skkn ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN vào dạy học và NGHIÊN cứu môn hán nôm ở TRƯỜNG đại học - Pdf 26

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY-HỌC
VÀ NGHIÊN CỨU MÔN HÁN NÔM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
(APPLICATION OF INFORMATICS TECHNOLOGY TO EDUCATION
AND RESEARCH RELATED TO CHINO-VIETNAMESE AT UNIVERSITIES)
Module by: Nguyễn Hoàng Thân. E-mail the author
Summary: Ứng dụng CNTT vào dạy-học và nghiên cứu môn Hán Nôm là một xu thế
tất yếu của thời đại. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu CNTT không ngừng xây dựng, thiết
kế phần mềm Hán Nôm để phục vụ việc dạy-học và nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên, tùy
theo điều kiện dạy học, nội dung từng bài học, đối tượng nghiên cứu cụ thể mà chúng ta
có phương pháp ứng dụng CNTT với các mức độ và hình thức khác nhau sao cho khoa học
và hiệu quả. (It si an inevitble tendency today to apply informatics technology (IT) to
education and research related to Chino-Vietnamese. It si because to this that IT
researchers continuously create Chino-Vietnamese softwaers for education and research on
the language. However, a method to apply IT in this case should be chosen in accordance
to conditions of a class, its contents and, in the case of a research work, to object the
research is aimed at. The extent and manner of application chosen should help bring the
best result.)
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY-HỌC
VÀ NGHIÊN CỨU MÔN HÁN NÔM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Phan Anh Dũng (TT CNTT TT-Huế)-Nguyễn Hoàng Thân (ĐH Đà Nẵng)
I. Giáo dục mới Việt Nam gắn liền với công nghệ thông tin
I.1. Đổi mới phương pháp giáo dục bằng công nghệ thông tin1Ở đây chúng tôi
dùng từ công nghệ thông tin với nghĩa rộng, bao gồm thiết bị kĩ thuật, chương trình
phần mềm, v.v… Song, trong đề tài này vẫn nhấn mạnh hệ thống các chương trình
phần mềm. - xu thế của thời đại2Chúng tôi mượn tên bài báo của Lưu Lâm đăng trên
Tạp chí Giáo dục, số 20/2002, tr.4-6
Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước
ngưỡng cửa của thế kỉ XXI. Ngoài ra, UNESCO còn dự báo: công nghệ thông tin sẽ làm
thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI.
Trước tình hình công nghệ thông tin với giáo dục trên thế giới như vậy, Đảng Cộng

học. Thông qua ứng dụng công nghệ thông tin này, chúng ta có thể rút ngắn thời gian dạy
học văn bản. Từ đó chúng ta có nhiều thời gian hơn cho việc giảng dạy, bình giảng, phân
tích nội dung bên trong của tác phẩm như triết lí, tư tưởng, giá trị nhân sinh quan Chỉ có
như vậy mới có thể đảm bảo được mục tiêu dạy-học Hán Nôm trước đây cũng như hiện
nay.
Trên đây là hai lí do cốt lõi quan trọng nhất trong số nhiều lí do khác. Nó đã thúc
đẩy chúng tôi thường xuyên suy nghĩ nhiều lần và liên tục trong quá trình dạy-học và
nghiên cứu môn Hán Nôm. Do vậy, chúng tôi quyết định chọn vấn đề này làm đề tài
nghiên cứu của mình, nhằm tạo hiệu quả cho việc dạy-học và nghiên cứu môn Hán Nôm.
II. Lịch sử quá trình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy-học
và nghiên cứu Hán Nôm
II.1. Lịch sử quá trình nghiên cứu về vấn đề công nghệ thông tin trong dạy-học
và nghiên cứu Hán Nôm
Ở Trung Quốc, vào thập niên 80 của thế kỉ XX, người ta đã thấy được vai trò quan
trọng của máy vi tính đối với chữ Hán. Do chữ Hán khó học, khó phổ cập cho nên trong
lịch sử Trung Quốc, đã có thời kì mà một số người cho rằng cần phải bỏ chữ Hán thay
bằng kí tự latinh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục, truyền bá tri thức khoa
học. Nhưng rất may, vi tính đã cứu vớt chữ Hán, giúp chữ Hán tồn tại, giúp Trung Quốc
vừa có thể bảo lưu chữ viết truyền thống, vừa vẫn có thể hòa nhập với sự phát triển của
thế giới.
Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ trước, chúng ta cũng
đã ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực Hán Nôm, đi tiên phong có lẽ là Viện Nghiên
cứu Hán Nôm. Năm 1994, Hội đồng Nghiệm thu cấp Nhà nước đã tiến hành hội nghị
nghiệm thu đề tài khoa học “Bước đầu ứng dụng Tin học để bảo vệ và khai thác di sản thư
tịch cổ Việt Nam” (Tin học Hán Nôm) do nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hán
Nôm thực hiện. Cũng trong năm này, chữ Nôm của dân tộc đã được đi vào bộ mã quốc tế
(mang mã TCVN 5773 - 1993).
Kể từ đó cho đến nay, trên Tạp chí Hán Nôm đã đăng tải nhiều bài nghiên cứu về
ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực Hán Nôm, như: Để chữ Nôm Việt Nam cũng
có mặt trong “Bảng mã chuẩn quốc tế” UNICODE và ISO (Ngô Thế Long, 1993), Chữ của

tại Hà Nội, 2006 tại Huế), đều có chuyên đề “Công nghệ thông tin với chữ Nôm” - một
trong số bốn hoặc năm chuyên đề khoa học của mỗi lần hội thảo. Hội thảo năm 2004 có
một số bài nghiên cứu chữ Nôm với công nghệ thông tin của các nhà nghiên cứu như: Ts
Ngô Trung Việt (Viện Công nghệ thông tin) - Ngô Thanh Nhàn (Viện các khoa học Toán
Courant, Đại học New York) với Một cách nhìn về tương lai của chữ Nôm, Tống Phước Khai
(HanoSotf) với Phương pháp đọc phiên thiết và Chữ Nôm và hệ phần mềm HaNoSoft (dành
cho hệ MS Windows 2000 và XP), Phan Anh Dũng (HueSoft, Công ty Sách - Thiết bị Trường
học Thừa Thiên - Huế) với Một số kết quả ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ nghiên
cứu chữ Nôm và Hiển thị các kí tự Unicode DBCS với Visual Basic, Nhóm Nôm Na (Hội Bảo
tồn Di sản chữ Nôm, Hà Nội) với Qui trình Nôm Na, Giúp đọc Nôm và Hán Việt và chữ Nôm
trên mạng, Tống Phước Khải & Lê Anh Minh với Hệ phần mềm HaNoSoft, Wong - Kevin Kin
Foon (Nhật) với Tiến đến hệ bàn phím Hán Nôm đa năng: Thử bàn về khả năng sử dụng
phương pháp 4 góc, Furuya Tokio - Yatagai Tsuneo - Sachihiro (Mojikyo) với Thế giới chữ
Nôm và Viện Văn tự kính, Chu Tuyết Lan với Số hóa để bảo quản và khai thác di sản Hán
Nôm Việt Nam: thách thức và triển vọng. Trong hội thảo năm 2006, một số bài báo cáo
trình bày về công nghệ thông tin với chữ Hán Nôm như: Đưa chữ Hán - Nôm vào thiết bị
cầm tay của Phan Anh Dũng - Dương Văn Việt - Hoàng Thị Ngọc Dung (Trung tâm Công
nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên - Huế), Xây dựng cơ sở tri thức chữ nhiều bậc đệ qui và
kho thành tố cơ bản của chữ Nôm của Ngô Thanh Giang - Tô Trọng Đức (Nhóm Nôm Na -
Hà Nội), Phần mềm chuyển đổi lịch Việt Nam và Trung Quốc - một công cụ tiện lợi cho việc
nghiên cứu chữ Nôm của Lê Thành Lân (Viện Công nghệ thông tin) - Nguyễn Gia Đăng
(Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Ba vấn đề số hóa văn bản học của Đại Việt sử kí
toàn thư của Ngô Thanh Nhàn (Đại học New York) - Ngô Trung Việt (Viện Công nghệ
thông tin), Phương hướng mới cho tự điển chữ Nôm của Nguyễn Hữu Vinh (Industrial
Technology Research Institute, Hsin Chu, Taiwan)
Về lĩnh vực làm phần mềm ứng dụng CNTT cho Hán Nôm ban đầu xuất phát từ sự
phổ biến phần mềm gõ chữ Hán Song Kiều (TwinBridge), nhiều người đã vận dụng khả
năng vẽ thêm font mới của nó để tạo chữ Nôm và khả năng tạo Thâu nhập pháp (IME) tự
định nghĩa của Song Kiều để tạo các bộ gõ chữ Hán theo âm Hán Việt, và phát triển thành
việc chế bản sách chữ Nôm. Sau đó đã phát triển các phần mềm hoàn chỉnh hơn, ngoài

Gõ chữ Việt ra chữ Hán, tích hợp chạy trên nền chương trình Twin-Bridge (Song Kiều)
4.x/5.0 hay CPNT 2.0. Các phiên bản Twin-Bridge có thể cài đặt trên Traditional Chinese
Windows (phồn thể), Simplified Chinese Windows (giản thể) hoặc Windows tiếng Anh
LQN Thâu nhập pháp 3.0 (nâng cấp từ LQN Thâu nhập pháp 2.0) được chia làm 2 phần:
Univers 1 dùng để gõ theo cách đánh Telex, Univers 2 dùng để gõ theo cách đánh VNI.
(Dẫn theo )
Đồng thời ông xuất bản cuốn sách Vi tính chữ Hán dành cho người Việt nhằm hướng
dẫn cách sử dụng phần mềm này.
Bắt đầu từ năm 2000, Tống Phước Khải đã thiết kế xây dựng phần mềm Hanokey
1.0, đến năm 2003 hoàn thành phần mềm Hannokey 2.0. Hai phần mềm này chủ yếu dùng
để gõ chữ Hán và một ít chữ Nôm (Hanokey 2.0). Trong khoảng thời gian này, ông còn
thiết kế phần mềm Hano Converter 1.0:
Giúp thực hiện các chuyển đổi trên văn bản Hán: Từ văn bản Hán phồn thể sang văn
bản âm Hán Việt. Từ văn bản Hán giản thể sang văn bản âm Hán Việt. Từ văn bản Hán
phồn thể sang văn bản Hán giản thể. Từ văn bản giản thể sang văn bản Hán phồn thể.
(Dẫn theo )
Năm 2004, ông tiếp tục thành công với phần mềm Hanosoft Tool.
Hanosoft Tool là bộ phần mềm tổng hợp các công cụ tiện ích Hán-Nôm, dành cho
những người học tập và nghiên cứu chữ Hán theo cách phát âm của các ngôn ngữ Việt
Nam, Trung Quốc (phổ thông), Hàn Quốc (Hanja) và Nhật Bản (Kanji). Phần mềm này nối
tiếp các phiên bản đã được phổ biến trước đây. Ngoài ra, ông còn thiết kế phần mềm Từ
điển Hán-Việt Việt-Hán 1.0, cung cấp cho người sử dụng nhiều cách khác nhau để tra chữ
Hán như: Tra theo bộ thủ. Tra theo tổng số nét bút. Tra trực tiếp trên văn bản Word hoặc
Website.
(Dẫn theo )
Từ năm 2002, Phan Anh Dũng đã thiết kế phần mềm Việt Hán Nôm 2002, ban đầu là phần
mềm Việt Hán Nôm 2002 phiên bản 1.0, sau nâng cấp thành phiên bản 1.1, 1.2 và hiện
nay là phiên bản 2.0. Công dụng của phần mềm này như sau:
1. Hỗ trợ nhập chữ Hán và chữ Nôm vào văn bản, trước mắt cung cấp hai font Unicode
chữ Nôm cơ bản (bao gồm cả chữ Hán) là chữ Nôm Minh và chữ Nôm Khải, tạm đủ để chế

với so với những nét chữ nguệch ngoạc cẩu thả trên các bản viết tay. Ban đầu có bộ font
DynaLab của Đài Loan và font Moyikio của Nhật vẽ giúp Việt Nam, về sau có bộ font
HanNom 3.1 A&B của Chân Nguyên Đỗ Quốc Bảo và các ni sư ở Thiền viện Viên Chiếu,
font Chu Nom Khai & Chu Nom Minh của nhóm Phan Anh Dũng và gần đây là font Nomna
Tong của nhóm Nôm Na.
Tiểu kết: Hán Nôm hiện được thế giới xem là di sản quí báu, được nhiều nhà nghiên cứu
của các quốc gia quan tâm. Trên hơn 10 năm nay, ở trong nước cũng như ngoài nước, có
nhiều nhà công nghệ thông tin liên tục xây dựng, thiết kế những phần mềm về lĩnh vực
Hán Nôm, nhằm phục vụ cho việc bảo tồn và khai thác di sản Hán Nôm. Tùy ở từng mức
độ và nội dung công việc khác nhau mà người ta ứng dụng công nghệ thông tin khác
nhau, hình thức ứng dụng khác nhau. Nhưng nhìn chung, hiện nay chúng ta ứng dụng
công nghệ thông tin về lĩnh vực Hán Nôm chủ yếu ở việc dạy-học và nghiên cứu Hán Nôm
(bao gồm cả lưu trữ tài liệu, xử lí tài liệu và công bố tài liệu).
III. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy-học và nghiên cứu môn Hán Nôm
III.1. Giới thiệu sơ lược một số khái niệm kỹ thuật cơ sở
III.1.1 Thâu nhập pháp
Tiếng Anh là Input Method Editor viết tắt IME có thể gọi nôm na là “bộ gõ”, đây là phần cơ
bản nhất của tất cả các ứng dụng CNTT đa ngữ chứ không chỉ trong Hán Nôm. Bộ gõ cho
chữ Hán-Nôm phức tạp hơn bộ gõ tiếng Việt nhiều, bộ gõ tiếng Việt phức tạp phần lớn chỉ
do từ xưa Việt Nam chưa có ý thức chuẩn hóa, đưa ra quá nhiều bộ mã font và nhiều kiểu
gõ vô ích, trong khi tính phức tạp của chữ Hán - Nôm lại là đặc trưng vốn có của các hệ
thống chữ viết tượng hình. Chữ Việt kể cả chữ viết hoa, có thể bỏ lọt vào bảng mã ASCII
256 kí tự (có chiếm mất một số kí tự điều khiển) trong khi chữ Hán-Nôm có tới hàng vạn
ký tự, ngay cả các nhà chuyên môn Hán Nôm cũng không thể nhớ hết tự dạng, âm đọc
của chúng chứ chưa nói tới ý nghĩa, việc nhập chúng vào văn bản quả là nhiệm vụ phức
tạp đối với những người mới học. Đây cũng là những bài học đầu tiên, mục tiêu đầu tiên
mà đề tài này muốn truyền đạt tới người học.
Các thâu nhập pháp đều có phần cốt lõi là một tự điển ghi lại các đặc trưng của chữ như
âm đọc (các IME gõ theo âm), bộ thủ và số nét (IME gõ bút hoạch), mã Thương Hiệt (IME
Thương Hiệt), hay mã tứ giác, và nhiều kiểu mã khác… Gõ chữ theo một IME nào đó

Mặc dù số lượng chữ Nôm đưa vào Unicode đã khá nhiều, nhưng vẫn còn nhiều chữ “lạ”
hay chữ địa phương chưa có trong các font Unicode Nôm, nên vấn đề vẽ thêm chữ khi cần
để đưa vào văn bản cũng là một nhiệm vụ quan trọng với nhà nghiên cứu chuyên sâu.
Thông thường nhất là dùng công cụ vẽ Font của phần mềm Song Kiều vẽ và chuyển thành
hình Meta File (*.WMF) chèn vào văn bản, ngoài ra có các phần mềm vẽ trên font TTF
Unicode nhưng vượt khỏi giới hạn nghiên cứu của công trình này.
Về các font chữ Nôm hiện phổ biến hiện nay đã liệt kê ở cuối chương I, còn font chữ Hán
thì có rất nhiều, giáo viên cần hướng dẫn người học lựa chọn cài các font chữ cơ bản tùy
theo công việc là học tập, nghiên cứu hay chế bản sách, tránh làm nặng máy.
III.1.3. Các công cụ bổ sung
- Quan trọng nhất phải kể tới các phần mềm từ điển, có IME và Font chữ rồi cũng phải có
từ điển tra cứu thì mới có thể đánh đúng chữ thích hợp vào văn bản, nhất là với các bộ gõ
theo âm vốn có rất nhiều chữ đồng âm. Vì vậy các phần mềm gõ chữ Hán Nôm thường đi
kèm theo từ điển tra cứu, như Song Kiều, Hanosoft, Viet Han Nom… Trong đó Viet Han
Nom có lẽ có ưu thế hơn cả vì kết hợp IME với từ điển nên tra được nghĩa ngay khi đang
đánh chữ.
- Tiện ích tu sửa lại từ điển thâu nhập pháp: rất cần nhất là với chữ Nôm để đưa vào các
chữ mới, âm đọc mới, đặc biệt các chữ Nôm do người dùng vẽ thêm nếu không có chức
năng này thì rất khó lấy ra dùng.
- Các tiện ích chuyển mã văn bản cũng là phần thường có trong các phần mềm hỗ trợ Hán
- Nôm.
- Công cụ vẽ font để thêm chữ mới thì phức tạp hơn IME và từ điển, đó thường là một
chương trình khá lớn, chạy riêng, và thường chỉ có trong các bộ phần mềm lớn.
- Công cụ tra chữ trên màn hình kiểu Click’n see : các bộ từ điển của Trung Quốc như Kim
Sơn từ bá đều có, bộ Việt Hán Nôm mới cũng đã có (nhưng chưa được công bố).
- Công cụ phiên dịch: công cụ phiên âm Hán Việt rất có ích vì người mới học hay “hoảng”
khi nhìn thấy những con chữ rậm rạp nhiều nét, trong khi với máy tính thì nó cũng chỉ là
một kí tự bình thường, có mã số xác định, nên có thể nhận dạng và phiên âm khá dễ dàng.
Việc dịch nghĩa thì khó hơn, hiện chưa thấy nơi nào làm, chủ yếu vì chưa có nhu cầu bức
thiết, chứ cũng không khó hơn bộ dịch Anh-Việt đã có (EVTran2.0).

III.3. Ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu môn Hán Nôm
Trong lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm, người làm nhiệm vụ nghiên cứu cần nhất là dữ liệu,
tài liệu Hán Nôm gốc, cơ sở tài liệu ban đầu. Ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiên
cứu môn Hán Nôm là chủ yếu ở việc xây dựng kho tư liệu điện tử môn Hán Nôm. Do vậy,
trong phần này chúng tôi tập trung đi sâu trình bày vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin
vào việc xây dựng kho tư liệu điện tử môn Hán Nôm. Song, có nhiều chỗ chúng tôi vẫn
trình bày xen lẫn với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy-học môn Hán Nôm, bởi
vì giữa dạy-học và nghiên cứu có mối quan hệ thống nhất và biện chứng với nhau.
III.3.1. Lí do xây dựng kho tư liệu điện tử môn Hán Nôm
Theo chúng tôi nghĩ, người dạy môn Hán Nôm cần phải xây dựng kho tư liệu điện tử môn
Hán Nôm với hai lí do sau:
Thứ nhất, việc xây dựng kho tư liệu là một việc rất quan trọng đối với tất cả mọi người, vì
đó là “bột” để chúng ta gột nên “hồ”, là cái “cũ” mà chúng ta cần nắm rõ để có cơ sở biết
cái “mới” (ôn cố nhi tri tân - Khổng Tử). Ví dụ ở Việt Nam chúng ta có nhà bác học như Lê
Quí Đôn, ông thường ghi chép lại những thông tin trên một phiếu nhỏ, tập hợp lại cất vào
trong túi gấm, khi cần có thể lấy ra sử dụng, nhờ vậy mà ông đã nghiên cứu và trước tác
được rất nhiều tài liệu có giá trị8.
Trước đây, chúng ta cũng có thói quen lập phiếu tư liệu bằng giấy như vậy, nhưng việc lưu
trữ thường không tiện hoặc khi cần tra lại thông tin mà chúng ta đã lưu trữ, thì thường tốn
rất nhiều thời gian. Ngược lại, hiện nay, chúng ta ngoài cách lập phiếu tư liệu bằng giấy ra,
còn có thể ứng dụng các phần mềm vi tính để xây dựng kho tư liệu điện tử cá nhân, sử
dụng nhanh chóng và thuận tiện.
Thứ hai, như trên đã trình bày, khối lượng chương trình môn Hán Nôm ở đại học, chương
trình môn văn học trung đại và nội dung giảng dạy từ Hán Việt ở trường phổ thông hiện
nay được tăng lên rất nhiều. Do vậy đòi hỏi giảng viên phải trang bị cho sinh viên chuyên
ngành Ngữ văn nhiều tri thức về Hán Nôm. Mà việc truyền thụ nhiều tri thức Hán Nôm ấy
yêu cầu người dạy phải có một “kho” Hán Nôm phong phú. Vì vậy, xây dựng một “kho” tư
liệu điện tử môn Hán Nôm là hết sức cần thiết.
III.3.2. Một số phương pháp xây dựng kho tư liệu điện tử môn Hán Nôm
III.3.2.1. Lưu trữ và cài đặt các phần mềm Hán Nôm có sẵn

Ví dụ 1: Khi chuẩn bị giáo án để giảng dạy bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, chúng ta cần
phải chuẩn bị nội dung giáo án là giảng giải từng từ có trong bài thơ này. Như từ “hoành”
(横) trong câu “Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu” (横 槊 江 山 恰 幾 秋), chúng ta muốn
giảng kĩ và sâu từ này thì cần phải sử dụng nhiều ví dụ dẫn chứng (đặc biệt là trường hợp
hình dung từ chuyển sang làm động từ). Khi đó chúng ta dùng lệnh Ctrl+F (nếu biết chính
xác địa chỉ file chứa văn bản Hán Nôm), hoặc lệnh Search trong Window (nếu không nhớ kĩ
file chứa văn bản Hán Nôm) để tìm từ này. Trước hết chúng ta phải giảng từ đó là tính từ,
có nghĩa là “ngang”, trái nghĩa với từ “tung” (dọc) trong những từ (ngữ) hoặc câu sau: trục
hoành (trong toán học), hợp tung liên hoành (kế sách thời Chiến Quốc), tung hoành trời
đất, “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” (橫 山 一 帶 萬 代 容 身 - Một dãy Hoành sơn
có thể xây dựng cơ đồ cho muôn đời), sau đó chúng ta giảng từ này được sử dụng với
nghĩa động từ là “cầm ngang” như trong những câu sau: “Hoành qua đương hổ dị/ Đối
diện bà vương nan” (横 戈 當 虎 易 / 對 面 婆 王 難 - Cầm ngang ngọn giáo chống cọp dễ,
đối mặt với vua Bà khó), “Ỷ lan hoành ngọc địch” (倚欄橫玉笛 - Đăng Bảo Đài sơn - Trần
Nhân Tông), “Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn” (影橫水面冰初泮 - Tảo mai - Trần Nhân
Tông), “Tam thập tiên cung hoành dạ tháp” 三十仙宮橫夜榻 (Thiên Trường phủ - Trần
Nhân Tông) Hoặc từ “giang sơn” (江 山 - sông núi), chúng ta có thể trích dẫn thêm từ
câu “Vạn cổ thử giang san” (萬 古 此 江 山 - Muôn đời nước non này) trong bài Tụng giá
hoàn kinh sư của Trần Quang Khải.
Ví dụ 2: Khi giảng dạy câu thơ “Mục đồng xuy địch dẫn ngưu qui” (牧 童 吹 笛 引 牛 歸 -
Mục đồng thổi sáo dắt trâu về) trong bài thơ Hoàng hôn của Hồ Chí Minh. Chúng ta nhớ là
chủ tịch Hồ Chí Minh mượn hình ảnh này từ một bài thơ nào đó, nhưng lại không nhớ rõ là
bài thơ nào, chúng ta có thể dùng lệnh tìm trong kho tư liệu cá nhân, có thể sẽ tìm được
câu thơ sau “Mục đồng địch lý qui ngưu tận, bạch lộ song song phi hạ điền” ( 牧 童 笛 裏
歸 牛 盡,白 鷺 雙 雙 飛 下 田 - Trong tiếng sáo mục đồng lùa trâu về hết, từng đôi cò
trắng bay xuống đồng) trong bài thơ Thiên trường vãn vọng của Lý Nhân Tông. Tương tự
như vậy, chúng ta có thể biết được Nguyễn Du mượn câu thơ “Đào hoa y cựu tiếu đông
phong” từ trong bài thơ Đường Đề đô thành nam trang của Thôi Hộ để sáng tác câu Kiều
“Hoa đào năm ngoái, còn cười gió đông”.
Ví dụ 3: Khi cần trích dẫn, hoặc in ấn, hoặc trình chiếu nguyên tác một đoạn của một tác

4. v.v
Như vậy, khi muốn tìm hiểu về Trần Nguyên Đán, chúng ta tra mục từ “Trần Nguyên Đán”
này, sẽ có một loạt địa chỉ tài liệu viết về Trần Nguyên Đán, lần theo những địa chỉ tài liệu
đó chúng ta sẽ có điều kiện nghiên cứu sâu hơn về nhân vật này.
Ví dụ 2: Tương tự như trên, chúng ta xây dựng mục từ “Thuật hoài” với những địa chỉ tài
liệu sau:
1. Phan Văn Các (chủ biên), Giáo trình Hán Nôm, Nxb Giáo dục, 1984, trang 196;
2. Phan Hữu Nghệ, Phân tích văn bản một số tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu, Nxb
ĐHSP, 2002, trang 174;
3. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Thơ văn Lí Trần, Nxb KHXH, 1989, trang 562;
4. v.v
Ví dụ 3: Nhập địa chỉ tài liệu của các điểm ngữ pháp. Tương tự như những mục từ trên,
nếu có điều kiện, chúng ta cũng nên nhập địa chỉ tài liệu của các điểm ngữ pháp từ những
tài liệu khác nhau, như vậy chúng ta sẽ có một thư mục ngữ pháp rất quan trọng. Ví dụ về
điểm ngữ pháp của chữ “Chi” 之, ta có những thư mục sau:
1. Phạm Tất Đắc, Văn pháp chữ Hán, Nxb KHXH, H., 1996, trang 117, 290, 755;
2. Trần Thước, Từ điển hư tự, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2004, trang 21;
3. Từ Tông Tài, Cổ đại Hán ngữ khóa bản, Nxb Đại học Ngôn ngữ văn hóa Bắc
Kinh, Trung Quốc, 2000, trang 6;
Khi gặp chữ “chi” ở một văn bản nào đó mà ta không biết nghĩa và chức năng ngữ pháp
của nó trong hoàn cảnh văn bản đấy, hoặc muốn tìm hiểu về đặc điểm ngữ pháp của nó,
chúng ta có thể dùng lệnh tìm đến chữ đó và tìm ra địa chỉ tài liệu của nó.
III.3.2.5. Tìm kiếm và sử dụng tài liệu Hán Nôm từ nguồn khác
- Truy cập những trang Web có liên quan đến Hán Nôm. Ví
dụ: http:// www.viethoc.org, foundation, www.huesoft.com.vn, www.hanos
oft.com, www.guoxue.com,, v.v ;
- Các sách điện tử như: Từ điển bách khoa toàn thư Trung Quốc, Từ điển thư pháp, Thơ
Đường, Tứ thư Ngũ kinh ;
- Các phần mềm từ điển Hán Nôm từ phần mềm Hán Nôm của Phan Anh Dũng, Tống
Phước Khải ;

và Đào tạo qui định tất cả các khối ngành khoa học xã hội và nhân văn ở bậc đại học bắt
buộc phải học một số đơn vị học trình Hán Nôm nhất định, nội dung chương trình khối phổ
thông được tăng cường phần văn học cổ trung đại và từ Hán Việt; ngoài ra, trong xã hội
còn có nhiều ý kiến đề nghị đưa môn Hán Nôm vào chương trình giáo dục ở trường phổ
thông. Những vấn đề này yêu cầu những người làm công tác Hán Nôm phải tìm ra các giải
pháp nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Một trong số các giải pháp đó là ứng dụng công
nghệ thông tin.
Ngày nay công nghệ thông tin dường như hiện diện và ảnh hưởng đến tất cả mọi lĩnh vực
trong đời sống của con người. Công nghệ thông tin đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống, tạo
nên một cuộc sống mới - “cuộc sống số”. Trong suy nghĩ của nhiều người, hai lĩnh vực
công nghệ thông tin và Hán Nôm có vẻ như trái ngược nhau, không liên quan gì với nhau,
bởi vì công nghệ thông tin mang tính chất hiện đại, còn Hán Nôm mang tính chất cổ xưa.
Nhưng trên thực tế, hai lĩnh vực này lại có mối quan hệ gắn bó khắng khít, bổ sung và hỗ
trợ với nhau. Công nghệ thông tin vừa là phương tiện vừa là phương pháp giúp cho việc
bảo tồn, gìn giữ và khai thác di sản Hán Nôm có hiệu quả; ngược lại, Hán Nôm là nền tảng
đóng góp xây dựng ý tưởng phát triển công nghệ thông tin.
Trong tình hình giáo dục của thế giới hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy
học và nghiên cứu khoa học là một xu thế tất yếu khách quan. Đối với lĩnh vực Hán Nôm
cũng vậy, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy-học và nghiên cứu môn Hán Nôm là phù
hợp với qui luật phát triển chung của xã hội. Trong thời gian khoảng trên dưới 15 năm nay,
các chuyên gia, nhà nghiên cứu ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới luôn không
ngừng thiết kế, xây dựng, phát triển công nghệ thông tin về lĩnh vực Hán Nôm nhằm bảo
tồn và phát huy giá trị tinh hoa của di sản văn hóa cổ của toàn nhân loại nói chung và của
dân tộc Việt Nam nói riêng. Nhìn chung, ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực Hán
Nôm đã mang lại nhiều kết quả khả quan.
Nói tóm lại, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy-học và nghiên cứu môn
Hán Nôm là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa và cần phải được thực hiện nhanh chóng
trong giai đoạn hiện nay. Mỗi một người dạy-học nên ý thức được tác dụng và ứng dụng
tốt công nghệ thông tin phục vụ dạy-học và nghiên cứu. Chỉ có như vậy chúng ta mới có
thể thực hiện tốt mục tiêu giáo dục bậc đại học với hiệu quả cao nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status