Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của khóa luận tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo Nguyễn Thị Xuân Lan về sự định hướng trong khoa học và sự giúp đỡ,
hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các giáo viên khối lớp
4, 5ở hai trường Tiểu học Xuân Hoà, trường Tiểu học Đồng Xuân, đặc biệt là
giáo viên chủ nhiệm lớp 4A1 trường Tiểu học Xuân Hòa – thị xã Phúc Yên –
tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi, để tôi có thể hoàn thành tốt khóa
luận này.
Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa
học nên không tránh khỏi sự thiếu sót. Tôi mong sẽ nhận được sự góp ý của
các thầy cô và toàn thể bạn đọc để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Đinh Thị Liên
1
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu
10. Kế hoạch triển khai nghiên cứu ..................................................... 6
11. Cấu trúc đề tài ................................................................................ 6
NỘI DUNG .................................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC
KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC........................................ 7
1.1. Một số vấn đề về kĩ năng sống .............................................................. 7
1.1.1. Khái niệm kĩ năng sống ................................................................... 7
1.1.2. Phân loại kĩ năng sống .................................................................... 8
1.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học......................................10
1.2.1. Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học ....10
1.2.2. Quan niệm giáo dục kĩ năng sống ................................................. 13
1.2.3. Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống .......................................... 14
1.2.4. Các con đường giáo dục kĩ năng sống .......................................... 16
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kĩ năng sống ...... 21
1.2.6. Nhà trường với vấn đề giáo dục kĩ năng sống............................... 22
3
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU
HỌC THÔNG QUA MÔN KHOA HỌC LỚP 4,5 .................................. 25
2.1. Mục tiêu chương trình môn Khoa học lớp 4,5 .................................. 25
2.1.1. Một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực ............................ 25
2.1.2. Một số kĩ năng cơ bản ................................................................... 25
2.1.3. Một số thái độ và hành vi .............................................................. 25
2.2. Những điểm mới trong cấu trúc nội dung chương trình môn
VỰC XUÂN HÒA – PHÚC YÊN ............................................................. 36
3.1. Giới thiệu về khảo sát .......................................................................... 36
3.1.1. Mục đích ........................................................................................ 36
3.1.2. Nội dung ........................................................................................ 36
3.1.3. Phương pháp, đối tượng khảo sát ................................................. 37
3.1.4. Địa bàn khảo sát ............................................................................ 37
3.2. Thực trạng về trình độ giáo viên các lớp khối 4,5 ............................. 38
3.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về tầm quan
trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học trong
giai đoạn hiện nay .................................................................................. 40
3.2.2. Thực trạng hiểu biết của giáo viên tiểu học về khái niệm kĩ năng
sống ............................................................................................................ 41
3.2.3. Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về khả năng lồng
ghép giáo dục kĩ năng sống của các môn học trong trường tiểu học. .... 42
3.3. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua
môn Khoa học lớp 4, 5 ở các trường tiểu học khu vực Xuân Hòa – Phúc
Yên .............................................................................................................. 44
3.3.1. Thực trạng thực hiện nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh khối 4, 5 thông qua môn Khoa học ở một số trường Tiểu học khu
vực Xuân Hòa – Phúc Yên ...................................................................... 44
3.3.2. Thực trạng đảm bảo nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
tiểu học thông qua môn Khoa học lớp 4, 5 ở khu vực Xuân Hòa – Phúc
Yên ........................................................................................................... 46
5
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, nhà trường tiểu học không chỉ
quan tâm dạy chữ mà còn phải dạy cho các em cách sống, cách làm người,
hay nói cách khác là giáo dục kĩ năng sống: Kĩ năng sống là năng lực để học
sinh thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày,
giúp các em có thể đáp ứng với mọi biến đổi của cuộc sống để có thể sống
một cách an toàn và khỏe mạnh.
Kĩ năng sống có vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh, nó giúp các em chuyển tri thức, tình cảm, niềm tin
thành giá trị xã hội, thành hành động thực tế mang tính tích cực xã hội, tính
xây dựng, đồng thời giúp họ có được sự thành công trong học tập, lao động
và rèn luyện. Kĩ năng sống như là cây cầu giúp học sinh vượt qua những bến
bờ thử thách, ứng phó với thay đổi của cuộc sống hằng ngày, giúp các em
thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ đới với cá nhân, tập thể và xã hội. Nhờ có
kĩ năng sống mà các em làm chủ trong mọi tình huống, thích nghi với cuộc
sống không ngừng biến đổi.
Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện
đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi thói
quen tiêu cực trên sơ sở giúp người học có tri thức, giá trị, thái độ và các kĩ
năng thích hợp. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể tiến hành bằng hai
con đường: tổ chức kĩ năng sống, tiếp cận kĩ năng sống cho học sinh thông
qua nội dung các môn học và thông qua các hoạt động giáo dục.
Môn Khoa học ở tiểu học tích hợp kiến thức của các lĩnh vực khoa học
thực nghiệm ( Vật lí, Hóa học, Sinh học), khoa học về sức khỏe, về môi
trường. Vì vậy, có nhiều ưu thế trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
tiểu học, nhất là chủ đề “ Con người và sức khỏe”.
7
sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên
trong và ngoài nhà trường”.
8
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Năm 2000, theo chương trình hành động “Giáo dục cho mọi người”
tại Diễn đàn giáo dục thế giới, giáo dục kĩ năng sống đã được xem như một
nội dung của chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
- Năm 2003, các nhà nghiên cứu. các nhà giáo dục ở Việt Nam mới hiểu
đầy đủ hơn về Kĩ năng sống sau hội thảo “ Chất lượng giáo dục và kĩ năng
sống” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội.
- Năm 2005, nhóm các tác giả của Viện Chiến lược và chương trình giáo
dục đã có công trình nghiên cứu đầu tiên: “ Giáo dục kĩ năng sống ở Việt
Nam.” Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến các nội
dung cơ bản: các quan niệm về kĩ năng sống; cơ sở pháp lý của giáo dục Kĩ
năng sống ở Việt Nam; giáo dục Kĩ năng sống ở các bậc học; cách thức giáo
dục Kĩ năng sống; đánh giá về giáo dục Kĩ năng sống ở Việt Nam; những
thách thức và định hướng giáo dục Kĩ năng sống trong tương lai. Đây là công
trình nghiên cứu quan trọng, làm cơ sở, nền tảng cho các công trình nghiên
cứu tiếp theo về Kĩ năng sống ở Việt Nam.
- Ở bậc tiểu học, vấn đề giáo dục Kĩ năng sống đã được quan tâm
nhưng chỉ được thực hiện tích hợp thông qua các môn học ở trong nhà trường
trong đó phải kể đến:
1. Nguyễn Thanh Bình: Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống.
NXB Đại học Sư phạm, 2009.
cho học sinh tiểu học thông qua môn khoa học lớp 4,5 ở khu vực Xuân Hòa –
Phúc Yên. Từ đó dề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của viêc
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua môn học này.
4. Đối tượng nghiên cứu đề tài
Thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông
qua môn khoa học lớp 4,5.
5. Khách thể nghiên cứu
Thực trạng về việc giáo dục học sinh tiểu học nói chung.
10
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
6. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi: học sinh khối lớp 4, 5 ở một số trường tiểu học khu vực Xuân
Hòa – Phúc Yên.
7. Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học đã được chú trọng
nhưng hiệu quả của nó chưa được cao. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực
trạng nói trên : do nhận thức của giáo viên, do nội dung chương trình không
phù hợp, do sử dụng phương pháp chưa hợp lí, hình thức tổ chức dạy học
chưa phù hợp…
Nếu phát hiện đúng thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh tiểu học thông qua môn khoa học lớp 4,5 và đề xuất những biện pháp
hợp lý để khắc phục thực trạng thì hiệu quả giáo dục kĩ năng sống trong nhà
trường tiểu học nói chung và thông qua môn Khoa học nói riêng sẽ được nâng
cao.
11. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung chính
của khóa luận bao gồm:
Chương 1 : Một số vấn đề về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh tiểu học
Chương 2: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua môn
Khoa học lớp 4,5
Chương 3: Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
thông qua môn Khoa học lớp 4,5 ở khu vực Xuân Hòa – Phúc Yên
Chương 4: Nguyên nhân của thực trạng và một số biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua môn Khoa
học lớp 4, 5 ở khu vực Xuân Hòa – Phúc Yên
12
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG SỐNG
VÀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Một số vấn đề về kĩ năng sống
1.1.1. Khái niệm kĩ năng sống
Hiện nay có khá nhiều quan niệm về kĩ năng sống. Tùy từng góc nhìn
khác nhau, người ta có những quan niệm về kĩ năng sống khác nhau. Chẳng
hạn:
- Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc
năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại mà cá nhân đó sống. Kĩ năng
sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc – quốc gia, vừa mang tính
xã hội – toàn cầu.
- Các quan niệm khác: Tương đồng với quan niệm của Tổ chức Y tế thế
giới (WHO), còn có quan niệm kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội
liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng được thể hiện ra
bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, các
thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống.[4]
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận về kĩ năng sống. Dựa vào các góc độ,
các tiêu chí xem xét khác nhau có thể hình thành các khái niệm khác nhau về
kĩ năng sống.
1.1.2. Phân loại kĩ năng sống
+ Cách phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
WHO phân chia kĩ năng sống thành 3 nhóm lớn:
- Nhóm kĩ năng nhận thức: Tự nhận thức, đặt mục tiêu xác định giá trị,
óc tư duy, sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề…
- Nhóm kĩ năng cảm xúc: Có trách nhiệm về cảm xúc của mình, kiềm
chế và kiểm soát được cảm xúc, tự giám sát, tự điều khiển, tự điều chỉnh cảm
xúc của bản thân.
Nhóm kĩ năng xã hội: Giao tiếp, cảm thông, hợp tác, chia sẻ, gây thiện
cảm, nhận ra thiện cảm của người khác.
+ Cách phân loại của Tổ chức Qũy nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
14
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Kết quả nghiên cứu về kĩ năng sống của nhiều tác giả đã khẳng định:
“Dù phân loại theo hình thức nào thì có một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ
năng cốt lõi như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương
đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích
cực; kĩ năng tự nhận thức; kĩ năng ra quyết định; kĩ năng đặt mục
tiêu,…”[3]
1.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
1.2.1. Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự phát triển kinh tế xã hội, của khoa học kĩ
thuật ở trình độ cao, do đó tri thức và giáo dục được đưa lên hàng đầu. Yêu
cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao. Con người trong xã hội hiện
đại không chỉ phải học để có tri thức, học để có giá trị đạo đức, thẩm mĩ, nhân
văn đúng đắn, mà phải học để có những kĩ năng sống nhất định.
Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện
đại. Chính vì vậy, cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho con người để họ
có thể thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Giáo dục kĩ năng
sống cũng cần được quan tâm và chú trọng ở mọi cấp học. Nó có quan hệ mật
thiết đối với sự phát triển toàn diện của con người,cụ thể là :
- Trong quan hệ với bản thân: Giáo dục kĩ năng sống giúp con người
biến những kiến thức thành hành động cụ thể để thích ứng với cuộc
sống,vững vàng trước khó khăn, thử thách, làm chủ cuộc sống của bản thân.
- Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biết
quý trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi
ốm đau, động viên, an ủi khi gia quyến có chuyện chẳng lành…
- Trong quan hệ với xã hội giáo dục kĩ năng sống góp phần thúc đẩy
nhu cầu và học phương pháp tự học. Giáo viên coi trọng và khuyến khích học
sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tự phát hiện và giải quyết vấn đề
của bài học. Học sinh, do đó có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức: trước hết biết
vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập trên lớp, sau đó vận dụng sáng tạo
vào việc giải quyết một cách hợp lí các tình huống diễn ra trong đời sống của
bản thân, gia đình và cộng đồng theo cách riêng của mình.
17
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ở lứa tuổi này, hành vi của các em dễ có tính tự phát, tính cách của các
em thường biểu hiện thất thường, bướng bỉnh. Phần lớn các em có nhiều
phẩm chất tốt như vị tha, ham hiểu biết, hiếu học, hồn nhiên, chân thật… các
em sống hồn nhiên, cả tin trong các mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa, với
người lớn, đặc biệt với thầy cô giáo. Đến cuối bậc học các em dần chuyển
sang lứa tuổi vị thành niên, vì thế tính cách có sự thay đổi lớn như có xu
hướng tò mò, thích khám phá những điều mới lạ, thích được khẳng định
mình, thích làm người lớn. Tuy nhiên, kinh nghiệm sống còn ít ỏi, suy nghĩ
chưa đủ chín chắn để các em có thể trở thành người lớn, dẫn đến việc các em
còn có những ứng phó không lành mạnh trước những áp lực tiêu cực hay
trước sự lôi kéo từ bạn bè chưa ngoan, từ một số người xấu trong cộng đồng
như: sa vào các tệ nạ xa hội, sớm bị lợi dụng tình dục hoặc có những hành vi
vi phạm pháp luật một cách vô thức…
Do đó, nếu không được trang bị các kĩ năng sống cần thiết để có lối
sống lành mạnh, niềm tin, bản lĩnh sống vững vàng thì các em có thể bị mắc
vào những cạm bẫy của lối sống tiêu cực, điều đó dễ làm cho các em trở nên
nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hội,
theo các loại hình hoạt động của con người, theo cả bốn trụ cột trong giáo dục
thế kỉ XXI : học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người, học
để tự khẳng định mình) thông qua quá trình dạy học và giáo dục vừa hướng
tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua
những thử thách của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ,
hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệ
xúc cảm, trí tuệ xã hội.
Theo quan niệm mới, trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi
trường sống, đồng thời cũng là tiền đề cho sự tương tác ấy. Trong khi tương
tác với môi trường sống, đòi hỏi con người có tương tác với môi trường xã
hội. Việc cùng sống và hoạt động trong cộng đồng với nhiều người khác đòi
hỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, sự chuẩn đoán phù hợp về hành
động của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và ra quyết định về hành
19
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
động của bản thân. Những yêu cầu này đòi hỏi con người phải có một thành
tố trí tuệ khác nữa ngoài trí thông minh (IQ) và trí sáng tạo (CQ), đó là trí tuệ
xã hội (Social Int). Trí tuệ xã hội là dạng trí tuệ được định nghĩa là năng lực
hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác. Nó
diễn ra trong hoạt động cùng với người khác, với mục đích, tâm lý và tính xã
hội nhất định.
Từ những phân tích về kĩ năng sống và mục tiêu của giáo dục kĩ năng
sống, có thể rút ra quan niệm về giáo dục kĩ năng sống như sau: “Giáo dục kĩ
lành mạnh.
- Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cá
nhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nó
trong số những phương án có thể trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm ra
phương án phù hợp với mình. Cho nên phương pháp giáo dục kĩ năng sống
vẫn hướng tới phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp người tham gia học
được rất nhiều lựa chọn khi giải quyết những tình huống khó khăn.
- Tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi hành vi: Vì sự thay đổi sẽ
dễ dàng hơn nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cá
nhân, nên các chương trình giáo dục kĩ năng sống cần chú trọng cộng tác với
cộng đồng một cách toàn diện để tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi.
- Tăng cường sử dụng giáo dục đồng đẳng: Người mang ảnh hưởng có
thể làm thúc đẩy những thay đổi, nên phương pháp đồng đẳng có thể được bổ
sung vào các chương trình giáo dục kĩ năng sống để tạo cơ sở thuận lợi cho sự
thay đổi, cũng như chấp nhận hành vi mẫu của người khác. Tập huấn cho
người có tác động ảnh hưởng để họ có thể đóng vai trò mẫu trong nhóm của
mình có thể tăng đáng kể tác động của chương trình.
- Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ, vì sự tái phạm có thể xảy ra, do đó
cần phải xây dựng theo con đường duy trì những hành vi lành mạnh và giúp
người tham gia đi theo đúng hành lang của những hành vi tích cực sau khi họ
đã tái phạm.
21
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.2.3.2. Các nguyên tắc quan trọng đối với giáo dục kĩ năng sống
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng kĩ năng sống cần được dạy trong chương
trình của nhà trường hơn là nhiệm vụ biệt lập tách khỏi chương trình bình
thường của nhà trường.[10]
Dạy kĩ năng sống còn cần phải được chứa đựng trong tất cả các môn
khoa học thông qua nhấn mạnh mối quan hệ giữa học tập và các hoạt động
sống hằng ngày. Đồng thời cần coi việc dạy kĩ năng xã hội với tư cách là một
khía cạnh của kĩ năng sống.
1.2.4.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc tiếp cận 4
trụ cột trong giáo dục
Hội nghị giáo dục thế giới đã làm sáng tỏ một quan điểm rằng: “Giáo
dục muốn bồi dưỡng năng khiếu và tiềm năng của cá nhân, phát triển cá tính
của người học giúp cải thiện cuộc sống của họ và làm thay đổi xã hội thì cần
phải chú trọng đến việc nắm được các kĩ năng. Bên cạnh các kĩ năng thực
hành, kĩ năng thể chất, chúng ta còn cần thêm các kĩ năng sống – những kĩ
năng làm cho con người có thể học và sử dụng kiến thức để phát triển khả
năng phân tích và phán đoán giúp làm chủ được cảm xúc, cuộc sống và có
quan hệ phù hợp với người khác”.[4.tr40]
Chương trình hành động Dakar đã tuyên bố rằng: “Tất cả thế hệ trẻ và
những người lớn có quyền được hưởng một nền giáo dục đảm bảo cho người
học “ học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người, học để tự
khẳng định mình”. Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận kĩ năng sống
dựa trên sự kết hợp giữa khả năng tâm lí xã hội (học để biết, học để chung
sống với mọi người, học để tự khẳng định mình) với các kĩ năng thực hành, kĩ
năng tâm vận động (học để làm).”[3]
Do đó cần xác định rõ nội dung các vấn đề cần giáo dục theo cách tiếp
cận bốn trụ cột giáo dục thế kỉ XXI, nghĩa là cần xác định rõ những yêu cầu
hồi, những câu hỏi đóng mở. Vai trò của giáo viên là lập kế hoạch, bắt đầu,
hỏi và ghi nhận. Vai trò của người học là chia sẻ, trao đổi và phân tích kiến
thức của họ bằng cách trả lời các câu hỏi quá trình và ghi nhận thông tin.
Bước 2 : Kết nối
- Mục tiêu: Giới thiệu những thông tin và kĩ năng mới bằng cách xây
dựng cầu nối để gắn kết kinh nghiệm trước đó của người học (cái đã biết) và
24
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
cái chưa biết (thông tin mới). Kết nối kinh nghiệm của người học và chủ đề
bài học.
- Tiến trình: Giáo viên giới thiệu mục tiêu của bài học và liên hệ với
những kiến thức thu thập được chia sẻ trong bước khám phá. Giáo viên sau đó
tổ chức giới thiệu những thông tin mới và kiểm tra sự nắm bắt thông tin mới,
cung cấp ví dụ bổ sung (nếu cần) để người học có thể hiểu được.
- Các kĩ thuật dạy học quan trọng bao gồm: Chia nhóm, trình bày của
người học, thảo luận nhóm, sử dụng các thông tin dạy học, sử dụng mẫu đóng
vai…
Giáo viên giả định vai trò của nhà giáo dục, còn người học đóng vai trò
của người tiếp cận và phản hồi quan điểm của mình, hỏi và trình bày thông
tin.
Bước 3: Thực hành
- Mục tiêu: Tạo cơ hội cho người học thực hành sử dụng những kiến
thức và kĩ năng mới trong ngữ cảnh đầy đủ ý nghĩa. Giáo viên đưa ra những
hướng dẫn để người học tránh được những cách thực hiện không đúng do