Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
Mở đầu
1 - Lý do chọn đề tài
"Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp rất quan trọng của loài ngời" (Lê
- nin) lời dạy này không chỉ đơn thuần khẳng định ngôn ngữ là phơng tiện
giao tiếp quan trọng nhất mà còn là phơng tiện giao tiếp đặc trng của loài
ngời để tồn tại và phát triển. Để giao tiếp đợc thuận tiện thì mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia phải có một ngôn ngữ riêng.
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.Trong
cuộc sống hàng ngày của chúng ta không phải lúc nào cũng giao tiếp bằng
ngôn ngữ nói mà còn phải giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ viết có vai
trò quan trọng trong tiếng nói của mỗi dân tộc và quốc gia. Yêu cầu đầu tiên
và đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ viết là phải đúng chính tả có nghĩa khi
viết cần phải tuân theo hệ thống quy tắc về viết thống nhất cho các từ của ngôn
ngữ. Hay nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được
thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó là phơng tiện cho việc
giao tiếp bằng chữ viết. Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn
ngữ mới không bị cản trở.
Phân môn Chính tả trong nhà trờng giúp học sinh hình thành năng lực
thói quen viết chính tả, nói rộng hơn là năng lực thói quen viết đúng tiếng Việt
văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực. Vì vậy phân môn Chính tả có vị trí rất quan
trọng trong cơ cấu chơng trình môn Tiếng Việt ở nhà trờng phổ thông, nhất
là nhà trờng Tiểu học. Việc dạy viết đúng chính tả phải đợc coi trọng ngay
đối với học sinh tiểu học ở các lớp và đợc hiểu nh rèn luyện việc thực hiện
chuẩn mực của ngôn ngữ viết, tạo hành trang ngôn ngữ cho cả một đời ngời
trong các em.
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
giáo viên chưa cải tiến và áp dụng một cách hợp lý với học sinh các vùng phương ngữ. Trước tình hình đó chúng tôi đã nhìn nhận lại thực trạng việc dạy
Chính tả để từ đó tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Chính tả cho học sinh vùng phương ngữ được hiệu quả hơn.
Xuất phát từ tình hình đó chúng tôi đã chọn và nghiên cứu tài
"Phương pháp rèn luyện kỹ năng chính tả của học sinh Tiểu học" với
mong muốn đưa ra một số biện pháp giúp các em viết đúng chính tả và góp
phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt sau này.
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
-2-
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề chính tả luôn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng đã
đạt được rất nhiều thành quả. Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề chính tả đã ra đời.
Năm 1976 Hoàng Phê trong tạp chí Ngôn ngữ số 1 đã bàn về: "Một số
nguyên tắc giải quyết vấn đề chuẩn hóa chính tả". Trong đó đã đề cập đến
những quy định về cách viết chính tả, cách viết hoa và cách viết các âm, cách
phiên âm tiếng nước ngoài.
Trong những năm gần đây, vấn đề chính tả được quan tâm nhiều hơn.
Năm 1997, Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn giáo trình Tiếng Việt
thực hành A - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia kế thừa những thành tựu đi
riêng và môn Tiếng Việt nói chung cho học sinh Tiểu học. Xuất phát từ thực
trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh, chúng tôi xác định những lỗi chính tả
mà học sinh thường mắc phải ở các địa phương. Từ đó tìm ra những biện pháp
giúp rèn luyện kỹ năng sử dụng đúng chính tả của học sinh Tiểu học.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chủ yếu nghiên cứu các lỗi chính tả
mà học sinh mắc phải qua các bài viết Chính tả, Tập làm văn của học sinh lớp
Ba, Bốn. Tìm ra nguyên nhân và nêu biện pháp giúp rèn luyện kỹ năng viết
đúng chính tả của học sinh Tiểu học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh bằng
hai cách thức: qua các bài viết Chính tả và Tập làm văn và qua phiếu điều tra.
Do điều kiện khách quan chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu ở HS của hai khối
lớp 3 và lp4 của hai trường Tiểu học đại diện cho hai khu vực nông thôn và
thành thị
- Trường Tiểu học Văn Tố - huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dơng
- Trường Tiểu học Lưu Quý An - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
đề tài này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu:
- Khái niệm về chính tả, một số đặc điểm chuẩn của chính tả. Những căn
cứ của chính tả và phân loại lỗi chính tả.
- Tìm hiểu thực trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh Tiểu học (khối 3
và 4).
- Tìm hiểu nguyờn nhân, cách sửa lỗi và đưa ra biện pháp giúp rèn luyện
kỹ năng chính tả cho học sinh Tiểu học.
6. Phương pháp nghiên cứu
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
Nội dung
Chương 1
C S L LUN
1.1. Khỏi nim chớnh t v mt s c im ca chớnh t
1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều tác giả khi nghiên cứu chính tả đã đưa ra những khái niệm
khỏc nhau.
Trong cuốn hỏi và đáp dạy học tiếng Việt lớp 2 tác giả Nguyễn minh
Thuyết đã đưa ra khỏi niệm chính tả như sau: chính tả là những quy định về
cách viết đúng các từ ngữ, viết đúng tên người, tên địa lý, tên các cơ quan, tổ
chức trong và ngoài nước, các từ phiên âm nước ngoài và dấu câu.
Khái niệm chính tả, Giáo sư Phan Thiều trong cuốn: "Rèn luyện ngôn
ngữ" NXB GD năm 1989 cũng đưa ra khái niệm: Chính tả l những quy định
mang tính xã hội cao và được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và tuân
thủ.
Trong đề tài này chúng tôi lựa chọn cách quan niệm của Phan Thiều:
rèn luyện ngôn ngữ - NXB Giáo dục năm 1998 để tiến hành nghiên cứu.
1.1.2. Một số đặc điểm của chính tả
Theo quan điểm của một số tác giả như Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu
và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn - Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nh
xut bn Giỏo dc năm 1997 thì chính tả tiếng Việt có ba đặc điểm sau:
- Tính chất bắt buộc: Gần như tuyệt đối của chính tả đặc điểm này đòi
hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chớnh tả. Chữ viết có thể chưa hợp
lý nhưng được thừa nhận là chớnh tả thì người cầm bút không được tự ý viết
khác đi, trong chớnh tả không có sự phân biệt hợp lý - không hợp lý, hay - dở
Nhưng trong thực tế, biểu hiện của mối quan hệ này khá đa dạng và phong
phú, cách phát âm của nhiều phương ngữ trong thực tế có sự sai lệch so với
chính âm ( ví dụ không thể viết là bo vang hay Ba Vi, như cách phát âm của
phương ngữ Sơn Tây). Cho nên không thể thực hiện phương châm nghe thế
nào - viết thế ấy.
Chính tả xây dựng theo nguyên tắc là dạy chớnh tả kết hợp với luyện phát
âm.
1.2.2. Cn c ng ngha
Chính tả tiếng Việt là chớnh tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết
đúng chớnh tả thì việc nm nghĩa của từ có vai trò rất quan trọng. Hiểu được
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
-7-
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả.
Ví dụ: Trường hợp từ có hình thức ngữ âm là trung hay chung thì phải
phân biệt được của hai từ này. Với nghĩa" ở giữa, ở trong" (trung tâm hay tập
trung)...(trung bình) hết lòng với nước, với người (trung hiếu, trung thành,
trung quân), còn với "chung" nghĩa là "không riêng, chung" (chung sống) hay
"cuối cùng"( chung thủy, chung kết...)
Vỡ th có thể kết luận rằng chính tả tiếng Việt là chính tả ng nghĩa.
1.2.3. Căn cứ quy tắc
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
những nhận thức. Tuy nhiên điều căn bản là phải nắm vững những đặc điểm
ngôn ngữ và chữ viết tiếng Việt. Trên cơ sở đó cùng những nguyên tắc và xử lý
mềm dẻo ta mới tiến hành chuẩn hóa chính tả tiếng Việt.
Chúng ta có những quy định chính tả tiếng Việt do Bộ Giáo dục ban hành
như sau:
+ Một số quy định chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục Việt
Nam nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thứ trưởng Vũ Thuần Nho ký) ban hành
ngày 30 tháng 4 năm 1980.
+ Quyết định số 240/QĐ - Quy định về chính tả và thuật ngữ tiếng Việt
của Bộ Giáo dục (do bộ trởng Nguyễn Thị Bình ký) ban hành ngày 05 tháng
3 năm 2004.
+ Quy định tạm thời về viết hoa, tên riêng, trong sách giáo khoa - Ban
hành theo quyết định số 07/2003 QĐ - BGD và ĐT ban hành ngày 13/3/2007
(do thứ trởng Đặng Huỳnh Mai ký) đây là bản quy định đầy đủ nhất và mới
nhất theo:
Nghị định số 86/2002 NQ CP - 05/11/2002 của Chớnh phủ về chức
năng và quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của các cơ quan ngang Bộ.
Theo đề nghị của Vụ trưởng vụ Tiểu học và Giám đốc Nhà xuất bản Giáo
dục.
Trong khổ đề tài này chúng tôi chọn và trích dẫn theo quy định tạm thời
về cách viết trong sách giáo khoa (ban hành theo quyết định số 07/2003/Q BGD và ĐT).
1.3.1. Quy định về viết tên hoa riêng
1.3.1.1. Quy định về viết tên hoa riêng Việt Nam
1) Tên người: Viết hoa chữ cái đầu các âm tiết: Phạm Văn Đồng, Lê
Hồng Phong, Nguyễn Lương Bằng,...
Uỷ viên ban thường vụ Quốc hội
Trường Tiểu học Kim Đồng
6) Các từ cụm chỉ sự vật, con vật dùng làm tên riêng của nhân vật: Viết
hoa chữ cái của âm tiết tạo thành tên riêng: (chú) Chuột, (cô) Chào Mào, (bác)
Nồi Đồng, (mụ) Gà, (ông ) Mặt Trời,
1.3.1.2. Cách viết tên của người nước ngoài
1) Tên người, tên địa lý
- Trường hợp phiên âm qua âm Hán - Việt: Viết hoa theo quy tắc tên
người, tên địa lý Việt Nam: Võ Tắc Thiên, Mao Trạch Đông, Nhật Bản,
- Trường hợp không phiên âm qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp theo
cách đọc).
Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng : Viết hoa chữ cái đầu, có gạch
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 10 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
nối giữa các âm tiết: Phơ-đi-r ng-ghen, Vơ-la- đi-mia I-lích Lê nin,
2) Tên các cơ quan, tổ chức nước ngoài
- Theo trường hợp dịch nghĩa: Viết theo quy tắc các cơ quan, tổ chức Việt
Nam: Viện khoa học giáo dục Bắc Kinh, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia
Mát - xcơ - va,...
- Trường hợp viết tắt: Viết nguyên dạng viết tắt, tùy theo từng trường hợp
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
5) Các chữ đầu câu, đầu dòng thơ và mở đầu các dòng một phép liệt kờ
phải viết hoa.
Vớ d: 1) Những cánh đồng thm mát.
Những ngả đờng bát ngát.
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
2) Chú chuồn chuồn nước tung cánh bay vọt lên. Cái bóng chú
nhỏ xớu lướt nhẹ trên mặt hồ. Mặt hồ trải rộng...
6) Quy tắc viết tắt: Chữ viết tắt thay thế cho từ ngữ gốc tất cả các chữ
cái đầu của từ ngữ gốc, được viết in hoa và viết thành một khối: Trường Đại
học Quốc gia Hà Nội viết thành ĐHQGHN, công ty xuất nhập khẩu thành
XNK,...
1.3.2. Quy định viết các âm
Các chữ biểu thị các phần của âm tiết (gồm có: õm đầu, âm đệm, âm
chính, âm cuối) và được sắp xếp theo cấu trúc sau:
Âm tiếng Việt viết ở dạng đầy đủ nhất gồm 5 thành tố
Thanh điệu (5)
Âm đầu
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
Vần
- 12 -
Âm
Chữ
Ví dụ
Âm
/b/
b
bé, bố
/
/t/
t
tai, tầu
/ t '/
th
thi, thấy
/d/
xóm, xa
d
da
tròn, trăng
gi
già
ch
chỉ ,cha
g
gì
k
kẹo, kim
s
sơn, sôi
c
/
/s/
- 13 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
/n/
n
na, nết
/p/
nh
nhà, nhẹ
/ /
ngh
- Âm / / có hai sự thể hiện trên chữ viết:
+ Ghi là gh khi sau nó là các nguyên âm: e, ê, i và nguyên âm đôi iê
+ Ghi là g khi sau nó là các nguyên âm còn lại
- Âm /Z/ có ba sự thể hiện trên chữ viết nhưng lại được áp dụng trên nguyên
tắc ngữ nghĩa, tức là để viết được đúng thì người viết cần nhớ nghĩa và cách
tương ứng.
Ví dụ: Để phân biệt d và gi có ý kiến cho rằng về mặt kết hợp trong nội
bộ chữ Việt thì gi không đứng trước các vần bắt đầu bằng oa, o, uõ, oe, uờ,
uy và ngược lại thì d có thể đi cùng các vần ấy.
Hay căn cứ vào âm và nghĩa Hán - Việt thì: viết là d nói về phần bọc
ngoài của cơ thể như: da d, da thịt... còn gi là nói đến nhà (gia đình, gia tộc,...
hay gia tăng, gia hạn, gia vị,...)
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 14 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
1.3.2.2. Quy định về âm đệm
Âm điệm tiếng Việt ký hiệu u được ghi bằng hai chữ cái.
- Ghi là u khi nó xuất hiện trước nguyên âm: e, ê, i nguyên âm đôi iê.
Ví dụ: tuy, quờ, huyện, huân, huy.... và khi xuất hiện sau con chữ q: quán, quẻ,
quân...
- Ghi là o khi xuất hiện trước ba nguyên âm: a, , e.
im, nghĩ
ya
khuya
/e/
ê
êm, bê
iê
trên, tiểu
/ /
e
me, em
yê
thuyền, quyết
a
anh, bách
uô
muộn cuốn
/a/
a
bà, cha
o
nhỏ
//
ă
săn, bắn
oo
moóc
/
/
a
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
Tiếng Việt có 14 nguyên âm và tổ hợp nguyên âm là âm chính trong đó
có âm được ghi bằng một chữ nhưng cũng có âm được ghi bằng hai, ba hay
bốn chữ.
1) Âm / i/ được ghi bằng hai chữ:
+ Ghi là y khi nó đứng sau âm đệm (huy, tuy, thủy,...) hay khi nó đứng
sau một mình là tiếng Hán - Việt (y học, y khoa, quân y, ý kiến,...).
+ Ghi là i khi đứng giữa tiếng mà ằng sau nó không có âm đệm (lim
dim, kim kim, bìm bịp,), khi nó đứng cuối tiếng (trừ: uy, ay, ây) như: li kì,
chí khí, tươi cười, khi nó đứng một mình và là tiếng thuần Việt: ỡ ạch, í
ới,
2) Âm /iê/ có bn hình thức thể hiện chữ viết:
+Viết là iờ khi đằng trước nó không có âm đệm, đằng sau nó có âm
cuối: tiên tiến, nhiệt liệt,...
+ Viết là yê đằng trước nó có âm đệm và đằng sau nó có âm cuối: yên,
yến, truyền thuyết,...
+ Viết là ia khi nó đứng một mình và đằng cuối tiếng mà đằng trước nó
không có âm đệm: kia kìa, tia chớp, vỉa hè, ...
+ Viết là ya đằng trước nó có âm đệm và đằng sau nó có âm cuối:
khuya, phơ tuya,...
3) Âm / / có hai hình thức chữ viết:
+ Viết a trong các âm tiết có vần au hay ay: may, cau,...
+ Vit trong cỏc trng hp cũn li: sn, bt, sn,
4) Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+ Viết a trong những vần anh, ách, oanh, oách như: tranh dành, hoành,
âm
chữ
ví dụ
y
may
/m/
m
tìm, kim
/ /
i
mai
/n/
n
lân cận
/ /
nhanh
ng
thang
m
/ /
/ /
Có tất cả 8 âm cuối trong đó có bn trờng hợp thể hiện bằng hai hình
thức chữ viết.
1) Âm /i/: có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+Viết là y khi xuất hiện sau các vần ay, ây: cây, chạy, cầy,...
+ Viết là i trong các trường hợp còn lại: ai, mời, tôi,..
2) Âm /u/:
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 17 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
- 18 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
1.4.1.1. Lỗi về âm đầu
- Lỗi lẫn lộn L và N
Đây là lỗi lẫn lộn ở vùng ngoại thành Hà Nội nói riêng và vùng đồng
bằng Bắc Bộ nói chung. Sự lẫn lộn về mặt từ vng đã khiến nhiều trường hợp
đáng lẽ đọc là L thì đọc là N và ngược lại. Đó là nguyên nhân làm việc thể
hiện bằng chữ viết cũng sai.
Ví dụ:
- nòng súng - lòng súng.
- H Ni - H Li
- Li ln ln CH v TR
Trong phát âm, người Bắc Bộ không phân biệt tr và ch học sinh Hà Nội
phân biệt một cách ngộ nghĩnh tr là "trờ trê" (cá trê) và ch là "ch chú (con
chú)
Ví dụ:
- leo trèo - leo chèo
- chòng chành - tròng trành
- chói chang - chói trang
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
th/s: thẫm/sẫm
ch/t: chưng hửng/trưng hửng
th/v: thí dụ/ví dụ
x/ch: xung quanh/chung quanh
g/c: gài/cài
1.4 .1.2. Lỗi lẫn lộn âm đệm
Lỗi lẫn lộn âm đầu là lỗi lẫn lộn phổ biến trên 3 miền của đất nước. Đây
là lỗi phát âm do không có sự phân biệt rõ ràng đó cũng là nguyên nhân làm
cho việc thể hiện trên chữ viết cũng không chính xác.
Ví dụ:
- quán - quoán - quỏn
- qunh - quunh
1.4.1.3. Li ln ln õm chớnh
Đây cũng là lỗi phổ thông phổ biến, nó chỉ xảy ra ở một địa phương ở
đồng bằng Bắc Bộ như: Hà Tây, Hải Dương, Vĩnh Phúc, ...tiêu biểu là một số
lỗi về một số âm như:
- a/â : làu bàu/lầu bầu, tàu/tầu,
- /â: thực tình/thật tình
- i/ê: chình ình/chềnh ềnh
- u/o: lụm cm/lọm cọm,
1.4.1.4. Lỗi lẫn lộn về âm cuối
Sự sai lệch về mặt chỉnh tả thì phát âm là nguyên nhân gây lên sự sai
lệch trên chữ viết
Ví dụ:
thanh điệu hơn so với người Trung và Nam Bộ. Tuy nhiên đối với một số từ
Hán -Việt thì người miền Bắc cũng có thể lẫn lộn hỏi, ngã.
Cụ thể về lẫn lộn về thanh điệu:
+ Hỏi - ngã: gấp rưỡi - gấp rưởi,
+ Ngã - sắc : ngã - ngá, bão - báo,
+ Hỏi - nặng: hỏi - họi, bảo - bạo,
1.5. Phõn môn chớnh tả Tiểu học
1.5.1 Mục tiêu của phân môn Chớnh tả
Cụ thể mục tiêu của phân môn Tiếng Việt, phân môn Chính tả nhằm
hình thành ở HS kỹ năng s dụng tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý kỹ năng
viết chính tả cung cấp cho HS những kiến thức chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí
dấu thanh, quy tắc chính tả. Phân môn Chính tả góp phần rèn luyện các thao
tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hóa...
Cung cấp những hiểu biết sơ giản về tự nhiên và xã hội, về con người, về văn
hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cái
thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải, góp phần hình thành lòng yêu mến.
1.5.2. Nhiệm vụ của phân môn Chớnh tả
Phân môn Chớnh tả có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Giúp HS nắm vững quy tắc hình thành chớnh tả và hình thành kỹ năng chính
tả. Nói cách khác, phân môn Chớnh tả có nhiệm vụ giúp các em hình thành
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 21 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 22 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
đã học, tập sửa lỗi chính tả.
- Lớp 5: Mỗi tuần có 1 tiết chính tả
+ Hình thức chính tả: nghe - viết, nhớ - viết
+ Kiến thức và kỹ năng chính tả: viết chính tả, viết đúng một bài chính
tả chưa được đọc với tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng quy định,
lập sổ tay chính tả, ôn tập các quy tắc chính tả, chính tả phương ngữ.
1.5.3.2. Cấu trúc bài chính tả
Cấu trúc bài chính tả gồm hai phần :
- Phần 1: Chính tả đoạn/bài: là bài viết chính tả có nội dung theo chủ điểm của
học tuần. Bài viết có thể là trích đoạn bài tập đã học hay được soạn lại từ một
bài tập đọc đã học cho phù hợp với mục tiêu dạy học hoặc cũng có thể một bài
viết được chọn ở ngoài SGK Tiếng Việt. Yêu cầu về dung lượng bài viết và
thời gian dành cho mỗi khối khác nhau.
+ Lớp 1: Tập chép hoặc nghe - viết bài chính tả dài khoảng 50 chữ (lớp
2) hoặc 60 chữ (lớp 3). Yêu cầu về tốc độ viết: 3 - 4 chữ/phút.
+ Lớp 4-5: Nghe - viết hoặc nhớ -viết bài chính tả độ dài khoảng 80 (lớp
4), 100 chữ (lớp 5). Yêu cầu về tốc độ viết 6 - 7 chữ/phút.
- Phần 2: Chính tả âm - vần: Phần này gồm các bài tập luyện kỹ năng chính tả
Đây là kiểu bài thể hiện đặc trưng riêng của phân môn chính tả. Hình
thức chính tả nghe đọc thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tả tiếng Việt: là
chính tả ngữ âm giữa âm và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ mật thiết đọc thế
nào - viết thế ấy.
Dạng bài chính tả nghe - viết yêu cầu HS nghe từng từ, cụm từ, câu do
GV đọc và viết lại một cách chính xác, đúng chính tả những điều nghe được
theo đúng tốc độ quy định. Muốn viết các bài chính tả nghe và viết HS phải
có năng lực chuyển ngôn ngữ viết phải nhớ mặt chữ và các quy tắc chính tả
tiếng việt. Bên cạnh đó vì chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa muốn viết
đúng chính tả HS cũn phải hiểu nội dung của tiếng từ hay câu của bài viết.
Để các kỹ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng ở HS,
văn bản được chọn lm bi viết chính tả phải chứa nhiều hiện tượng chính t
cần dạy, văn bản phải có nội dung phù hợp vớI từng độ tuổi, có tính thẩm mỹ
cao, có độ dài đúng quy định của chương trỡnh...
Bài viết chính tả có thể là đoạn trích của bài tập đọc đã học trước hay
bài tập được đọc biên soạn lại cho phù hợp yêu cầu của bài chính tả. Bài cũng
có thể làm ngoài SGK để gây hứng thú cho các em.
3 - Dạng bài viết - nhớ
Đây là dạng bài yêu cầu tái hiện hình thức chữ viết, viết lại văn bản mà
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 24 -
K32A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Thu Trang
SVTH: Tiêu Thị Xuyến
- 25 -
K32A - GDTH