Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La - Pdf 22

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
SGK
: Sách giáo khoa
NCGD
: Nghiên cứu Giáo dục
NXBGD
: Nhà xuất bản Giáo dục
PPDH
: Phƣơng pháp dạy học
MTĐT
: Máy tính điện tử
BGĐT
: Bài giảng điện tử
GAĐT

1.2.2. Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở trƣờng tiểu học 14
TIỂU KẾT CHƢƠNG 21
CHƢƠNG 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY
HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 22
2.1. Giới thiệu về giáo án điện tử 22
2.1.1. Giáo án điện tử (GAĐT) - bài giảng điện tử (BGĐT) 22
2.1.2. Cấu trúc một giáo án điện tử 22
2.1.3. Quy trình thiết kế một GAĐT 25
2.1.4. Các yêu cầu đối với một GAĐT 27
2.2. Ý nghĩa của việc sử dụng GAĐT trong dạy học ở tiểu học 28
2.3. Quy trình thiết kế GAĐT trong phân môn Luyện từ và câu 29
2.4. Lƣu ý khi giảng dạy GAĐT 31
2.5. Sử dụng GAĐT vào giờ dạy Luyện từ và câu 32
2.5.1. Dạy học theo nhóm 32
2.5.2. Dạy học trực tiếp cho cá nhân 38
2.5.2. Dạy học chung cả lớp 41
TIỂU KẾT CHƢƠNG 47
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM 48
3.1. Những vấn đề chung 48
3.1.1. Mục đích thể nghiệm 48
3.1.2. Đối tƣợng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 48
3.1.3. Tiến hành thực nghiệm 48
3.2. Kết quả thể nghiệm………………………………………………………52
TIỂU KẾT CHƢƠNG 56
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
MỞ ĐẦU


Xuất phát từ lí do nêu trên và nhận thấy ở các trƣờng tiểu học hiện nay,
việc dạy luyện từ và câu còn nhiều hạn chế, chƣa đạt đƣợc hiệu quả cao. Vì thế
chúng tôi lựa chọn đề tài “ Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Luyện
từ và câu cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Quyết Tâm – Thành phố Sơn la,
tỉnh Sơn La”, mong đóng góp một tiếng nói nhỏ vào việc dạy và học tiếng Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí quan trọng của Tiếng Việt, nó
có nhiệm vụ là hình thành cho học sinh các kiến thức về từ và câu nhƣ: cấu tạo
từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại và các kiểu câu, các phép liên kết câu. Qua
đó, giúp các em hiểu đƣợc sự trong sáng, giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt,
góp phần bồi dƣỡng cho các em thêm yêu quý tiếng Việt và gìn giữ sự trong
sáng của tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, việc tìm hiểu nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
phân môn Luyện từ và câu đƣợc một số tác giả đề cập trong nhiều công trình
nghiên cứu khoa học và có nhiều bài viết:
“Dạy lớp 3 theo chương trình tiểu học mới” (tài liệu bồi dƣỡng giáo viên
của Bộ giáo dục và đào tạo, dự án phát triển giáo viên Tiểu học) đã nêu lên nội
dung, biện pháp dạy học và quy trình dạy học Luyện từ và câu. Đồng thời còn
soạn giáo án cụ thể ở một số tiết. Đây là đóng góp của tác giả nhằm nâng cao
hơn nữa quy trình dạy học Luyên từ và câu.
Trong cuốn “Phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học tiểu học” của Nguyễn Mạnh Cƣờng đã giới thiệu khá chi tiết
về phƣơng tiện dạy học hiện đại, cách sử dụng máy tính, máy chiếu trong giờ
dạy. Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến quy trình thiết kế chung cho một
GAĐT để ngƣời GV có thể áp dụng nó trong việc thiết kế GAĐT cho từng môn
học cụ thể.
Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học” Bộ GD – ĐT, dự án phát
triển GV tiểu học, NXB GD, Hà Nội, (2005), tác giả đã chỉ ra những đổi mới
trong nội dung và phƣơng pháp bài dạy phân môn Luyện từ và câu theo chƣơng
trình sách giáo khoa mới.


cách sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học Luyện từ và câu.

4
4. Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đề tài khảo sát, nghiên cứu việc dạy học Luyện từ và câu lớp 3. Từ đó đề
xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Luyện từ và câu cho HS lớp 3
nói chung và trƣờng Tiểu học Quyết Tâm – TP Sơn La, tỉnh Sơn la nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Ở đề tài này tôi tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy
Luyện từ và câu ở trƣờng Tiểu học.
- Điều tra thực tiễn và đề xuất một số cách ứng dụng công nghệ thông tin
bằng PowerPoint vào dạy học phân môn Luyện từ và câu.
- Tiến hành thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
5. Phạm vi đề tài
Đề tài nghiên cứu cách thiết kế một số bài học thuộc phân môn Luyện từ
và câu lớp 3 để minh hoạ cho việc “Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy
học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3”. Từ đó ứng dụng trong thực tiễn dạy
học Luyện từ và câu cho HS lớp 3 trƣờng Tiểu học Quyết Tâm – TP Sơn La,
tỉnh Sơn La.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Đọc tham khảo tài liệu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề tài
liệu có liên quan để làm cơ sở lí luận cho đề tài.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Ở đề tài này tôi sử dụng phƣơng pháp điều tra bằng phiếu và phƣơng pháp
trắc nghiệm, để thu thập thông tin về lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
trong các công trình đã công bố.
6.3. Phƣơng pháp toán học
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp toán học nhằm thống kê kết quả khảo sát

từ đó thấy đƣợc hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
Luyện từ và câu. 6
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vị trí của dạy học Luyện từ và câu ở nhà trường tiểu học
Từ có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ, là đơn vị
trung tâm của ngôn ngữ. Nhƣ V.V. Vinogradov viết “Từ là hệ thống của ngôn
ngữ hình thái và ý nghĩa, có quan hệ với các đơn vị có ý nghĩa khác của ngôn
ngữ”. Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố
định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu
cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [4 - 16].
Đỗ Hữu Châu còn khẳng định rằng từ gồm ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm
và ý nghĩa biểu thái. Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tƣợng… trong
thực tiễn và ngôn ngữ. Đó là những “mẩu” những “mảnh”, những “đoạn cắt”
của thực tế nhƣng không hoàn toàn trùng với thực tế. Ý nghĩa biểu niệm của từ
là tập hợp của một số nét chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức,
một trật tự nhất định, giữa các nét nghĩa có quan hệ nhất định, tập hợp này ứng
với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ. Còn ý nghĩa biểu thái là thành phần
nghĩa trong từ biểu hiện thái độ, quan hệ hay sự đánh giá của ngƣời sử dụng
ngôn ngữ đối với ngƣời đối thoại hay đối tƣợng đƣợc đề cập tới. Do đó, muốn
sử dụng tốt từ ngữ tiếng Việt trong hoạt động ngôn ngữ để HS sử dụng thành
thạo, đúng hoàn cảnh và để giao tiếp, học tập có hiệu quả thì trong quá trình dạy
học GV cần kết hợp linh hoạt các biện pháp dạy học để nâng cao hiệu quả dạy
học.

tiếng Việt. Làm cơ sở cho việc hiểu và nắm vững các từ ngữ phức tạp, khó hiểu
hơn để sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong những hoàn cảnh khác nhau.
- Thứ hai: mở rộng, phong phú hóa vốn từ cho HS: Vốn từ là khối từ ngữ
cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ nghĩa) mà mỗi cá
nhân tích lũy trong kí ức của mình. Vốn từ của mỗi cá nhân không giống nhau,
nhiều hoặc ít, đa dạng hay đơn giản tùy thuộc vào kinh nghiệm sống, ở trình độ
học vấn, ở sự tiếp xúc, giao lƣu văn hóa ngôn từ của từng ngƣời. Số lƣợng vốn

8
từ của con ngƣời rất khó xác định, có khi lên tới 25000 từ. Do đó, trong dạy học
phải xây dựng và tích lũy vốn từ cho HS nhằm xây dựng cho HS vốn từ phong
phú, thƣờng trực và có hệ thống trong trí nhớ của HS, tạo điều kiện cho từ đi vào
hoạt động ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) đƣợc thuận lợi và có hiệu quả.
- Thứ ba: hệ thống hóa vốn từ: Dạy HS biết cách sắp xếp các từ một cách
có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy đƣợc nhanh chóng và tạo ra tính
thƣờng trực của từ. Công việc này hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ
thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tƣởng cùng chủ đề tức là kĩ
năng liên tƣởng để huy động vốn từ.
- Thứ tư: tích cực hóa vốn từ: Dạy cho HS sử dụng từ phát triển kĩ năng
sử dụng từ trong lời nói và lời viết của HS, đƣa từ vào trong số vốn từ đƣợc HS
sử dụng thƣờng xuyên, đồng thời loại ra khỏi vốn từ tích cực của HS những từ
ngữ không văn hóa.
- Thứ năm: dạy cho HS biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu,
phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp.
1.1.3. Cơ sở khoa học của việc dạy học Luyện từ và câu
1.1.3.1. Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh tiểu học
Bất kì môn học nào cũng gắn liền mục tiêu, phƣơng pháp với đặc điểm
tâm lí lứa tuổi của HS. Do đó, phƣơng pháp dạy học và tâm lí học có mối quan
hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong phƣơng pháp dạy học tiếng Việt không thể
hoàn chỉnh và có kết quả nếu không dựa trên cơ sở tâm lí của HS. Bởi vậy, việc

truyện tranh hơn là các khái niệm, công thức toán học. Do vậy, trong dạy học
tiếng Việt, với các từ khó và trừu tƣợng HS thƣờng ghi nhớ chậm và mau quên.
Đối với HS tiểu học tƣ duy là tƣ duy cụ thể, trực quan hình ảnh. HS nhanh
chóng nắm đƣợc các đặc điểm, tính chất của các sự vật, hiện tƣợng khi mà HS
đƣợc cầm, nắm, ngửi trực tiếp hơn là đọc các tính chất đó trong SGK. Các em
thƣờng dựa vào đặc điểm bên ngoài nhƣ hình dáng, màu sắc, kích thƣớc để đánh
giá và xếp loại chúng. Do đó, khi dạy từ, GV cần sử dụng các đồ vật, tranh ảnh
để HS phát hiện và giải nghĩa từ.
Từ những cơ sở tâm lí trên khiến cho quá trình dạy học Luyện từ và câu
có nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dạy học trên sự phát triển

10
tâm lý của các em. Do đó, trong quá trình dạy học GV cần thiết phải sử dụng các
phƣơng pháp tích cực để mở rộng vốn từ cho HS.
1.1.3.2. Cơ sở ngôn ngữ học
Những thành tựu trong ngôn ngữ học và bản chất ngữ nghĩa của từ, cấu
trúc từ, các lớp từ… là cơ sở những giờ dạy lí thuyết về từ, GV phải nắm đƣợc
dần dần từng bƣớc cho HS làm quen với những khái niệm nghĩa của từ, tính
nhiều nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa…mặt khác dựa vào kiến thức về từ vựng
học, ngƣời ta đã xác lập những nguyên tắc để dạy từ theo quan điểm thực hành,
hay nói cách khác dạy từ trên bình diện phát triển lời nói. Dạy từ nhất thiết phải
tính đến đặc điểm của từ nhƣ một đơn vị ngôn ngữ: quan hệ trực tiếp của từ với
thế giới bên ngoài. Việc dạy từ cần đƣợc trình bày nhƣ là việc thiết lập quan hệ
giữa từ và yếu tố hiện thực, quan hệ giữa từ với một lớp sự vật cùng loại đƣợc
biểu thị bởi từ. Đó là hai mặt hình thức và nội dung của tín hiệu từ. Hai mặt này
gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau. Phải làm cho học sinh nắm vững hai mặt
này và mối tƣơng quan giữa chúng. HS một mặt phải thiết lập đƣợc mối quan hệ
của từ với sự vật, một lớp sự vật, mặt khác phải tách đƣợc ý nghĩa từ vựng của
từ khỏi vật đƣợc biểu thị bởi từ. Đồng thời dạy từ cũng nhất thiết phải tính đến
quan hệ ý nghĩa của từ với những từ khác bao quanh trong các phong cách chức

chuyển động mà còn phải đƣợc hiểu là tình trạng của sự vật, quan hệ của nó đối
với sự vật khác, sự biến đổi chất lƣợng của sự vật…Ví dụ: ngủ, nghỉ, yêu, phát
triển. Do đó, để hình thành khái niệm HS phải có kĩ năng trừu tƣợng hóa, tách
các từ khỏi ý nghĩa từ vựng cụ thể và tập hợp chúng vào một nhóm, ví dụ: nhóm
các từ trả lời câu hỏi “ai”, “cái gì”,…
Để giảm bớt khó khăn cho HS tiểu học trong quá trình nắm khái niệm ngữ
pháp, cần bảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa nội dung và hình thức ngữ pháp
trong khi dạy ngữ pháp. Đậy là nguyên tắc có tính chất ngôn ngữ học.
Ví dụ: làm cho HS ý thức đƣợc danh từ là toàn bộ các cử chỉ ngƣời, vật, có dấu
hiệu hình thức trả lời cho câu hỏi “ai”, “cái gì”; tính từ là toàn bộ từ chỉ tính
chất của sự vật trả lời cho câu hỏi “như thế nào”
12
1.1.3.3. Sử dụng MTĐT là một phương tiện
Máy tính đƣợc đƣa vào nhà trƣờng nhƣ một công cụ dạy học bởi vì nó tỏ
ra có hiệu lực mạnh góp phần đổi mới PPDH.
- Lý do thứ nhất
+ Máy vi tính có thể mô phỏng những hiện tƣợng không thể hoặc không
nên xảy ra trong điều kiện nhà trƣờng, không thể hoặc khó có thể thực hiện đƣợc
nhờ những phƣơng tiện khác. Việc mô phỏng nhƣ thế có thể giúp nhà trƣờng
tránh những thí nghiệm nguy hiểm, vƣợt qua những sự hạn chế về thời gian,
không gian hoặc chi phí.
Máy vi tính có thể đƣợc dùng nhƣ một máy soạn thảo văn bản. Đó thực
chất là một chiếc máy chữ nhƣng ƣu việt hơn bất kì một máy chữ thông thƣờng
nào bởi vì ta có thể điều chỉnh, sửa chữa những chữ viết sai; có thể thay đổi thứ
tự những đoạn văn, có thể thay đổi kiểu chữ, cỡ chữ và khoảng cách giữa các
dòng, có thể phân công mỗi ngƣời viết một đoạn, mỗi ngƣời viết một phần rồi
ghép lại theo trình tự mong muốn…Chức năng soạn thảo văn bản có thể khai

rộng trong các bài ôn tập về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc
điểm, tính chất…
Bên cạnh đó, ta thấy rằng ngữ pháp là một yếu tố quan trọng để phát triển
năng lực trí tuệ, ngôn ngữ, những phẩm chất đạo đức của trẻ em ở trƣờng tiểu
học. Ngữ pháp trang bị cho HS một hệ thống khái niệm, giúp HS hiểu về cấu tạo
từ, khái niệm về loại, câu, cấu tạo và các kiểu câu. Nội dung chƣơng trình lớp 3
bao gồm: Từ loại – danh từ chung, danh từ riêng, quy tắc viết hoa, động từ, tính
từ. Câu đơn: chủ ngữ, vị ngữ. Kết hợp dạy dấu chấm, dấu hỏi, dấu phẩy.
Các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu
- Từ loại: ôn tập về từ chỉ sự vật, ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái, ôn
tập về từ chỉ đặc điểm.
- Biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa
- Các kiểu câu: ôn tập về câu “ai là gì?”, ôn tập về câu “ai làm gì?”, ôn tập
về câu “ai thế nào?”.
- Cấu tạo câu: ôn tập cách đặt và trả lời câu hỏi “khi nào?”, “ở đâu?”, “vì
sao?”, đặt và trả lời câu hỏi “bằng gì?”
- Dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm.

14
Ở lớp 3, mỗi tuần có 1 tiết Luyện từ và câu và gắn với một chủ điểm nhất
định (35 tiết/năm). Phần lớn các bài Luyện từ và câu trong SGK đƣợc cấu thành
từ một tổ hợp bài tập. Đó là toàn bộ các bài học Luyện từ và câu ở lớp 2,3 và các
bài luyện tập, ôn tập Luyện từ và câu ở lớp 4,5.
Dựa vào nội dung bài dạy, các bài tập Luyện từ và câu đƣợc chia làm 2
mảng lớn là mảng bài tập làm giàu vốn từ và mảng bài tập theo các mạch kiến
thức và kĩ năng về từ và câu.
Bài tập làm giàu vốn từ đƣợc chia làm 3 nhóm: bài tập dạy nghĩa, bài tập
hệ thống hóa vốn từ và bài tập dạy sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ). Bài tập theo
các mạch kiến thức và kĩ năng về từ và câu đƣợc chia ra thành các nhóm: bài tập
luyện từ (bài tập về các lớp từ, về biện pháp tu từ, cấu tạo từ, từ loại), bài tập

1.2.2.5. Nội dung khảo sát
- Máy tính điện tử đƣợc sử dụng trong những môn học ở trƣờng tiểu học
- Mục đích sử dụng máy tính điện tử trong mỗi môn học ở trƣờng tiểu học
- Những thuận lợi và khó khăn của GV khi thiết kế và sử dụng BGĐT.
1.2.2.6. Phương pháp khảo sát
- Sử dụng phiếu khảo sát và phƣơng pháp thống kê để khái quát thực trạng.
- Ngoài ra còn sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn, dự giờ.
1.2.2.7. Kết quả khảo sát
Dựa vào những phƣơng pháp trên chúng tôi đã thu đƣợc những kết quả và
khái quát đặc điểm thực trạng của việc sử dụng máy tính điện tử trong phân môn
Luyện từ và câu ở trƣờng tiểu học.
Bảng 1: Máy tính điện tử đƣợc sử dụng trong những môn học ở trƣờng
tiểu học
STT
Môn học
Đã sử
dụng
MTĐT
%
Chƣa sử
dụng
MTĐT
%
1
Toán
35
87,5
5
12,5
2

Mỹ thuật
10
25
30
75
8
Tiếng anh
7
17,5
33
82,5 16
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy việc sử dụng MTĐT đã đƣợc triển khai
đều trong các trƣờng tiểu học và số lƣợng GV sử dụng nó tƣơng đối đông chiếm
55,6% số GV toàn trƣờng. Và qua điều tra, chúng tôi thấy đa số các GV sử dụng
MTĐT trong hai môn Toán và Tiếng Việt. Ngoài ra còn có các môn học khác.
Bảng 2: Mục đích sử dụng máy tính điện tử trong mỗi môn học ở tiểu học.
STT

Tên công việc
Đã sử
dụng
MTĐT
%
Chƣa sử
dụng
MTĐT
%

những công việc khác, việc sử dụng máy tính điện tử hỗ trợ cho giảng dạy trực
tiếp trên lớp còn rất ít chiếm 0,4%. Việc giảng dạy có sử dụng giáo án điện tử
chỉ có trong giờ thao giảng quan trọng.
Bảng 3: Những thuận lợi và khó khăn của GV khi sử dụng máy tính
điện tử.
Những thuận lợi
STT
Nội dụng
Số phiếu
Tỷ lệ %
1
HS hứng thú học tập
33
82,5
2
HS hăng hái phát biểu
34
85
3
HS có nhiều ý tƣởng
32
80
4
GV không phải thuyết trình nhiều
26
65
5
GV và HS có nhiều cơ hội đối thoại với
nhau
21

10
25

Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học có sử dụng BGĐT so với cách
dạy truyền thống có nhiều điểm khác biệt:
GV gặp đƣợc nhiều thuận lợi từ phía HS đó là: hứng thú học tập, hăng hái
phát biểu xây dựng bài, có nhiều ý tƣởng sáng tạo và tranh luận nhiều…Còn khó
khăn gặp phải tập trung về phía GV nhƣ: mất nhiều thời gian để xây dựng kịch
bản, chƣa nắm rõ quy trình và cách thiết kế một BGĐT, thiếu thời gian trong giờ
dạy, HS mất tập trung…
Qua đó ta thấy đƣợc GV tiểu học đã bƣớc đầu sử dụng máy tính điện tử
trong soạn gián án truyền thống, tuy nhiên việc thiết kế GAĐT phục vụ cho giờ
dạy trên lớp chƣa thực sự có hiệu quả.
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đƣa ra một số nhận xét sau:
+ GV tiểu học đã có sự quan tâm nhất định đến việc sử dụng MTĐT trong
quá trình dạy học.
+ GV bƣớc đầu đã có những kĩ năng thành thạo trong việc sử dụng
MTĐT tuy nhiên việc thiết kế giáo án điện tử và việc thực hiện giáo án trong giờ
dạy còn gặp nhiều khó khăn.
Về phía học sinh, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học cũng
mang lại cho các em những thuận lợi và khó khăn nhất định.
Thuận lợi: với vai trò là một phƣơng tiện trực quan, PowerPoint có ý
nghĩa to lớn về cả ba mặt: giáo dƣỡng, giáo dục, phát triển học sinh trong quá
trình dạy học.
Khi đƣợc học trên phần mềm PowerPoint do GV biên soạn sẽ góp phần
bồi dƣỡng, làm sâu sắc, phong phú, toàn diện tri thức cho cá nhân học sinh.

18
Thông qua phần trình diễn bài giảng của GV với những hiệu ứng, văn bản và
hình ảnh sinh động sẽ cuốn hút HS vào bài giảng, giúp các em lĩnh hội kiến thức

dùng từ sai, dùng từ không hiểu ý nghĩa. Vốn từ hạn hẹp nên dẫn đến các hiện
tƣợng nhƣ thừa từ, lặp từ mà không tìm từ phù hợp để thay thế còn phổ biến,
chẳng hạn khi yêu cầu HS đặt câu hỏi để nói “ai thế nào?” HS đã đặt câu nhƣ
sau: “Bố em khỏe như trâu bò”. Mặc dù cấu trúc câu không sai nhƣng dùng từ
“trâu bò” trong câu trên hoàn toàn là không hợp lí, không phù hợp với văn
cảnh, không phù hợp với văn hóa Tiếng Việt. Một số HS do không hiểu ý nghĩa,
sắc thái của từ nên HS thƣờng dùng sai từ, lặp từ và bỏ lửng câu. Trong một câu
HS sử dụng nhiều từ có nghĩa tƣơng đƣơng nhau. Khi hỏi về vấn đề này các em
thƣờng cho rằng vì từ nào cũng dùng đƣợc nên không chọn lựa mà viết hết vào
trong bài của mình. Nguyên nhân chủ yếu là không hiểu ý nghĩa của từ.
Trong thời gian thực tập, tìm hiểu, tiếp xúc với HS lớp 3, khi làm các bài
tập về việc dùng từ, đặt câu trong các bài học về mở rộng vốn từ, các em chủ
yếu là suy đoán. Chỉ có một số HS khá giỏi do nắm đƣợc những căn cứ để xác
định từ một cách lôgic nên đã biết cách làm bài. Còn các em có học lực trung
bình và yếu thì chủ yếu là phỏng đoán. Các em tập giải nghĩa từ không dựa trên
một cơ sở nào mà hầu hết là theo cảm tính. Ngoài nguyên nhân trình độ thì còn
do không có loại sách tham khảo hoặc do HS chƣa có ý thức học tập tìm hiểu tài
liệu về kiến thức.
Ngoài ra, hiện nay trong nhà trƣờng tiểu học, chúng tôi đƣợc biết HS còn
sử dụng tiếng lóng, tiếng địa phƣơng và khẩu ngữ khi nói và viết. Do bị ảnh
hƣởng nhƣ vậy nên trong quá trình mở rộng vốn từ, giải nghĩa từ các em thƣờng
tìm thêm các từ ngữ địa phƣơng, khẩu ngữ. Do đó, nhiệm vụ đặt ra cho GV là
phải biết cách vận dụng, kết hợp nhiều biện pháp, cách thức khác nhau để giúp
các em sử dụng tiếng địa phƣơng, tiếng lóng đúng lúc, đúng chỗ, đúng hoàn
cảnh giao tiếp.
Mặt khác, khi làm các bài tập về luyện từ và luyện câu, các em thích làm
bài tập phần luyện từ hơn. Đa số các em cho rằng, dạng này dễ làm hơn so với
dạng về câu. Dạng về câu khó hơn nên nhiều HS không yêu thích. Để gây đƣợc
hứng thú học tập cho HS, nhiệm vụ đặt ra cho GV là phải có phƣơng pháp tổ

22
CHƢƠNG 2
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

2.1. Giới thiệu về giáo án điện tử
2.1.1. Giáo án điện tử (GAĐT) - bài giảng điện tử (BGĐT)
Nhƣ chúng ta đã biết, giáo án là kế hoạch thực hiện một tiết dạy. Nói cách
khác, trƣớc khi lên lớp ngƣời giáo viên cần vạch ra các bƣớc lên lớp và chuẩn bị
những nội dung cần thiết để góp phần thực hiện tiết dạy đó đạt hiệu quả cao.
Giáo án điện tử là giáo án đƣợc biên soạn trên máy tính. Trong đó mỗi
hoạt động dạy học đƣợc thiết kế trong một cấu trúc khá chặt chẽ, kết hợp với
việc sử dụng công cụ đa phƣơng tiện: văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim minh
hoạ để truyền tải tri thức và điều khiển ngƣời học.
Bài giảng điện tử là bài giảng của GV có sử dụng GAĐT với sự hỗ trợ của
máy tính điện tử để thực hiện hoạt động giảng dạy đã đƣợc chƣơng trình hoá
một cách uyển chuyển, sinh động.
Nhƣ vậy, GAĐT là bản thiết kế kịch bản cho buổi học và BGĐT là hình
thức dạy học bằng GAĐT. Thực chất đây là việc dạy học với sự hỗ trợ của máy tính.
Với GAĐT, ngƣời thầy đƣợc giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện
tăng cƣờng đối thoại, thảo luận với ngƣời học qua đó kiểm soát đƣợc ngƣời học.
Ngƣời học đƣợc thu hút, kích thích khám phá tri thức, có điều kiện quan sát vấn
đề, chủ động nêu câu hỏi và nhờ vậy quá trình học tập trở nên hứng thú hơn.
2.1.2. Cấu trúc một giáo án điện tử
Theo Nguyễn Mạnh Cƣờng - phƣơng tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học ở tiểu học - thì cấu trúc hình thức của một
GAĐT là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status