TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ NGOAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
MỞ RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ
VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TH.S LÊ BÁ MIÊN
HÀ NỘI - 2013
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục và đào
tạo con người, nó giúp cho học sinh cảm nhận cái hay cái đẹp của tiếng Việt,
phát triển tư duy, cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, kiến thức
sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, văn hóa và văn học, bồi dưỡng tư
tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh.
Bắt đầu ở lớp 2, trong môn Tiếng Việt, học sinh được học thêm phân
môn Luyện từ và câu. Ở phân môn này, học sinh phải tìm từ theo chủ điểm
dựa vào khả năng quan sát tổng hợp và tư duy thực tế, tự động não, suy nghĩ,
sắp xếp các từ để viết thành câu hoàn chỉnh theo các mẫu câu. Đây là bước
nâng cao về tư duy và khả năng diễn đạt của học sinh. Trong phân môn Luyện
từ và câu, nội dung rèn luyện về từ chủ yếu thông qua các bài tập nhưng thực
có thể hướng dẫn học sinh thực hiện trong giờ ngoại khóa.
Luyện từ và câu Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2005, tác giả Bùi
Minh Toán đã gợi ý cách giải bài tập trong chương trình học một cách tương
đối rõ ràng, dễ hiểu. Đặc biệt cuốn sách này đã đưa thêm hệ thống một bài tập
hỗ trợ cho từng bài học để giáo viên có thể sử dụng trong giờ dạy, khiến tiết
học thêm sinh động và ít lệ thuộc sách giáo khoa hơn.Song các bài tập được
trình bày chưa thực sự có hệ thống.
Đã có những công trình nghiên cứu chú trọng việc xây dựng hệ thống
bài tập nhưng số lượng còn hạn chế, kiểu loại bài tập chưa phong phú đa
dạng. Đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào xây dựng hệ thống bài
tập theo chủ điểm dưới nhiều kiểu dạng bài tập có thể làm tư liệu cho giáo
viên và học sinh lớp 2. Từ nhu cầu thực tiễn đó chúng tôi mạnh dạn xây dựng
2
hệ thống bài tập về mở rộng vốn từ theo chủ điểm trên cơ sở tiếp thu có chọn
lọc những thành tựu nghiên cứu của người đi trước.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên thực tế dạy học Luyện từ và câu lớp 2 và trên cơ sở tiếp thu
những thành tựu của các công trình nghiên cứu có liên quan, chúng tôi thực
hiện đề tài này với mục đích xây dựng được một hệ thống bài tập mở rộng
vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 2 một cách tương đối toàn diện về hình
thức, cũng như nội dung, để góp phần nâng cao hiệu quả trong giờ học phân
môn này cho cả giáo viên và học sinh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài làm căn cứ xây
dựng hệ thống bài tập.
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn này trong vài năm gần đây.
- Chủ điểm Trường học
- Chủ điểm Muông thú
- Chủ điểm Thầy cô
- Chủ điểm Sông biển
- Chủ điểm Ông bà
- Chủ điểm Cây cối
- Chủ điểm Anh em
- Chủ điểm Bác Hồ
- Chủ điểm Nhân dân
Do khuôn khổ của khóa luận của chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên
cứu ở 7 chủ điểm là:
- Chủ điểm Học sinh
- Chủ điểm Bạn bè
- Chủ điểm Ông bà
- Chủ điểm Bốn mùa
- Chủ điểm Muông thú
- Chủ điểm Cây cối
-Chủ điểm Nhân dân
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
pháp.
Ý nghĩa từ vựng bao gồm: Ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa
biểu thái , tuy nhiên vì từ là một thể thống nhất, cho nên mỗi thành phần, ý
nghĩa là những phương diện khác nhau của thể thống nhất đó. Sự hiểu biết
đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết đầy đủ thấu đáo từng mặt nhưng
cũng phải tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng.
1.1.1.3 Tính hệ thống của từ ngữ và việc xậy dựng bài tập mở rộng vốn từ
a. Tính hệ thống của từ ngữ
Hệ thống là gì? Theo từ điển Tiếng Việt, hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố
đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có liên hệ hoặc liên hệ với nhau chặt
chẽ làm thành một thể thống nhất.[915;418]. Nói cách khác, hệ thống là tập
hợp các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và nằm trong một chỉnh thể.
6
b. Trường từ ngữ và việc xây dựng bài tập “ mở rộng vốn từ”
- Trường cấu tạo: Trường cấu tạo được hiểu một cách khái quát là tập
hợp các từ có điểm đồng nhất về đặc điểm cấu tạo. Có thể đồng nhất về kiểu
cấu tạo hoặc yếu tố cấu tạo. Xét về kiểu cấu tạo, tiếng Việt có hai loại từ: từ
đơn và từ phức, trong từ phức có từ ghép và từ láy.
- Trường nghĩa: Theo các thành phần ý nghĩa của từ sẽ có hai trường
nghĩa lớn là trường biểu vật và trường biểu niệm. Tập hợp các từ đồng nhất
với nhau về một nghĩa chỉ sự vật nào đấy gọi là trường nghĩa biểu vật [2;171].
Có thể hiểu: Trường biểu vật gồm tất cả các từ có liên quan đến một từ trung
tâm của trường. Trường biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung một cấu
trúc biểu niệm” [2;176]
1.1.2 Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh
Môn Tiếng Việt có mục tiêu là giúp học sinh sử dụng tốt tiếng Việt
trong giao tiếp, bất cứ phân môn nào của Tiếng Việt cũng nhằm mục đích
Khái niệm ý chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lí của học sinh giúp các
em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối
tượng này một cách tốt nhất. Lứa tuổi tiểu học có 2 loại chú ý: chú ý không
chủ định và chú ý có chủ định.
Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học: Chú ý không chủ định có trước
từ lúc 6 tuổi và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ, hấp dẫn dễ dàng gây chú ý
không chủ định của học sinh. Do có sự chuyển hóa giữa hai loại này nên khi
học sinh chú ý không chủ định, giáo viên đưa ra câu hỏi để hướng học sinh
vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định chuyển hóa thành chú ý có chủ
định. Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình thành và phát triển mạnh.
Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu cầu hoạt động học, ở giai đoạn
đầu cấp chú ý có chủ định hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững.
8
b. Trí nhớ của học sinh tiểu học
Khái niệm trí nhớ: Trí nhớ là quá trình tâm lí giúp học sinh ghi lại, giữ
lại những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp
thu được khi cần có thể nhớ lại, nhận lại. Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ
định và trí nhớ không chủ định.
Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiều học: Cả hai loại trí nhớ đều được
hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học. Do yêu cầu hoạt động học trí
nhớ có chủ định hình thành và phát triển , học sinh phải ghi nhớ công thức,
quy tắc, định nghĩa, khái niệm... để vận dụng giải bài tập hoặc tiếp thu tri thức
mới, ghi nhớ này buộc học sinh phải sử dụng cả hai phương pháp ghi nhớ có
máy móc và ghi nhớ có chủ định.
c. Tưởng tượng của học sinh
Khái niệm tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh là một quá trình
tâm lí nhằm tạo ra các hình ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết. Ở học sinh
Việt 2
1.2.1.1. Thực trạng dạy của giáo viên
- Về lịch giảng dạy: Giáo viên thực hiện tương đối tốt lịch giảng dạy đã
quy định.
- Về soạn giáo án: Thực tế điều tra cho thấy 100% chuẩn bị giáo án
trước khi lên lớp. Tuy nhiên, nội dung bài soạn còn chưa sáng tạo, còn lệ
thuộc nhiều vào sách giáo khoa, sách hướng dẫn dành cho giáo viên.
- Về phân bố thời lượng trong một tiết học : Hầu hết các giáo viên đều
biết phân bố thời gian phù hợp với dung lượng kiến thức cần trình bày.
- Về phương pháp giảng dạy: Khi dạy học những tiết học cụ thể, giáo
viên đã cố gắng tìm những phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với nội
dung kiến thức cần truyền đạt, có những phương pháp thường xuyên sử
dụng: đàm thoại, thuyết trình, thảo luận nhóm. Ngoài ra còn có những phương
10
pháp đặc thù: Phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo
mẫu…
1.2.1.2. Thực trạng học phân môn Luyện từ và câu trong của học sinh lớp 2
Điều tra của chúng tôi cho thấy nhiều em ở cấp tiểu học nói chung và ở
lớp 2 nói riêng chưa có ý thức học tập. Còn nhiều em chưa có hứng thú học
phân môn này, vì theo các em đây là phân môn khó. Trên lớp các em thường
tiếp thu một cách thụ động : giáo viên giảng, học sinh nghe, ghi chép lại. Khi
giáo viên giao bài tập, có em làm qua loa, có em không làm, ngồi đợi thầy cô
chữa sau đó chép kết quả.
1.2.2. Thực trạng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa
Tiếng Việt 2
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và đã thống kê được 126 bài tập Luyện
từ và câu. Bài tập này được chia làm 2 nhóm:
dạy.
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức
năng, có quan hệ hoặc liên hệ chặt chẽ làm thành một thể thống nhất.[15;418]
Tính hệ thống của bài tập mở rộng vốn từ thể hiện ở mối quan hệ và liên hệ
giữa các bài tập cả về nội dung lẫn hình thức. Về mặt hình thức, hệ thống bài
tập được chia theo nhóm, các kiểu, các dạng…Về nội dung các bài tập được
xây dựng theo chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt 2.
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình
Hệ thống bài tập ở đây luôn phải bám sát nội dung chương trình của
môn học, phải đảm bảo được mức độ kiến thức của học sinh khi học xong
chương trình. Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ các bài tập không những phải
12
tuân thủ nội dung chương trình của môn học mà còn phải đảm bảo sự phù hợp
về kiến thức trong chương trình.
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh
Tính vừa sức ở đây thể hiện cụ thể như sau: hệ thống bài tập đưa ra
phải phù hợp với hiểu biết về tri thức cũng như trình độ khả năng nhận thức
của học sinh.
Nếu bài tập quá khó các em sẽ không đủ sức để giải quyết yêu cầu của
bài tập. Tuy nhiên bài tập quá dễ sẽ không phát huy được tính sáng tạo của
các em.
2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Kế thừa ở đây được hiểu là tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu đã
có. Bất kì một công trình nghiên cứu nào, dù trực tiếp hay dán tiếp, đều phải
kế thừa thành tựu nghiên cứu của người đi trước. Theo đó, khóa luận có tiếp
thu một số bài tập của một vài tác giả đi trước trên tinh thần có chọn lọc.
sử dụng từ
( 1, 2)
(3, 4)
5, 6, 7)
(8,9,10, 11)
1. Nối từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng
2. Dựa vào tranh tìm từ tương ứng
3. Kiểu bài nhận dạng từ rời (từ chưa hoạt động)
4. Kiểu bài nhận dạng từ trong lời nói (từ trong hoạt động)
5. Tìm từ gần nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn
6. Tìm từ cùng trường nghĩa với từ cho trước
7. Tìm từ dựa vào đặc điểm cấu tạo
8. Kiểu bài tập điền vào chỗ trống
9. Kiểu bài tập thay thế từ ngữ
10. Kiểu bài tập dùng từ đặt câu
11. Kiểu bài tập trắc nghiệm
2.2.2. Hệ thống bài tập mẫu
1. Nhóm bài tập giải nghĩa của từ qua tranh
Nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh
đối tượng của hiện thực trong nhận thức, được ghi lại bằng một tổ hợp âm xác
định. Tăng vốn từ cho học sinh phải cung cấp những từ mới, do đó công việc
đầu tiên của dạy từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ. Học sinh trong giai
đoạn đầu tiểu học, tư duy cụ thể là chủ yếu,vì thế trực quan chiếm vị trí rất
quan trọng, nó giúp học sinh hiểu nghĩa từ một cách dễ dàng.
4. Điền tên mùa (xuân, hạ, thu, đông) vào các bức bức tranh sau:
Chủ điểm Muông thú
5. Chọn cho mỗi con vật trong tranh vẽ một từ chỉ đúng đặc điểm của
nó: tò mò, nhút nhát, dữ tợn, tinh ranh, hiền lành, nhanh nhẹn.
16
Chủ điểm Cây cối
6. Điền tên cây, hoạt động chăm sóc cây vào mỗi bức tranh vào mỗi
bức tranh sau( hoa hồng, bắt sâu, đu đủ, tưới nước, cây chuối)
Chủ điểm nhân dân
7. Điền các từ chỉ nghề nghiệp tương ứng với các bức tranh sau:
(công an, nông dân, bác sĩ, công nhân, bán hàng, tài xế)
17
1.2. Hệ thống bài tập “ dựa vào tranh, tìm từ tương ứng”
Ở bài tập này, từ cần tìm không cho sẵn. Học sinh phải gọi tên sự vật,
hoạt động, hiện tượng…được biểu hiện trong hình vẽ. So với dạng bài tập (1)
dạng bài tập này có tác dụng phát triển, mở rộng vốn từ cao hơn.
Chủ điểm Em là học sinh
8. Viết tên gọi từng hoạt động dưới đây vào chỗ trống dưới mỗi hình vẽ
Chủ điểm Bạn bè
9. Tìm những từ chỉ người, đồ vật, con vật, cây cối được vẽ dưới đây.
1. Kiểu bài nhận dạng từ rời( từ chưa hoạt động)
2. Kiếu bài tập nhận dạng từ trong lời nói( từ hoạt động)
2.1. Bài tập nhận dạng từ rời
* Chủ điểm Em là học sinh
15. Trong các từ dưới đây, từ nào được dùng để chỉ hoạt động của học
sinh, từ nào dùng để chỉ tính nết học sinh:
20
Đọc, cần cù, ngoan ngoãn, nói, làm tính, đoàn kết, chăm chỉ, lễ độ, viết,
vui chơi, đá cầu.
16. Gạch chân những từ chỉ đồ dùng học tập có trong dãy dưới đây:
Bút, sách, lớp, bảng, bát, thước kẻ, chén, phích, hộp bút.
17. Trong những từ dưới đây, từ nào được dùng để chỉ hoạt động của
giáo viên:
Giảng bài, học bài, soạn bài, làm bài, trả lời, chấm bài, hỏi bài, coi
thi.
*Chủ điểm Ông bà
18. Gạch chân những từ chỉ người trong gia đình:
Bố, mẹ, ông, bà, giáo viên, học sinh, kĩ sư, bà ngoại, con cái, cha mẹ,
bộ đội, cán bộ, con, anh, chị, em, anh cả, em út.
19. Gạch chân dưới những từ chỉ quan hệ trong họ nội:
Bác, cô, bà nội, cậu, dì, chú, thím, ông nội, mợ.
20. Gạch chân dưới những từ chỉ quan hệ trong họ ngoại:
Ông ngoại, cậu, chú, cô, bà ngoại, dì, anh, em.
21. Gạch chân những từ vừa có thể dùng để chỉ quan hệ họ nội, vừa có
thể dùng để chỉ quan hệ họ ngoại:
Ông, bà, anh, chị, cháu, dì, chú, cụ, bác.
* Chủ điểm Bốn mùa
Từ chỉ con vật
Từ chỉ cây cối
27. Gạch chân những từ chỉ sự vật:
Bạn, quý mến, bảng, phượng vĩ, đi, thân yêu, cô giáo, nhớ, thầy giáo,
cá heo, sách, đỏ, nai, xanh.
28. Gạch chân những từ chỉ sự vật trong đoạn thơ sau:
Tiếng chim vách núi nhỏ dần
Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa
22
Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
Ngang trời kêu một tiếng chuông
Rừng xanh nổi gió, suối tuôn rì rào
(Theo Trần Đăng Khoa)
29. Trong đoạn văn sau đây tìm các từ chỉ sự vật:
Ông chậm rãi nhấn từng nhịp chân trên chiếc xe đạp cũ, đèo tôi tới
trường. Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè, ông dẫn tôi lang thang
khắp căn lớp trống. Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da
loang lổ của chiếc trống trường.
30. Gạch chân những từ chỉ người, đồ vật, con vật, cây cối.
+ Các thầy, cô giáo đến trường rất sớm.
+ Học sinh thường tập trung dưới gốc cây bàng, cây phượng để chơi.
+ Chim Gáy đậu trên cây, thấy kiến bị nạn, vội bay đi gắp một cành cây
khô thả xuống dòng suối để cứu bạn.
* Chủ điểm Muông thú
Cây sống trên cạn: ………………………………………….............
Cây sống dưới nước: …………………………………………………
34. Gạch chân dưới những từ chỉ bộ phận của cây:
Rễ, quả, khẳng khiu, nâu thẫm, cành, đài, lá, xanh ngắt.
35. Sắp xếp các từ trong ngoặc vào các nhóm dưới đây:
(màu nâu đất, vàng rực, chín mọng, chắc khỏe, sần sùi, xanh bóng,
nham nhám, đan nhằng nhịt, nhiều nhánh, hình lưỡi mác, cao, chót vót, ngoằn
ngoèo, cong queo, chi chít, chẻ phiến, thơm ngát, sum suê, thon dài.)
+ Thân cây: …………………………………………….................
+ Cành cây: ……………………………………………………….
+ Lá cây : ………………………………………………………...
+ Hoa : …………………………………………………………...
+ Quả: …………………………………………………………...
+ Rễ: ……………………………………………………………..
* Chủ điểm Nhân dân
37. Trong các từ dưới đây, từ nào nói lên phẩm chất của dân tộc Việt
Nam:
Anh hùng, cao lớn, thông minh, gan dạ, rực rỡ, cần cù, đoàn kết, vui
mừng, anh dũng.
24