Luận văn
Xây dựng hệ thống bài tập mở
rộng vốn từ theo chủ điểm cho
học sinh lớp 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1. Mục đích nghiên cứu 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Lịch sử vấn đề 4
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Bố cục của luận văn 9
B. NỘI DUNG CHÍNH 10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP
MỞ RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM CHO HS LỚP 3 10
1.1. Cơ sở lí luận 10
1.1.1. Lí thuyết về từ tiếng Việt 10
1.1.2. Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt ở
tiểu học 15
1.1.3. Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh 18
thực thi của hệ thống bài tập mà luận văn đề xuất 88
Một số thiết kế thử nghiệm 89
C. KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức và thống nhất của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, là thứ của cải vô giá mà cha ông ta đã sáng tạo, giữ gìn và
bảo vệ trong suốt quá trình phát triển lịch sử của đất nƣớc. Vì vậy, nó có vai
trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con
ngƣời Việt Nam.
Ngày nay, trƣớc những biến đổi to lớn của đất nƣớc, trách nhiệm của
mỗi ngƣời dân Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ tri thức là phải luôn luôn có ý
thức giữ gìn, bảo vệ sự giàu có và trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, để tiếng
Việt mãi mãi xứng đáng với vai trò là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất
của cộng đồng ngƣời Việt Nam, là công cụ bảo tồn và phát triển nền văn hoá
dân tộc.
Hơn nữa, những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá,
giáo dục , những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói chung
đòi hỏi phải có sự đổi mới trong việc dạy - học tiếng Việt trong nhà trƣờng.
1.2. Hình thành năng lực từ ngữ cho học sinh (HS) cấp tiểu học nói
chung và HS lớp 3 nói riêng là mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy từ ngữ
ở cấp tiểu học (năng lực từ ngữ đƣợc hiểu bao gồm vốn từ và các kỹ năng vận
dụng vốn từ ấy để tạo lập và lĩnh hội ngôn bản). Bởi vậy, muốn thực hiện
đƣợc mục tiêu này, trƣớc hết phải phát triển, mở rộng vốn từ cho học sinh nói
chung và học sinh lớp 3 nói riêng.
1.3. Môn Tiếng Việt ở phổ thông (trong đó có môn Tiếng Việt lớp 3)
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể
sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
- Tìm hiểu nội dung, chƣơng trình phân môn Luyện từ và câu trong sách
Tiếng Việt 3.
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn này ở một số trƣờng trong
vài năm gần đây.
- Tìm hiểu một số cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài để làm căn cứ xây
dựng hệ thống bài tập.
- Xác định tiêu chí và nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập.
- Xây dựng một hệ thống bài tập phong phú, đa dạng theo chủ điểm
trong chƣơng trình Tiếng Việt 3.
- Thiết kế một số bài dạy thử nghiệm và tổ chức dạy thực nghiệm ở một
số trƣờng. Bƣớc đầu đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của hệ thống bài
tập do luận văn đề xuất.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập mở rộng vốn từ
theo chủ điểm đƣợc sử dụng trong phân môn Luyện từ và câu ở chƣơng trình
Tiếng Việt 3.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chƣơng trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 bao
gồm 15 chủ điểm, đƣợc sắp xếp theo trình tự nhƣ sau:
- Chủ điểm Măng non;
- Chủ điểm Mái ấm;
- Chủ điểm Tới trường;
- Chủ điểm Cộng đồng;
đƣợc tác giả đƣa ra để làm tài liệu tham khảo cho các giờ dạy - học. Có thể
dẫn ra một số công trình tiêu biểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
1. Nguyễn Minh Thuyết, Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 3, Nxb GD, 2004.
Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến nhiều
vấn đề xoay quanh phân môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống câu hỏi và
câu trả lời. Đặc biệt, tác giả đã đƣa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ và
câu ở lớp 3, kèm theo hƣớng dẫn cách dạy các kiểu bài đó.
Đóng góp của công trình này là đã giải đáp đƣợc một số nội dung trong
chƣơng trình Tiếng Việt 3 mà nhiều giáo viên còn băn khoăn, thắc mắc. Tuy
nhiên, những bài tập đƣa ra làm ví dụ minh họa ở đây đều đƣợc lấy từ sách
giáo khoa Tiếng Việt 3 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả giáo viên
và học sinh, hơn nữa, chúng chƣa có tính hệ thống.
2. Trần Đức Niềm, Lê Thị Nguyên, Ngô Lê Hƣơng Giang, Phương pháp
Luyện từ và câu, Tiểu học 3, Nxb Đà Nẵng, 2004.
Cuốn sách này gồm 3 phần: Phần 1 trình bày phƣơng pháp luyện kỹ
năng thực hành các bài tập học kỳ 1, Phần 2 trình bày Hệ thống các bài tập,
phần 3 gợi ý cách giải các bài tập.
Có thể nói, đóng góp chính của cuốn sách này là đã đƣa ra đƣợc một số
dạng bài tập theo từng tiết học, có gợi ý cách giải các bài tập đó. Tuy nhiên,
các bài tập này cũng không lập thành hệ thống theo chủ điểm, chƣa kể có bài
tập còn đƣa ra cách giải không đúng (bài tập 1, trang 5).
3. Bùi Minh Toán, Viết Hùng, Luyện từ và câu, Tiếng Việt, Nxb Đại học
Sƣ phạm, 2005.
Cuốn sách này gồm 2 phần: Phần 1 trình bày: Những điểm cần lƣu ý về
luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt lớp 3; Phần 2 trình bày: Gợi ý làm bài tập
và các bài tập bổ trợ.
Đây là cuốn sách tham khảo dành cho giáo viên và học sinh khi dạy phân
các cuốn sách đã dẫn trên, hệ thống bài tập ở đây mới chỉ dừng lại ở những
dạng bài tập quen thuộc, ít thấy dạng bài tập nâng cao và dạng bài tập sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
phƣơng pháp trò chơi ngôn ngữ để giáo viên có thể hƣớng dẫn học sinh thực
hiện trong các giờ ngoại khoá.
5. Lê Hữu Tỉnh, Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học
sinh tiểu học, Luận án Tiến sỹ, 2001.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận án gồm 3
chƣơng: Chương 1 trình bày Cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập ;
Chương 2 trình bày Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh
tiểu học; Chương 3 là chƣơng Thực nghiệm Sư phạm.
Luận văn của chúng tôi sẽ tiếp thu những cơ sở lí luận và hệ thống bài
tập đƣợc trình bày trong luận án, trên tinh thần có chọn lọc và chỉnh sửa cho
phù hợp với đối tƣợng, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của luận văn.
Cũng cần nói thêm, công trình nghiên cứu của Lê Hữu Tỉnh mới chỉ
dừng lại ở mặt lí luận, chứ chƣa đƣa ra đƣợc một hệ thống bài tập cụ thể.
6. Nguyễn Thị Hạnh, Bài tập trắc nghiệm tiếng Việt 3, Nxb GD, 2005
Trong cuốn sách này, tác giả đã xây dựng đƣợc một hệ thống bài tập trắc
nghiệm theo 5 phân môn của chƣơng trình tiếng Việt 3, đó là các phân môn:
Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Đọc hiểu và Tập làm văn. Hệ thống bài
tập này ứng với nội dung bài học theo tuần. Nội dung các bài tập trắc nghiệm
phần lớn bám sát các yêu cầu của từng bài học trong sách Tiếng Việt 3. Hình
thức trắc nghiệm của các bài tập khá phong phú. Cuốn sách đƣa ra một số
dạng bài tập trắc nghiệm nhƣ:
- Chọn một phƣơng án trả lời đúng trong số nhiều phƣơng án trả lời;
- Chọn những phƣơng án trả lời đúng cho một câu hỏi; trong số nhiều
phƣơng án trả lời;
- Bài tập nối cặp đôi
nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc.
Hệ thống bài tập trình bày trong luận văn sẽ đƣợc sắp xếp theo trật tự
phù hợp với chƣơng trình học, phù hợp với sự phát triển tƣ duy của học sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
và đặc biệt phù hợp với phƣơng pháp dạy - học môn Tiếng Việt nói chung và
phân môn Luyện từ và câu nói riêng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sẽ sử dụng các phƣơng pháp nghiên
cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc
dùng để khảo sát, phân loại các dạng bài tập, phân loại kết quả học tập của
học sinh.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc
dùng để phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi
trƣớc và kết quả điều tra thực tế. Phƣơng pháp nghiên cứu này còn đƣợc dùng
để phân tích và tổng kết kết quả nghiên cứu mà luận văn đã đạt đƣợc.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc
sử dụng để nghiên cứu, đối chiếu chƣơng trình phân môn Tiếng Việt trong
sách Tiếng Việt 3 mới và chƣơng trình Tiếng Việt trong sách Tiếng Việt 3 cũ.
Ngoài ra, phƣơng pháp nghiên cứu này còn đƣợc dùng để so sánh, đối chiếu
kết quả giảng dạy và học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Phương pháp thực nghiệm: Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc vận
dụng trong quá trình tổ chức thực nghiệm những dạng bài tập mà luận văn
đề xuất.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
- Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập mở rộng vốn
từ theo chủ điểm cho HS lớp 3.
Pháp, v.v , từ của tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan
hệ và chức năng trong câu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Tính cố định, bất biến về âm thanh là điều kiện hết sức quan trọng giúp
ta nhận diện từ một cách dễ dàng. Song cũng vì tính cố định và bất biến mà
bản thân hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt không chứa đựng những dấu hiệu
chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng. Nói cách khác, ở tiếng Việt, "đặc điểm
ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở
ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong câu" [4, tr.21].
1.1.1.2. Các thành phần ý nghĩa của từ
Tuỳ theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ
có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây (những thành phần ý nghĩa này
đƣợc Đỗ Hữu Châu phân biệt rất kỹ):
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật;
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm;
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ba thành phần ý nghĩa trên đƣợc gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa
từ vựng thƣờng đƣợc đối lập với thành phần ý nghĩa thứ 4, đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp.
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững
tƣơng đối. Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài
ngôn ngữ mà có. Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác
trong ngôn ngữ quy định nên.
Sự vật, hiện tƣợng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ đƣợc từ biểu thị tạo nên ý
nghĩa biểu vật của từ. Nói cách khác, "ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật,
hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ" [4, tr.108]. Ý nghĩa biểu vật không
phải là sự vật, hiện tƣợng y nhƣ chúng có thực trong thực tế. Chúng chỉ bắt
nguồn từ đó mà thôi. Nói nhƣ vậy có nghĩa là nghĩa biểu vật của từ không
Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt đƣợc các từ vào
những hệ thống con thích hợp. Có nghĩa là, tính hệ thống về ngữ nghĩa trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ
giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng.
Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa đƣợc gọi là một trường nghĩa. Đó là những
tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
Dựa vào các trƣờng nghĩa, ta có thể phân định một cách tổng quát những
quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các
trƣờng nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trƣờng. Nói một
cách khác, mỗi trƣờng nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống là từ
vựng của một ngôn ngữ.
Ngƣời ta có thể chia hệ thống từ vựng thành các trƣờng nghĩa, tuỳ theo
từng tiêu chí. Cụ thể, ngƣời ta có thể chia hệ thống từ vựng thành trường
nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.
- Trƣờng biểu vật:
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự
vật, hiện tượng thực tế khách quan [4, tr.172]. Cơ sở để xác lập trƣờng nghĩa
biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ. Ví dụ,
trường nghĩa biểu vật về động vật:
+ Tên các loài: gà, lợn, chó, trâu
+ Trƣờng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể: đầu, mỏ, đuôi, mõm
Trƣờng nghĩa biểu niệm
- Trường nghĩa biểu niệm là "một tập hợp các từ có chung một cấu trúc
biểu niệm" [4, tr.178].
Căn cứ để phân lập các trƣờng biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của
từ. Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều từ. Ví
dụ, nói về trƣờng biểu niệm "vật thể nhân tạo", "thay thế hoặc tăng cường
đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ điểm tƣơng đối
đồng nhất, lặp đi lặp lại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Ý nghĩa biểu vật của những từ trong trƣờng liên tƣởng có thể giống
nhau, nhƣng cũng có những từ khác nhau về nghĩa. Do tính chất này mà các
trƣờng liên tƣởng thƣờng không ổn định.
Tóm lại: Nói đến các kiểu quan hệ của ngôn ngữ không thể không nói
đến hai dạng quan hệ, đó là quan hệ ngang và quan hệ dọc. Theo hai dạng
quan hệ đó có thể có hai loại trƣờng nghĩa là trƣờng nghĩa ngang và trƣờng
nghĩa dọc.
Trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu niệm thuộc kiểu trƣờng
nghĩa dọc, trƣờng nghĩa tuyến tính thuộc kiểu trƣờng nghĩa ngang. Trƣờng
nghĩa liên tƣởng là kiểu trƣờng nghĩa có tác động sâu sắc đối với việc sử dụng
từ ngữ và vừa có tính chất của một trƣờng nghĩa ngang, vừa mang tính chất
của một trƣờng nghĩa dọc.
1.1.2. Một số vấn đề lý thuyết về phƣơng pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
1.1.2.1. Khái niệm phương pháp dạy - học
Nhƣ GS.TS Lê A đã khẳng định: "Trong khoa học giáo dục và lí luận
dạy học bộ môn chưa có một cách định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn
thống nhất về thuật ngữ phương pháp dạy học" [2, tr.15]
Có nhiều quan niệm về phƣơng pháp dạy học, có thể dẫn ra một vài định
nghĩa phƣơng pháp dạy học nhƣ sau:
"Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên
và của học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo
của giáo viên sự hoạt động nhận thức tích cực, tự giác của học sinh, nhằm
thực hiện tốt những nhiệm vụ dạy học theo hướng mục tiêu" [3, tr.69].
- Kai - ro VLA lại quan niệm: "Phương pháp dạy học là cách thức làm việc
giữa thày giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
thể hiện của phƣơng pháp thƣờng gặp trong quá trình dạy - học, là: Hình thức
diễn giảng, hình thức đàm thoại, hình thức đọc sách giáo khoa và hình thức
làm bài tập.
1.1.2.3. Một số phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
a) Phương pháp rèn luyện theo mẫu:
Phƣơng pháp dạy học này thƣờng đƣợc dùng để hƣớng dẫn học sinh làm
các bài tập về rèn luyện kỹ năng mở rộng vốn từ và cấu tạo câu.
Phƣơng pháp rèn luyện theo mẫu là phƣơng pháp mà thày giáo chọn giới
thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hƣớng dẫn học sinh phân tích để hiểu
và nắm vững cơ chế của chúng rồi bắt chƣớc mẫu đó một cách sáng tạo vào
lời nói của mình.
b) Phương pháp sử dụng trò chơi:
Trò chơi là một hoạt động của con ngƣời nhằm mục đích trƣớc tiên là vui
chơi nhƣng qua trò chơi, ngƣời chơi có thể đƣợc rèn luyện thể lực, rèn luyện
các giác quan, rèn luyện trí tuệ, tạo cơ hội giao lƣu với mọi ngƣời.
c) Phương pháp thực hành:
Hình thức cốt lõi để thực hiện phƣơng pháp thực hành là ra bài tập và
làm bài tập. Phƣơng pháp luyện tập thực hành giúp cho học sinh nắm vững
khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm hơn.
Ngoài ba phƣơng pháp dạy học vừa trình bày, dạy tiếng Việt ở cấp tiểu
học còn sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ Phương pháp thuyết trình,
Phương pháp đàm thoại
Tóm lại, nói đến dạy - học ta không thể không bàn đến phƣơng pháp dạy
học. Có nhiều quan niệm về phƣơng pháp dạy học cũng nhƣ có nhiều phƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
19
Nói tới vốn từ của cá nhân cần phải lƣu ý rằng vốn từ của cá nhân phải
nằm trong vốn từ của một ngôn ngữ, là một bộ phận của vốn từ vựng nói
chung. Mỗi một cá nhân có một vốn từ riêng; kho từ của ngƣời này không thể
trùng hợp với ngƣời khác một cách tuyệt đối. Cá nhân nắm đƣợc một từ là
phải nắm đƣợc cả mặt âm và mặt nghĩa của từ đó.
Vốn từ của cá nhân luôn biến động và phát triển theo độ tuổi, môi
trƣờng sống và những hoạt động của cá nhân ấy. Đánh giá vốn từ của cá
nhân, chúng ta "cần phải nhìn cả ở phương diện số lượng và chất lượng"
[35, tr.15].
Ở đây, nói đến số lượng là nói đến nhiều hay ít, bao nhiêu, còn nói đến
chất lượng là nói đến việc "nắm được nghĩa của từ, nắm được chính xác các
mặt âm thanh - chữ viết, đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm phong cách, phạm vi
sử dụng của từ" [35, tr.15].
- Vốn từ của học sinh tiểu học:
Khó có thể thống kê một cách chính xác vốn từ của mỗi cá nhân nói
chung và của học sinh tiểu học nói riêng, bởi vốn từ luôn là một hệ thống mở
nhƣ đã nói ở trên. Tuy nhiên, cũng đã có một vài công trình nghiên cứu đã
đƣa ra một số liệu cụ thể về vốn từ của học sinh tiểu học [35, tr.16, 21]. Có
tác giả ƣớc tính học sinh học xong tiểu học sẽ có vốn từ khoảng 12.000 từ.
- Vốn từ của học sinh tiểu học cũng có thể hình hành từ 2 con đƣờng:
hình thành theo con đƣờng tự nhiên và hình thành theo con đƣờng tự giác,
có ý thức.
- Vốn từ của học sinh tiểu học hình thành theo con đƣờng tự nhiên, vô
thức lệ thuộc nhiều vào môi trƣờng sống. Một số nhà nghiên cứu đã cho ta
thấy, một học sinh đƣợc sống trong môi trường phong phú, số lƣợng từ của
các em nhiều hơn khoảng 1, 2 lần số lƣợng từ của một học sinh sống trong
môi trường bình thường [35, tr.23].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
em nói riêng. Đồng thời cũng phải dựa vào qui luật liên tưởng của con người, cụ
thể dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đầu óc con người [35, tr.25].
Từ ngữ tích luỹ trong đầu óc học sinh không phải là một sự sắp xếp lộn
xộn mà tạo thành những hệ thống liên tƣởng nhất định. Chính vì đặc điểm này
mà khi mở rộng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần phải chú ý đến qui luật
liên tƣởng để cung cấp những từ ngữ cần thiết cho các em.
Theo hệ thống liên tƣởng, giáo viên có thể rộng vốn từ cho các em bằng
cách cung cấp từ trái nghĩa, từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa, những từ có quan
hệ ngữ nghĩa với nhau. Chẳng hạn, gặp từ "tổ quốc" có thể mở rộng vốn từ
cho các em bằng cách cung cấp (hoặc hƣớng dẫn các em) tìm những từ cùng
nghĩa, từ: non sông, đất nước, quốc gia Hoặc khi mở rộng vốn từ theo chủ
điểm Trường học, gặp từ "giáo viên" ta lại có thể cung cấp cho học sinh một
số từ , ngữ có quan hệ liên tƣởng với từ này, nhƣ: (soạn) giáo án, chấm bài,
giảng bài, lên lớp
Ngoài phƣơng pháp cung cấp (hoặc hƣớng dẫn các em) tìm những từ
ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa, có quan hệ ngữ nghĩa với từ cho trƣớc, chúng ta
còn có thể hƣớng dẫn học sinh mở rộng vốn từ dựa vào việc cung cấp cho các
em những từ ghép hay từ láy cùng gốc, kiểu nhƣ: gặp từ xanh, có thể cung
cấp cho các em những từ chỉ màu xanh có cùng hình vị gốc nhƣ: xanh lè,
xanh biếc, xanh nhạt, xanh thẫm, xanh trứng sáo, xanh da trời, v.v
c) Rèn luyện kỹ năng sử dụng vốn từ cho học sinh là nhiệm vụ tiếp theo của
việc dạy từ ngữ
Nếu chỉ có vốn từ trong đầu mà không biết sử dụng những từ đó trong
từng hoàn cảnh giao tiếp thì vốn từ đó cũng chỉ là một vốn từ chết. Cho nên,
rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc mở rộng
vốn từ (cung cấp từ) mà còn phải dạy các em biết cách sử dụng và cao hơn
nữa là sử dụng tốt vốn từ đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên