Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 - Pdf 29

Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 1 K33B - GDTH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LƯƠNG THỊ LAN HƯƠNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MỞ
RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM TRONG
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO
HỌC SINH LỚP 3 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
ở lớp 3 đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao hơn nữa năng lực sử dụng từ ngữ
cho học sinh.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 3 K33B - GDTH
Chính vì những lí do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng
hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ
và câu cho học sinh lớp 3.”
2. Lịch sử vấn đề
Chương trình phân môn Luyện từ và câu tuy mới được thực hiện vài
năm gần đây nhưng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phân
môn này.
Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu.
* Nguyễn Minh Thuyết, Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3, Nxb GD,
2004.
Trong cuốn sách này tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến nhiều
vấn đề xoay quanh phân môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống câu hỏi và
câu trả lời. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ, câu
ở lớp 3, kèm theo hướng dẫn cách dạy các kiểu bài đó.
Đóng góp của công trình này là đã giải đáp được một số nội dung trong
chương trình Tiếng Việt 3 mà nhiều giáo viên còn băn khoăn, thắc mắc. Tuy
nhiên, những bài tập đưa ra làm ví dụ minh họa ở đây đều được lấy ra từ sách
giáo khoa Tiếng Việt 3 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả giáo viên
và học sinh, và chưa có tính hệ thống.
* Đăng Mạnh Thường, Nguyễn Thị Hạnh, Luyện từ và câu 3, Nxb
GD, 2009 (tái bản lần thứ năm).
Cuốn sách này gồm 2 chương: chương 1 trình bày một số điểm cần lưu
ý về phần Luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 3; chương 2 trình bày cách giải
bài tập Luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 3 và bài tập bổ sung.
Ở chương 1, ngoài mục đích và yêu cầu chung, các tác giả của cuốn
sách đã chỉ rõ mức độ yêu cầu trong từng nội dung luyện từ và câu. Chẳng

Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 5 K33B - GDTH
Có thể nói đây là một tài liệu tham khảo tốt cho giáo viên và học sinh
khi dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình lớp 3. Tuy nhiên hệ thống bài
tập được trình bày ở đây chủ yếu mới là kiểu bài tập trắc nghiệm nên đơn
điệu. Hơn nữa hệ thống bài tập này cũng chưa được sắp xếp theo chủ điểm
nên cũng chưa thuận tiện cho người sử dụng.
* Bùi Minh Toán, Viết Hùng, Luyện từ và câu Tiếng Việt, Nxb Đại
học Sư phạm, 2005.
Cuốn sách này gồm 2 phần: Phần 1 trình bày: những điểm cần lưu ý về
Luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt lớp 3, Phần 2 trình bày: gợi ý làm bài tập
và các bài tập bổ trợ.
Đây là cuốn sách tham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy phân
môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3. Cuốn sách này đã gợi ý được
cách giải những bài tập trong chương trình học một cách tương đối rõ ràng dễ
hiểu. Đặc biệt cuốn sách này đã đưa thêm được một hệ thống hỗ trợ cho từng
bài học để giáo viên có thể dùng trong giờ dạy, khiến tiết học thêm sinh động
và ít lệ thuộc vào sách giáo khoa hơn. Song các bài tập được trình bày cũng
chưa thực sự có tính hệ thống.
Có thể nói, điểm chung của các công trình này đều hướng tới mục đích
là làm thế nào để dạy, học môn Tiếng Việt 3 một cách có hiệu quả, làm thế
nào để nâng cao năng lực tiếng Việt của các em. Đã có những công trình
nghiên cứu chú trọng việc xây dựng hệ thống bài tập nhưng số lượng bài tập
còn hạn chế, kiểu loại bài tập chưa phong phú đa dạng. Đặc biệt chưa có một
công trình nghiên cứu nào xây dựng được hệ thống bài tập theo chủ điểm
dưới nhiều kiểu dạng bài tập có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và
học sinh. Từ nhu cầu thực tiễn của bản thân – người giáo viên tiểu học tương
lai và yêu cầu cung cấp kiến thức về từ cho học sinh lớp 3, chúng tôi mạnh
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 6 K33B - GDTH

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là hệ thống bài tập mở rộng vốn từ
theo chủ điểm được sử dụng trong phân môn Luyện từ và câu ở chương trình
Tiếng Việt 3.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 bao
gồm 15 chủ điểm, được sắp xếp theo trình tự sau:
Tập 1 có các chủ điểm:
- Chủ điểm Măng non
- Chủ điểm Mái ấm
- Chủ điểm Tới trường
- Chủ điểm Cộng đồng
- Chủ điểm Quê hương
- Chủ điểm Bắc – Trung – Nam
- Chủ điểm Anh em một nhà
- Chủ điểm Thành thị và Nông thôn
Tập 2 có các chủ điểm:
- Chủ điểm Bảo vệ Tổ quốc
- Chủ điểm Sáng tạo
- Chủ điểm Nghệ thuật
- Chủ điểm Lễ hội
- Chủ điểm Thể thao
- Chủ điểm Ngôi nhà chung
- Chủ điểm Bầu trời và mặt đất
Do khuôn khổ của khóa luận chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu ở
bảy chủ đểm là:
- Chủ điểm Măng non
- Chủ điểm Mái ấm
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 8 K33B - GDTH
- Chủ điểm Tới trường


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các vấn đề lý thuyết về từ tiếng Việt
1.1.1.1. Khái niệm về từ tiếng Việt
Có nhiều định nghĩa về từ tiếng Việt:
- Theo Nguyễn Nguyên Trứ “Từ là đơn vị nguyên ngữ nhỏ nhất, có ý
nghĩa và độc lập trong lời nói, được vận dụng một số cách tự do theo quy luật
kết hợp của ngữ pháp”.
- Tác giả Hồ Lê lại viết: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh
phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết
hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa”.
- Theo GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, ông đã định nghĩa từ như sau: “Từ là
đơn vị có ý nghĩa nhỏ nhất của lời nói, có tính độc lập”. Đến năm 1985, khi
cuốn “Từ vựng học Tiếng Việt” của ông xuất bản, ông khẳng định: “Từ của
Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có
hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết lời”.
- Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến
cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vô ngữ âm bền vững
hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong
lời nói để tạo câu”.
Theo GS.TS Đỗ Hữu Châu định nghĩa về từ được hiểu một cách đơn
giản như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến,
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 10 K33B - GDTH
mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo
nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt
và nhỏ nhất để tạo câu” [2;16] .

Trong Tiếng Việt, khả năng làm vị ngữ trực tiếp hay làm vị ngữ gián tiếp
với từ nối “là” (trở nên, trở thành ) thường được dùng như tiêu chí chủ yếu
phân biệt các từ loại.
- Khả năng chi phối các thành phần phụ trong cụm từ, trong câu.
VD: Để phân xuất các loại động từ thành động từ ngoại động và động từ
nội động, chúng ta lấy khả năng có hay không bổ ngữ danh từ chỉ đối tượng
chịu tác động trực tiếp của hoạt động từ biểu thị làm tiêu chí phân loại.
Người thợ xây nhà. Cái cốc vỡ.
Người kĩ sư chữa máy. Hoa nở.
Dược sĩ điều chế thuốc. Vận động viên chạy trên sân cỏ.
Nhà, máy, thuốc là những đối tượng hình thành do các hoạt động xây,
chữa, điều chế nên xây, chữa, điều chế là các động từ ngoại động. Trái lại đằng
sau các động từ chạy, vỡ, nở không thể có những bổ ngữ như vậy nên chúng là
các động từ nội động.
1.1.1.2. Các thành phần ý nghĩa của từ
Ngữ nghĩa học hiện nay cho rằng cái gọi là ý nghĩa của từ không phải là
một khối không phân hóa mà là một tập hợp một số thành phần nhất định. Đỗ
Hữu Châu đã phân biệt rất rõ những thành phần ý nghĩa của từ. Tùy theo các
chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành
phần ý nghĩa cơ bản sau đây: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp.
Ý nghĩa từ vựng bao gồm:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật.
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm.
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 12 K33B - GDTH
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính chất tương đối cố
định, bền vững. Chúng là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn
ngữ. Chúng là ý nghĩa ngôn ngữ, tức là chúng không phải chỉ do quan hệ giữa

phát âm lên gợi cho chúng ta những cảm xúc sợ hãi: ma quái, chém giết, tàn
sát … hoặc có những từ gợi ra cảm giác khoan khái dễ chịu: thanh thoát, êm
ái, quê hương … Có những từ giúp chúng ta bộc lộ sự khinh bỉ: đê tiện, hèn
hạ, thô bỉ, lì lợm, ton hót… hoặc ngược lại có những từ giúp ta bày tỏ lòng
tôn trọng: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn hay sự thiết tha: da diết,
ân cần, vồn vã, đắm say…
Tóm lại: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái là các
loại nghĩa tạo nên ý nghĩa từ vựng của từ. Tuy nhiên, vì từ là một thể thống
nhất, cho nên mỗi thành phần ý nghĩa là những phương diện khác nhau của
thể thống nhất đó. Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết
thấu đáo từng mặt nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối
liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng.
1.1.1.3. Tính hệ thống của từ ngữ và việc xây dựng bài tập mở rộng vốn từ
Việc cung cấp vốn từ cho HS tiểu học bao giờ cũng được thực hiện
theo từng chủ đề, chủ điểm nhằm làm phong phú hóa, chính xác hóa và tích
cực hóa vốn từ cho học sinh. Hay nói cách khác việc mở rộng vốn từ cho học
sinh tiểu học luôn đảm bảo tính hệ thống giúp các em tiếp thu từ ngữ một
cách khoa học. Sau đây là một số kiến thức có liên quan đến vấn đề mở rộng
vốn từ cho học sinh.
a. Tính hệ thống của từ ngữ
Hệ thống là gì? Theo từ điển Tiếng Việt “hệ thống là tập hợp nhiều yếu
tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 14 K33B - GDTH
chặt chẽ làm thành một thể thống nhất. [15;418]. Nói cách khác, hệ thống là
tập hợp các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và nằm trong một chỉnh thể.
Nói đến hệ thống cần có hai điều kiện: tập hợp các yếu tố và những mối quan
hệ, liên hệ lẫn nhau giữ các yếu tố.
Nói một cách khái quát, từ ngữ của bất kì ngôn ngữ nào cũng không
phải tập hợp hỗn độn, cô lập, tồn tại lẻ tẻ, rời rạc mà giữa chúng luôn chứa

Nếu căn cứ vào kiểu cấu tạo có thể chia các từ trên thành hai trường:
- Trường các từ có yếu tố “nhỏ” được cấu tạo từ phương thức ghép: nhỏ
to, to nhỏ, lớn nhỏ, nhỏ bé.
- Trường các từ có yếu tố “nhỏ” được cấu tạo từ phương thức láy: nhỏ
nhắn, nhỏ nhẹ, nho nhỏ, nhỏ nhoi, nhỏ nhen, nhỏ nhẻ.
Tuy nhiên, toàn bộ các từ đã nêu có thể lập thành một trường các từ có
chung yếu tố cấu tạo “nhỏ”.
Xuất phát từ những hiểu biết trên, các nhà soạn sách giáo khoa đã xây
dựng các bài tập tập hợp từ dựa trên một số điểm đồng nhất nào đó về đặc
điểm cấu tạo.
* Trường nghĩa
Do quá lớn và quá phức tạp, những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng
không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn ngẫu nhiên. Những
quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ (nói đúng ra là
các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp. Nói cách khác, tính hệ
thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa
trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua
quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng.
Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được coi là một trường nghĩa. Đó là sự tập
hợp các từ có cùng một ý nghĩa. Các từ trong cùng một trường nghĩa đồng
nhất với nhau về ý nghĩa chung được tập hợp.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 16 K33B - GDTH
Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát
những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa
các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường.
Theo các thành phần ý nghĩa của từ sẽ có hai trường nghĩa lớn là
trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.
- Trường biểu vật
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu

chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật. Nhưng khi cần phân
lập một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét
nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm.
- Trường nghĩa tuyến tính (còn gọi là trường nghĩa ngang)
Để lập nên các các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm
gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính (cụm
từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Ví dụ: Trường tuyến tính của từ “tay” là búp măng, mềm, ấm, lạnh,
nắm, cầm, khoác …
Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ
trung tâm trong các loại ngôn bản. Các từ cùng nằm trong một trường tuyến
tính có quan hệ với nhau không chỉ về phương diện nội dung mà còn cả về
phương diện ngữ pháp.
Các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và
cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những
đặc điểm hoạt động của từ.
- Trường liên tưởng
Là tập hợp bao gồm những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường
biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 18 K33B - GDTH
và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm. Trong trường liên tưởng còn có
nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm
trong ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại ý nghĩa biểu vật
có những từ trong trường liên tưởng giống nhau nhưng cũng có những từ khác
nhau về nghĩa. Do tính chất này các trường liên tưởng thường không ổn định
nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ
và từ vựng. Nhưng, trường liên tưởng có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ,
nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo
ngữ, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đó để nói hay viết, sự tránh né đến

nắm được nghĩa và có kỹ năng sử dụng chúng trong mọi tình huống.
b. Vốn từ của mỗi cá nhân và vốn từ của học sinh tiểu học
- Vốn từ của mỗi cá nhân
Vốn từ của mỗi cá nhân có thể có được do quá trình tích lũy tự nhiên
trong cuộc sống hàng ngày (giao tiếp, tự đọc sách vở …) tức là từ được hình
thành bằng con đường vô thức cũng có thể do con người ta tích lũy một cách
có ý thức (học có người hướng dẫn, qua sách vở một cách có kế hoạch, hệ
thống).
Mỗi cá nhân có một vốn từ riêng, kho từ của người này không thể trùng
lặp với người khác một cách tuyệt đối. Cá nhân nắm được một từ là phải nắm
được cả mặt âm và mặt nghĩa của từ đó.
Vốn từ của cá nhân luôn biến động và phát triển theo độ tuổi, môi
trường sống và những hoạt động của cá nhân ấy. Theo giáo sư Lê Hữu Tỉnh:
“đánh giá vốn từ của cá nhân chúng ta cần phải nhìn cả ở phương diện số
lượng và chất lượng”. Ở đây nói đến “số lượng” là nói đến nhiều hay ít, bao
nhiêu. Còn nói đến “chất lượng” là nói đến việc nắm được nghĩa của từ, nắm
được chính xác các mặt âm thanh, chữ viết, đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm
phong cách, phạm vi sử dụng của từ.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 20 K33B - GDTH
- Vốn từ của học sinh tiểu học
Vốn từ của học sinh tiểu học cũng có thể hình thành từ hai con đường: hình
thành theo con đường tự nhiên và hình thành theo con đường tự giác, có ý thức.
Vốn từ của học sinh tiểu học hình thành theo con đường tự nhiên, vô
thức lệ thuộc nhiều vào môi trường sống. Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng,
một học sinh được sống trong môi trường phong phú, số lượng từ của các em
nhiều hơn khoảng 1,2 lần số lượng từ của một học sinh sống trong môi trường
bình thường. Ngoài môi trường sống, địa bàn cư trú cũng ảnh hưởng nhiều tới
việc hình thành vốn từ ngữ cho các em. Thực tế cho thấy, vốn từ của học sinh
sống ở địa bàn nông thôn sẽ khác vốn từ của một học sinh thành thị, vốn từ

về tính vừa sức, tính cần thiết và đặc biệt phải là từ trung tâm của chủ đề.
Khi các em nắm chắc được nghĩa của từ, bước tiếp theo của việc rèn
luyện năng lực từ ngữ là dạy các em sử dụng vốn từ đã có.
Phương pháp rèn luyện năng lực sử dụng từ cho học sinh rất đa dạng
nhưng cách thông dụng và phù hợp nhất là yêu cầu và hướng dẫn các em làm
bài tập. Các dạng bài tập thường gặp là: dạng bài tập điền khuyết (điền từ vào
chỗ trống) đặt câu với từ cho trước, viết đoạn văn với một số từ cho sẵn …
1.1.3. Chương trình phân môn luyện từ và câu trong Tiếng Việt 3
Môn Tiếng Việt 3 gồm 6 phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả,
Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn. Phân môn Luyện từ và câu được dạy
mỗi tuần một tiết.
1.1.3.1. Mục tiêu, vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Kế thừa và phát huy những ưu điểm của chương trình cũ đồng thời
cũng để tạo ra phong thái mới trong dạy và học hiện nay, chương trình sách
giáo khoa mới ra đời với mong muốn sẽ giúp cho học sinh tiếp cận một cách
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 22 K33B - GDTH
dễ dàng hơn với môn tri thức mới Luyện từ và câu. Phân môn Luyện từ và
câu sẽ giúp học sinh:
- Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu
biết sơ giản về từ và câu.
- Rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu.
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành
câu, rèn luyện ý thức sử dụng tiếng Việt có văn hóa trong giai tiếp.
Với mục tiêu như vậy, việc dạy Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức to
lớn trong nhà trường, nhằm cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để
đi sâu vào tìm hiểu các lĩnh vực khác.
1.1.3.2. Nội dung phân môn Luyện từ và câu trong Tiếng Việt 3
Nội dung chính của phân môn Luyện từ và câu trong Tiếng Việt 3 là:


c. Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc của người lớn đối với trẻ em.
M: yêu thương
(Tiếng Việt 3, tập một, tr.16)
VD3: Em hãy tìm và ghi vào vở những từ ngữ.
a. Chỉ những người hoạt động nghệ thuật M: diễn viên
b. Chỉ các hoạt động nghệ thuật M: đóng phim
c. Chỉ các môn nghệ thuật M: điện ảnh
(Tiếng Việt 3, tập hai, tr.53)
b. Bài tập mở rộng vốn từ theo ý nghĩa khái quát
VD1: Tìm các từ ngữ chỉ sự vật trong khổ thơ sau:
“Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai”
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lương Thị Lan Hương 24 K33B - GDTH
(Tiếng Việt 3, tập một, tr.85)
VD2: Liệt kê những từ chỉ hoạt động, trạng thái trong bài tập làm văn
cuối tuần 6 của em.
(Tiếng Việt 3, tập một, tr.58)
c. Bài tập mở rộng vốn từ theo cấu tạo từ
VD: Hãy kể tên các môn thể thao, bắt đầu bằng tiếng sau:
a. Bóng M: bóng đá
b. Chạy M: Chạy vượt rào
c. Đua M: đua xe đạp
d. Nhảy M: nhảy cao
(Tiếng Việt 3, tập hai, tr.93)
d. Bài tập mở rộng vốn từ qua trò chơi giải ô chữ
VD: Giải ô chữ. Biết rằng các từ ở cột được in màu có nghĩa là “Buổi lễ
mở đầu năm mới”.

của tài liệu.
b. Trí nhớ của học sinh tiểu học
* Khái niệm trí nhớ
Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức
cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần
có thể nhớ lại được, nhận lại được.
Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định.
*. Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học
- Cả hai loại trí nhớ đều được hình thành và phát triển ở học sinh tiểu
học. Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển nếu tiết học của giáo viên tổ
chức không điều khiển học sinh hành động để giải quyết các nhiệm vụ học thì
dễ dàng rơi vào ghi nhớ không chủ định.

Trích đoạn Thực trạng dạy học phõn mụn Luyện từ và cõu trong sỏch Tiếng Việt Thực trạng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong Sỏch giỏo khoa Tiếng Việt Những điểm tốt và chưa tốt trong tiết dạy thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status