông trại ở khu vực
châu Á được chia thành 6 loại hình cơ bản theo mục đích sản xuất, diện tích đất
đai và mức độ phụ th
uộc khác nhau.
1 Nông trại gia đình qui mô nhỏ sản xuất theo hướng tự cấp tự túc
Đối với nông trại thuộc loại này, "tự cấp tự túc" (sản xuất để tiêu thụ gia
đình) là mục tiêu chủ yếu của nông trại. Có thể có sản phẩm để bán nhưng không
đáng kể. Nông trại thuộc loại này thường độc lập với bên ngoài (không chịu tác
động của thị trường).
2. N
ông trại gia đình qui mô nhỏ, một phần sản xuất hàng hóa.
Mục tiêu của nông trại thuộc loại này là (l) tiêu thụ gia đình thông qua việc
sản xuất các nông sản phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày của gia đình và (2) thu
nhập tiền mặt thông qua việc bán sản phẩm dư thừa so với yêu cầu tiêu dùng gia
đình.
3. Nông trại gia đình qui mô nhỏ, sản xuất chuyên môn hóa và độc lập.
Đặc trưng của nông trại thuộc loại này là chuyên môn hóa trong một số hoạt
động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cụ thể. Mục tiêu của nông trại loại này cũng
bao gồm sản xuất hà
ng hóa và tiêu thụ gia đình nhưng ở mức độ chuyên môn hóa.
4. Nông trại gia đình qui mô nhỏ, chuyên môn hóa sản xuất nhưng phụ
thuộc .
Tương tự như loại hình trang trại 3 nhưng có một khác biệt cơ bản là hộ gia
đình ít có quyền lực trong việc ra quyết định sản xuất của nông trại. Điều này do
một số lý do sau:
- Đất sản xuất của nông trại không thuộc quyền sở hữu của gia đình mà được
thuê mướn từ các chủ đất khác.
- Hộ gia đình phải vay mượn các đầu vào cho sản xuất từ các doanh nghiệp
ô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình
độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.
Theo thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT IBNN-TCTK ngày 20/06/2000 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Tổng cục thống kê hướng dẫn các tiêu
chí xác định trang trại như sau:
1. Giá trị sản lượng hàng hóa và
giá trị bình quân một năm đạt từ 40 triệu
đồng trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và ven biền miền Trung, từ 50 triệu đồng trở
lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.
2. Có qui mô sản xuất tương đối lớn so với mức trung bình của kinh tế hộ tại
địa phương, tương ứng với từng ngành sản xuất cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
- Đối với các trang trại trồng cây hàng năm là chủ yếu thì ở miền Bắc và
miền Trung phải có diện tích từ 2 ha canh tác trở lên, còn ở các tỉnh Nam Bộ phải
có diện tích từ 3 ha trở lên.
- Đối với trang trại trồng các loại cây lâu năm và cây ăn quả, thì ở các tỉnh
miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 3 ha trở lên, ở các tỉnh Nam
Bộ phải
có diện tích từ 5 ha trở lên.
- Đối với trang trại chăn nuôi như trâu bò phải có từ 50 con trở lên, lợn 100
con trở lên (không kể lợn sữa dưới 2 tháng, gia cầm có từ 2.000 con trở lên (không
tính số con dưới 7 ngày tuổi)
- Đối với trang trại lâm
nghiệp phải có 10 ha đất rừng trở lên.
- Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản phải có từ 2 ha diện tích mặt nước trở
lên.
3. Có sử dụng lao động làm thuê thường từ 2 lao động/năm. Nếu lao động
thời vụ thì quy mô qui đổi thành lao động thường xuyên
4. Chủ trang trại phải là người có kiến thức, kinh nghiệm về nông, lâm, ngư
nghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại.
nghiệp, nông thôn, tạo ra các vùng tập trung, chuyên canh, sản xuất hàng hóa làm
tiền đề cho phát triển công nghiệp chế biên nông sản, thực phẩm ; tạo thuận lợi
cho việc đưa công nghiệp, dịch vụ vào nông thôn ,tăng tốc độ phủ xanh đất trống,
đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái.
Đến nay nhiều vùng sản xuất tập trung về cây công nghiệp và cây ăn quả
như : Cà phê, điều, hồ tiêu, mía, vải thiều, về chăn nuôi bò sữa,
bò thịt, dê, cừu,
nuôi tôm, được hình thành phát triển dựa vào phát triển kinh tế trang trại.
- Kinh tế trang trại tạo thêm việc làm, góp một phần giải quyết số lao động
dư thừa trong nông thôn, tăng thu nhập cho một phận dân cư, góp phần thúc đẩy
việc nâng cao dân trí và đời sống văn hóa ở nông thôn, đặc biệt là ở vùng trung du,
miền núi, vùng đồng bào dân tộc.
Năm 1997, bình quân giá trị thu hoạch sản phẩm trên 1 ha của nhiều trang
trại khá cao. Một số trang trại trồng hồ tiêu, thu nhập đạt từ 200 đến 500 triệu
đồng/ha; trang trại nuôi tôm đạt từ 80 đến 150 triệu đồng/ha, Nhờ đó mà nhiều
chủ trang trại đã giàu lên nhanh chóng ; thu nhập của người lao động làm thuê
thường xuyên đạt khoảng 300 dấn 600 ngàn đồng/tháng ; người làm thuê thời vụ
nhận được đến 25000 đồng/ngày
- Kinh tế trang trại gắn với thị trường, phải tham gia cạnh tranh quyết liệt
trên thị trường, c
hính vì vậy, các trang trại có yêu cầu hợp tác, liên kế lại với nhau
với kinh tế nhà nước về nhiều mặt để có sức cạnh tranh trên thị trường và cùng
nhau chung sức giải quyết các nhu cầu xã hội của người lao động. Mối quan hệ
hợp tác sẽ giúp cho các trang trại vượt qua nhiều khó khăn, đặc biệt là vốn đầu tư
cho sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển ki
nh tế
trang trại trong điều kiện hiện hiện nay.
Những tồn tại:
- Đối với hầu hết các trang trại gia đình, trình độ quản lý của chủ trang trại
- Thiếu vốn nghiêm trọng nhưng nhà nước chưa có chính sách tín dụng để hỗ
trợ các trang trại nhất là trong nhưng năm đầu thành lập.
- Thiếu kỹ thuật, hoạt động sản xuất của trang trại còn dựa chủ yếu vào ki
nh
nghiệm hơn là áp dụng khoa học kỹ thuật, thiếu máy móc, nông cụ và thiêu lao
động lành nghề, nhưng bản thân các trang trại không có điều kiện đào tạo, bồi
dưỡng trong khi Nhà nước chưa quan tâm.
- Cơ sở hạ tầng yếu kém, gây khó khăn cho phát triển và mở rộng sản xuất.
Hầu hết các trạng trại hiện nay được hình thành ở vùng trung du, miền núi đất xấu,
địa hình phức tạp, giao thông thủy lợi, điện đều khó khăn. Do đó sản phẩm làm ra
nhiều đang mâu thuẫn với khả năng vận chuyển chế biến và tiêu thụ.
- Thị trường và giá cả nông sản chưa ổn định nên nhiều chủ trang trại không
muốn mở rộng qui mô sản xuất mặc dù khả năng đất đai. lao động vẫn còn.
3. Những giới hạn của kinh tế nông hộ và tính tất yếu của sự phát triển kinh
tế trang trại tron
g nền kinh tế thị trường.
Từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị (tháng 4 năm 1 988) và Nghị quyết hội nghị
Trung ương Đảng khóa 6 (tháng 3/1989) "Gia đình xã viên trở thành những đơn vị
kinh tế tự chủ". Hộ nông dân (nông hộ) trong cả nước đã huy động được mọi khả
năng sẵn có về lao động,
vật tư - tiền vốn để đầu tư sản xuất trên 90% diện tích đất
canh tác. Kết quả đã sản xuất ra được 98% tổng sản lượng thóc, 99% sản lượng
rau, 95% sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày và 97% sản lượng chăn nuôi gia
súc, gia cầm. Nhờ đó sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn nhìn chung đã
đạt kết quả cao hơn hẳn những thời kỳ trước đây.
Tuy nhiên tỉ suất nông sản hàng
hóa của nông dân (đến năm 1991) còn rất thấp, mới có 20%.
Tình trạng này là do qui mô về những điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa
Doanh nghiệp và trang trại nông dân, nông thôn Việt Nam với hội
nhập kinh tế quốc tế
Trong hai mươi năm đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta đã
giành được thành tựu to lớn. Từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp đã chuyển
sang sản xuất hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế; Tăng trưởng kinh tế, sản
lượng hàng hóa, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế ngà
y một cao. Sản xuất
nông nghiệp không những đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà tỷ trọng xuất
khẩu ngày một tăng. Cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động trong nông nghiệp nông
thôn đã chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Doanh nghiệp và trang trại nông dân nông thôn Việt Nam đã góp phần quan
trọng vào nền kinh tế của đất nước nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn
nói riêng. Hiện nay nước ta có khoảng gần 10 vạn trang trại với quy m
ô, cấp độ
khác nhau, tập trung ở các tỉnh phía Nam chiếm 51%, miền Trung Tây Nguyên
21%, miền núi phía Bắc 10% so với tổng số trang trại. Nước ta có khoảng
70.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm 58,76%,
công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 38,68%, công ty cổ phần hơn 1.700 doanh
nghiệp đã thu hút hơn 4,6 triệu lao động có việc làm thường xuyên và ổn định.
Sự phát triển kinh tế doanh nghiệp và trang trại nông dân, nông thôn Việt Nam
ngà
y càng có vị trí quan trọng; cùng với kinh tế Nhà nước trở thành nền tảng vững
chắc của nền kinh tế quốc dân. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định kinh tế doanh
nghiệp và trang trại là một trong những động lực của nền kinh tế quốc dân; nơi
huy động được nguồn lực trí tuệ, kinh nghiệm, nguồn vốn, sức lao động, khai thác
có hiệu quả tiềm năng kinh tế của địa phương để phát triển hàng hóa, gải quyết lao
động việc làm, tạo ra sự phân công lao động mới trong nông nghiệp nông thôn;
góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông
thôn mới.
hành công.
- Tiếp thu khoa học công nghệ, ứng dụng vào sản xuất, chế biến. Công
nghệ phải phù hợp với quy mô của khối lượng hàng hóa, công nghệ hiện đại, tiên
tiến nhằm sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng yê
u cầu của thị trường thế giới và
nâng cao sức cạnh tranh, giảm giá thành, hiệu quả kinh tế cao.
- Một vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay là phải nâng cao trình độ
năng lực lãnh đạo cả giám đốc và các chủ trang trại cũng như các cán bộ chuyên
môn phải giỏi, thành thạo trong công việc. Vì vậy đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ, khả năng lãnh đạo sản xuất kinh doanh phải thường xuyên trang bị cho
doanh nghiệp và trang trại các kiến thức về quản lý, khoa học kỹ th
uật, sản xuất
kinh doanh, về thị trường công nghệ thông tin, về pháp luật trong nước, thông lệ
quốc tế, luật pháp của các nước trên thế giới có như vậy mới đủ khả năng đưa
doanh nghiệp và trang trại phát triển. Đào tạo nâng cao tay nghề trên từng lĩnh vực
sản xuất là rất quan trọng để họ có đủ khả năng làm ra sản phẩm với chất lượng
cao.
- Xây dựng cơ chế chính sách và tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp và trang
trại. Đầu tư và giúp đỡ về công nghệ thông tin, khuyến nông, lâm, ngư, khuyến
công, xúc tiến thương mại các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bảo hiểm xã hội,
chính sách thuế Tất cả để tạo cho doanh nghiệp và t
rang trại nông dân, nông
thôn Việt Nam phát triển, đáp ứng yêu cầu của sản xuất, chế biến và thị trường để
họ đóng góp xứng đáng vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
và xây dựng đất nước. Để góp phần thực hiện nghị quyết Đại hội X của Đảng,
công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hội nhập với nền ki
nh tế
thế giới, Chính phủ đã quyết định cho thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp và trang
trại nông dân, nông thôn Việt Nam. Hiệp hội có phương hướng nhiệm vụ trong
giai đoạn hiện nay là:
khiển và kiểm tra.
+ Những hoạt động tác động qua lại giữa hệ thống quản lý và hệ thống bị
quản lý.
+ Nghệ thuật vận dụng các học thuyết quản trị vào từng tình huống
Trang trại là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình
thức hiệp tác khác nhau. Vì thế , hoạt động quản trị phải gắn liên với trang trại.
Quản trị trang trại là quá trình thực hiện các chức năng. hoạt động quản trị trên
trang trại nhằm đạt được các mục tiêu sản xuất kinh doanh của trang trại"
Quản trị đóng vai trò rất qua
n trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của trang trại. Một trang trại quản trị tốt, sản xuất kinh doanh sẽ phát triển và đạt
hiệu quả cao. Rất nhiều trang trại làm ăn thua lỗ một phần là do năng lực quản trị
của chủ trang trại kém.
Trong xu thế phát triển kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay. Cần c
hú ý nhiều
đến hoạt động quản trị cũng như năng lực quản trị của các chủ trang trại. Trang
trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất ở nước ta hiện nay.Mặc dù qui mô
sản xuất của trang trại đã vượt trội so với qui mô sản xuất gia đình trước đây,
nhưng công tác quản lý (quản trị) vẫn còn ở cấp độ gia đình chưa theo kịp với sự
phát triển về qui
mô sản xuất. Do đó. hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao,
nhiều trang trại làm ăn thua lỗ.
2. Chức năng của quản trị trang trại.
Trang trại là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh và các chức năng
quản trị thực chất là những tác động của nhà quản trị (thường là chủ trang trại) tới
đối tượng và khách thể sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục
tiêu nhất định.
Các chức năng cụ thể bao gồm:
- Chức năng hoạch định
- Chức năng tổ chức. phối hợp và điều khiển.
2.3 Chức năng kiểm tra giám sát
Kiểm tra là một chức năng cơ bản của quản trị trang trại nhằm mục đích xác
định thực chất các công việc đã được thực hiện theo mục tiêu đã định. Trên cơ sở
kiểm tra để biết mức độ các công việc đã được thực hiện, phát hiện những lệch lạc
về mục tiêu hay những trục trặc trong việc thực hiện các công việc để có sự
chấn chỉnh kịp thời. Để làm tốt chức năng kiểm tra, phương pháp kiểm tra phải
phù hợp với từng loại công việc là các đối tượng thực hiện c
ông việc. Kiểm tra
qua giấy tờ sổ sách là một biện pháp quan trọng, nhưng kiểm tra một cách sâu sát
tại hiện trường cơ sở là biện pháp cần thiết và quan trọng hơn.
2.4 Chức năng điều chỉnh và thúc đẩy:
Hoạt động kinh doanh và công tác quản trị chịu sự chi phối của rất nhiều yếu
tố. Việc định hướng và xác lập sự cân đối trong kết hợp các yếu tố chỉ là tương
đối. Vì vậy, điều c
hỉnh những bất hợp lý do sự tác động của các nhân tố chủ quan
và khách quan là công việc thường xuyên và cần thiết. Nó hoàn toàn khác với
nhận thức trước đây trong nền kinh tế "kế hoạch tập trung cho rằng kế hoạch đã
được phê duyệt cần phải nghiêm chỉnh thực hiện, không đư
ợc thay đổi".
Để điều chỉnh kịp thời, đúng các nội dung cần điều chỉnh và mức độ cần
điều chỉnh cần phải thường xuyên kiểm tra phát hiện các bất hợp lý, tìm ra các
nguyên nhân của nó, xác định đúng mức độ và đề ra các biện pháp thực hiện theo
các nội dung đã điều chỉnh.
Ngoài điều chỉnh quản trị còn có chức năng thúc đẩy các hoạt động kinh
doa
nh và cả quản trị hoạt động kinh doanh. Thúc đẩy có nghĩa là đôn đốc, là tạo
điều kiện để hoạt động kinh doanh diễn ra đúng nội dung, đúng tiến độ và bảo đảm
chất lượng. Các nhà quản trị có thể dùng các phương pháp hành chính tổ chức,
phương pháp giáo dục và các phương pháp kinh tế để thực hiện chức năng thúc
ích kinh tế.
Thực chất của phương pháp kinh tế là các chủ thể quản trị gián tiếp tác động
đến đối tượng quản trị bằng các biện pháp kinh tế, để các đối tượng quản trị tự lựa
chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
Cơ sở của nguyên tắc này là: sự thống nhất về lợi ích sẽ dẫn đến thống nhất
về mục đích và hành động. Lợi ích là một trong các động lực cơ bản trong mọi
hoạt động của con người, trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Vì thế, các phương pháp kinh tế đã tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đối
tượng quản trị. Nó là phương pháp quản trị tốt nhất để thực hành tiết kiệm,
làm
cho người lao động hăng hái sản xuất, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
Các phương pháp kinh tế có vai trò rất quan trọng trong quản trị sản xuất
kinh doanh. Nhưng nhà quản trị phải xác định được lúc nào cần sử dụng các
phương pháp kinh tế, mức độ khuyến khích bao nhiêu mới tạo được hiệu quá tối
ưu. Các biện pháp kinh tế có thể ví như con dao hai lưỡi nếu sử dụng tốt rất có
hiệu quả, nếu sử dụng không tốt sẽ có hại. Đây là những điều cần lưu ý tránh lạm
dụng phương pháp kinh tế trong quản trị sản xuất kinh doanh.
3 Phươn
g pháp giáo dục
Các phương pháp giáo dục là cách thức tác động của chủ thể quản trị đến
nhận thức và tình cảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt
tình lao động của họ.
Các phương phá
p giáo dục có ý nghĩa lớn trong quản trị sản xuất kinh
doanh. Bởi vì, dựa trên cơ sở vận dụng cụ quy luật tâm lí, chủ thể quản trị làm cho
người lao động phân biệt rõ lợi - hại, đúng - sai để nâng cao tính tự giác làm
việc, gắn bó với trang trại, hơn nữa các phương pháp giáo dục góp phần đắc lực
trong trang bị các tri thức về xã hội, về lựa học kỹ th
các yếu tố sản xuất như: đất đai, lao động…) để tạo ra các đầu ra (hàng hóa hoặc
dịch vụ như: thóc, ngô, thịt, trứng, sữa…). Chẳng hạn để sản xuất ra một tấn mũ
cao su, ta cần có: các điều kiện khí hậu thích hợp, diện tích đất canh tác, phân bón,
các dịch vụ khác như lao động chăm sóc, thu hoạch… Nếu giả thiết sản xuất sẽ
diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, các nhà kinh
tế học thường biểu thị mối quan hệ giữa lượng đầu vào cần thiết và lượng đầu ra
có thể có được bằng các ký hiệu toán học đư
ợc gọi là “hàm sản xuất”.
Hàm sản xuất là mối quan hệ kỷ thuật biểu thị lượng hàng hóa tối đa có thể
thu được từ các kết hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào với một trình độ công
nghệ nhất định.
Hàm sản xuất tổng quát có dạng:
Q = f (X
1
, X
2
, X
3
, X
n
)
Trong đó: Q: Sản lượng đầu ra.
X
1
, X
2
, X
3
, X