ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
HỌC PHẦN: ỨNG DỤNG CNTT VÀO DẠY HỌC
ĐỒ ÁN LÝ THUYẾT
NỘI DUNG TỰ NGHIÊN CỨU
Người hướng dẫn: ThS. Lê Đức Long
Sinh viên thực hiện:
Trần Anh Thy - Đinh Thị Phương Thảo
Lớp: Nghiệp vụ sư phạm K02 – 2013
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHỆ VÀ VẤN ĐỀ DẠY HỌC Ở TK21
Câu 1 - Những tiêu chuẩn về công nghệ đối với giáo viên và học sinh:
a/ Đối với giáo viên:
Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Quốc tế về Giáo dục công nghệ (ISTE = International Society for Technology
Educators) có sáu tiêu chuẩn dành cho giáo viên như sau:
• Khả năng hiểu biết và sử dụng công nghệ: giáo viên có trình độ căn bản về công nghệ và có
khả năng học hỏi từ những cải tiến vá ứng dụng mới trong công nghệ.
• Khả năng lên kế hoạch và thiết kế môi trường học tập: khả năng thiết kế bài giảng, tận dụng tốt
môi trường học tập đã được trang bị công nghệ của giáo viên.
• Việc dạy và học, giáo trình: khả năng sáng tạo môi trường học tập có hiệu quả và tạo điều kiện
cho học sinh có những trải nghiệm với sự hỗ trợ của công nghệ.
• Khả năng đánh giá: giáo viên ứng dụng công nghệ vào việc đánh giá học sinh.
• Khả năng chuyên nghiệp và tạo hiệu quả cao: khả năng giáo viên có thể ứng dụng công nghệ
vào các công việc chuyên môn cũng như trong việc trao đổi với đồng nghiệp, học sinh và cộng
đồng.
• Vấn đề con người, luật pháp, đạo đức và xã hội: khả năng liên kết các vấn đề con người, luật
pháp, đạo đức, xã hội với công nghệ trong trường học.
- Bên cạnh đó, giáo viên cần phải kết hợp tốt nội dung bài giảng với việc ứng dụng công nghệ, đưa
ra các bài tập phù hợp để học sinh có cơ hội vận dụng tốt kiến thức đã học và ứng dụng công
nghệ vào giải quyết vấn đề. Liên hệ thực tế qua việc làm các clip, video để học sinh xem và mở
Cũng theo tổ chức trên, có sáu tiêu chuẩn về công nghệ dành cho học sinh:
• Khả năng hiểu biết và sử dụng công nghệ: có thể thể hiện khả năng thành thạo trong việc sử
dụng công nghệ.
• Các vấn đề về con người, đạo đức và xã hội: khả năng liên kết các vấn đề con người, luật pháp,
đạo đức, xã hội với công nghệ trong trường học.
• Các công cụ công nghệ có hiệu quả: khả năng ứng dụng công nghệ của học sinh trong việc thu
thập thông tin tạo ra sản phẩm liên quan các môn học ở trường.
• Kỹ năng giao tiếp bằng công nghệ: có khả năng giao tiếp, liên lạc với mọi người bằng công
nghệ.
• Kỹ năng tra cứu bằng công nghệ: khả năng dùng công nghệ trong việc nghiên cứu, tra cứu.
• Kỹ năng đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề bằng công nghệ: khả năng ứng dụng công nghệ
trong giải quyết các vấn đề thực tế và khó.
- Tuy nhiên, những tiêu chuẩn trên chỉ mang tính tương đối. Mỗi trường, mỗi địa phương có bổ
sung thêm những tiêu chuẩn riêng, và hiện nay có nhiều trường đã đưa công nghệ vào các kỳ thi
kiểm tra đầu vào.
- Môn công nghệ là một môn học cần thiết, nhất là trong việc hỗ trợ giáo viên và học sinh trong
việc dạy và học. Song, giáo viên cũng nên cân nhắc trình độ của học sinh để đưa ra chương trình
phù hợp và giao bài tập thích hợp.
Câu 2 - ICT được ứng dụng như thế nào trong việc hỗ trợ người học với các nhu cầu giáo dục
trên lớp:
- Người giáo viên đóng vai trò như một người hướng dẫn và máy tính đóng vai trò như một công cụ
hỗ trợ. (Jamie McKenzie)
- Trong quá khứ, máy tính giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng cơ bản với phần mềm “drill and kill”
trên máy tính, từ đó người ta nhận thấy tiềm năng của nó trong việc cải tiến vấn đề giáo dục học
đường.
- CNTT hỗ trợ người giáo viên tăng thêm lượng thông tin đến người học và khuyến khích người học
sử dụng tốt kỹ năng tư duy ở cấp độ cao.
- Ngày nay, trong lớp học hiện đại đều đã được trang bị đầy đủ máy tính, thiết bị công nghệ để phục
vụ cho việc giảng dạy và phát triển toàn diện các kỹ năng cho học sinh.
- Theo một báo cáo nghiên cứu về truyền thông và công nghệ, Thomas Reeves đã chỉ ra sự khác biệt
so sánh các dữ liệu đó.
- Khi giáo viên muốn học sinh ứng dụng công nghệ vào bài tập của họ thì việc dạy họ làm sao để sử
dụng tốt chương trình hay phần mêm máy tính đó vẫn chưa đủ, mà giáo viên cần phải cân nhắc đến
việc từ những chương trình đó học sinh có thể làm được những gì và học sẽ ứng dụng ra sao. Muốn
thế giáo viên cần phải đặt ra vấn đề cho học sinh giải quyết và tạo điều kiện cho họ khai thác các
ứng dụng đó. Chẳng hạn như giáo viên đưa ra một bài tập nhóm đề tài về ô nhiễm môi trường và yêu
cầu học sinh làm một bài báo cáo về đề tài đó. Như vậy học sinh sẽ phải dùng đến Internet để tra cứu
thông tin, rồi dùng chương trình Word để viết báo cáo, dùng Excel để thống kê các số liệu và dùng
chương trình vẽ để vẽ các biểu đồ so sánh, đối chiếu dữ liệu, v.v
- Khi dạy học sinh các chương trình về công nghệ, giáo viên nên kết hợp các chương trình đó với nội
dung bài học, không nên chỉ dạy riêng các kỹ năng về máy tính thôi. Ví dụ như khi dạy về
Powerpoint thì giáo viên giao cho học sinh một bài tập nhóm thuyết trình về một chủ đề nào đó và
yêu cầu học sinh phải thuyết trình bằng cách trình chiếu Powerpoint, nhóm nào sử dụng tốt các tính
năng và các hiệu ứng của Powerpoint sẽ điểm cao, như thế sẽ khuyến khích học sinh khai thác tối đa
các tính năng của chương trình đó.
- Tuy nhiên, với một thời khóa biểu dày đặc thì liệu học sinh sẽ trau dồi thêm công nghệ vào lúc nào?
Hiện nay, ở các trường đã đưa công nghệ vào chương trình học nhưng một số trường vẫn chưa. Cho
nên, việc giáo viên khéo léo lồng công nghệ vào các bài tập của học sinh là cần thiết.
- Theo như trong một quyển sách của Balser xuất bản năm 2001 đã đưa ra một số gợi ý để học sinh có
thể ứng dụng công nghệ vào các môn học như sau:
o Môn Toán:
• Dùng chương trình bảng tính để tính toán các công thức toán, trình bày các dạng công thức.
• Dùng chương trình đồ thị để thể hiện các chức năng và mối liên hệ giữa đại số và lượng giác.
• Dùng email để tạo mối liên kết với bạn bè trong việc trao đổi bài học.
o Môn Khoa học:
• Dùng chương trình văn bản để tranh luận và đối chiếu tính chính xác của các bài báo khoa
học trên mạng.
• Dùng chương trình bảng tính trong việc trình bày các dữ liệu đã thu thập được.
• Dùng video để trình chiếu các hình ảnh dưới kính hiển vi.
• Dùng các phần mềm mô phỏng có liên quan đến nội dung cần trình bày.
Bài luận, thơ văn, báo cáo của
học sinh: tờ rơi, thư từ, bản tin,
…
Spreadsheet (bảng tính điện tử)
Ví dụ: Microsoft Excel
Điền thông tin, số liệu vào
bảng theo cột và dòng, cho
phép tính toán nhanh chóng, dễ
dàng.
Ngân sách, bảng điểm, các
bảng tính liên quan.
Database
Ví dụ: File Maker Pro
Sắp xếp và lưu trữ thông tin,
cho phép phục hồi và tìm thấy
các tài liệu dễ dàng.
Dữ liệu từ các cuộc khảo sát,
văn thư lưu trữ, thông tin của
học sinh.
- Các phần mềm này có thể được sử dụng trong khá nhiều các lĩnh vực, đặc biệt là trong học
đường và các công việc văn phòng, những công việc đòi hỏi phải làm việc nhiều với văn bản
viết và thu thập dữ liệu: lập kế hoạch giảng dạy (soạn giáo án, soạn tài liệu hỗ trợ, ), theo dõi
tiến trình học tập của học sinh (thống kê, lập bảng điểm, ), quản lý hồ sơ (thông tin của học
sinh),…
3.1.1. Word Processing:
- Tiết kiệm thời gian: tạo tài liệu mới từ việc chỉnh sửa tài liệu cũ.
- Gia tăng việc trình bày văn bản: tài liệu được tạo ra trông bóng bẩy và chuyên nghiệp hơn.
- Cho phép chia sẻ các văn bản: học sinh có thể chia sẻ ý tưởng và các sản phẩm lẫn nhau, giáo
viên có thể trao đổi kế hoạch bài giảng.
- Cho phép sự cộng tác trên các văn bản: có thể tạo và chỉnh sửa tài liệu đồng bộ nhờ phần
2. Tạo webquest để hướng dẫn học sinh
sử dụng tài nguyên trên Internet.
- Tạo cơ sở dữ liệu để hỗ trợ việc học
tập và nghiên cứu.
Ví dụ: học sinh có thể sử dụng cơ sở dữ liệu
để lưu và lọc ra thông tin cần thiết trong cơ
sở dữ liệu phức tạp.
3.2. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng các phần mềm công cụ cơ bản:
3.2.1. Word Processing:
3.2.1.1. Thuận lợi:
- Tạo mới tài liệu văn bản.
- Chỉnh sửa tài liệu văn bản đã có.
- Có thể nhân bản tài liệu.
- Có thể chia sẻ tài liệu.
- Định dạng tài liệu.
- Đồng bộ tài liệu.
- Tính toán (các hàm tính toán).
- Quản lý tài liệu.
3.2.1.2. Khó khăn:
- Mặc dù nó có tính đồng bộ nhưng khi ở trên các máy tính khác nhau sử dụng các phiên
bản phần mềm khác nhau thì việc mở tài liệu cũng sẽ gặp khó khăn.
- Chức năng bị hạn chế khi người dùng không có nhiều kiến thức về Internet vì phần
mềm này chủ yếu dựa trên kết nối Internet và trợ giúp online.
- Mặc dù phần mềm này phục vụ chủ yếu cho việc đánh văn bản nhưng để thông thạo hết
các tính năng khác của nó thì không dễ dàng.
- Nó không thể tự lưu văn bản thường xuyên và khi máy tính xảy ra sự cố thì toàn bộ dữ
liệu chưa lưu sẽ bị mất.
[http://www.ehow.com/facts_4926724_disadvantages-using-word-processors.html]
3.2.2. Spreadsheet:
6
thành lập tại Cộng Hòa Liên Bang Đức trong thập niên 1980. Công ty này đã được mua lại
vào năm 1999 bởi đại công ty SUN.
- Ấn bản đầu tiên "Sun" của StarOffice là StarOffice 5.1a, đã được xuất hiện trên thị trường
vào cuối tháng 10 năm 1999 và ấn bản 5.2 (ấn bản miễn phí) đã được phổ biến vào tháng 06
năm 2000.
- Những ấn bản sau đó của StarOffice (bắt đầu từ ấn bản 6.0) đã được biên soạn với những
thư viện nguồn API (Application Programming Interfaces), một tiêu chuẩn căn bản cho các
hồ sơ và hướng dẫn của chương trình OpenOffice đương thời.
- Trong thời gian đầu chương trình OpenOffice.org đã dựa trên các mã nguồn được Sun
Microsystems cho miễn phí, để chuẩn bị cho những ấn bản về sau của StarOffice. Những
nguồn này được viết bằng ngôn ngữ C++ nhưng không chỉ giới hạn ở ngôn ngữ này mà còn
cho phép viết với các ngôn ngữ khác, những đặc tính viết ra được (scriptable), và các thư
viện nguồn API cho JAVA và những ngôn ngữ khác liên quan đến việc soạn thảo phần mềm
điện toán.
- Tất cả những kỹ thuật mới này đã đưa đến những kiến trúc soạn thảo mới, cho phép việc sử
dụng các chương trình ứng dụng văn phòng như những phần mềm rời rạc với những bộ phận
đính kèm. Những đặc tính khác cũng được để ở trong như dạng hồ sơ XML và dĩ nhiên tất cả
những gì cho phép làm việc thẳng với các mã nguồn.
7
- Sun giới thiệu Bạch thư (tiếng Anh - lien dynamique) trình bày những nét đại cương tổng
quát và lộ trình của những kỹ thuật này. Bạn sẽ tìm thấy ở đây lịch sử và thời sự của chương
trình vĩ đại này.
- Ngay cả sự việc Sun Microsystems bảo trợ cho công ty CollabNet về việc kiểm tra đề án
OpenOffice.org, cộng đồng những người sử dụng và những người soạn thảo phần mềm vẫn
là những thành tố quan trọng nhất cho việc lựa chọn và thực hiện đề án OpenOffice.org.
- Trung tâm tiếng Việt Vi.OpenOffice.org được hiện hữu với mong muốn duy nhất là để cung
cấp cho bạn những dụng cụ tiếng Việt mà bạn sẽ cần trong việc sử dụng thật chuẩn phần
mềm ứng dụng văn phòng Vi.OpenOffice.org, cũng như tham gia vào việc biên soạn chương
trình trên. Vì lý do đó, bạn nên đăng ký vào các diễn đàn thường xuyên đăng nhập vào các
diễn đàn đó, để có đóng góp ý kiến, trao đổi dữ kiện hoặc đặt câu hỏi và tìm câu trả lời.
- Chọn đường dẫn sẽ lưu những tập tin cài đặt được giải nén, để mặc định.Chọn Unpack.
9
- Chọn Next.
10
- Tiếp theo là quá trình cài đặt OpenOffice. Chọn I accept the term in the license
agreement. Chọn Next.
11
- Chọn Anyone who uses this computer: mọi người dùng sử dụng máy tính này sẽ dùng được OpenOffice.
- Chọn Only for me: chỉ người dùng hiện tại đang thực hiện cài đặt mới dùng được OpenOffice.
12
- Chọn Next.
- Chọn loại cài đặt và đường dẫn chứa thư mục cài đặt, để mặc định. Chọn Next.
- Chọn loại tập tin mà người dùng muốn OpenOffice là ứng dụng mặc định để mở. Chọn Next.
- Chọn Install để bắt đầu quá trình cài đặt.
13
- Chọn Finish để hoàn tất quá trình cài đặt.
4.1.4.2. OpenOffice.org Writer (chương trình soạn thảo văn bản):
- OpenOffice.org Writer có tính năng tương tự như phần mềm Microsoft Word.
- Chọn Start-Programs-OpenOffice.org 2.0-OpenOffice.org Writer để khởi động chương
trình.
14
- Bảng chào mừng xuất hiện. Chọn Next.
- Kéo nút cuộn (bên phải) xuống dưới cùng và chọn Accept.
15
- Nhập vào họ tên người dùng để thể hiện sở hữu và tác giả khi tài liệu được lưu lại. ChọnNext.
- Người dùng tùy chọn đăng ký để trở thành user của OpenOffice.org. Khi có sự phát triển
nào mới gắn liền với sản phẩm OpenOffice, thì OpenOffice.org sẽ báo cho người dùng.
Minh họa ở đây chọn I want to register later (đăng ký sau).
Chọn Finish.
16
văn bản hoặc toàn bộ văn bản.
o Một số tùy chọn nhanh như chữ đậm, chữ nghiêng, gạch chân cũng được đưa vào thanh công cụ.
o Canh lề văn bản giữ một vai trò quan trọng trong việc trình bày giao diện văn bản. Chức năng
này được điều khiển bởi 4 biểu tượng right-align,centre-align, left-align và justified bên cạnh các biểu
tượng bold, italicsunderline.
o Cuối thanh toolbar là các tùy chọn cho phép người dùng thay đổi màu sắc chữ cũng như màu
nền văn bản.
o Để sử dụng đầy đủ chức năng, chọn Format và chọn các chức năng tương ứng từ thanh thực
đơn.
d) Kiểu văn bản:
Writer hỗ trợ chức năng tương tự gọi là kiểu mẫu và được truy cập thông qua Styles (gõ phím F11 hoặc
click và biểu tượng Styles từ thanh công cụ).
e) Một số chức năng khác:
o Writer tích hợp sẵn công cụ kiểm tra chính tả và được truy cập từ thanh thực đơn
(Tools- Spellchecks). Tùy chọn auto-spellcheck cho phép Writer kiểm tra chính tả trong lúc gõ văn bản, nếu có
lỗi sẽ xuất hiện dấu gạch chân màu đỏ dưới từ đó.
o Để bỏ chức năng kiểm tra chính tả (sẽ không thấy dấu gạch chân màu đỏ): Tool- Options
19
Chọn như minh họa dưới đây và chọn OK.
o Để xem thông tin tài liệu (số từ, số ký tự ), chọn File-Properties-Statistic hoặc Tools-Word
Count.
4.1.4.3. OpenOffice.org Calc (chương trình tính toán):
OpenOffice.org Calc có tính năng tương tự như phần mềm Microsoft Excel.
20
Chọn Start-Programs-OpenOffice.org 2.0-OpenOffice.org Calc để khởi động chương
trình.
Giao diện chính của chương trình tính toán OpenOffice.org Calc.
Calc gồm nhiều hàng (row) và cột (column), sự kết hợp giữa hàng và cột tạo thành ô
(cell). Người dùng có thể nhập văn bản vào ô cũng như thay đổi kích thước nếu văn bản
4.2.1 Xuất xứ:
- Google Docs là một ứng dụng hỗ trợ soạn thảo văn phòng trực tuyến được cung cấp miễn phí
bởi Google. Nó bao gồm ba bộ ứng dụng: soạn thảo văn bảo, soạn thảo bản tính và soạn thảo
trình chiếu. Nó cho phép người dùng tạo ra các tài liệu trực tuyến và cho phép chia sẻ với
người khác cũng như cho phép trình chiếu trực tuyến thời gian thực và tương tác sửa chữa
24
với mọi người. Google Docs đã kết hợp các tính năng của hai dịch vụ Writely và
Spreadsheets thành một sản phẩm vào tháng 10, năm 2006. Sản phẩm trình chiếu, với sự hợp
tác công nghệ thiết kế với Tonic Systems, được phát hành vào ngày 17 tháng 9, năm 2007.
4.2.2. Chức năng:
Google Docs có thể gọi là Office Online. Với những người không dùng mạng internet và
không tiếp xúc với thông tin công nghệ thì cũng khó biết được Google Docs. Và thậm chí cả
những người dùng mạng nhiều cũng không biết được Google Docs Online này. Vậy nó sẽ
giúp bạn những gì và có ích như thế nào? Đó là một câu hỏi rất tuyệt! Và câu trả lời sẽ là:
Google Docs cần thiết cho bạn trong những trường hợp như thế này:
a. Khi bạn online ngoài dịch vụ mạng (hàng net công cộng) với máy tính không cài
sẵn phần mềm Office
b. Khi máy bạn có vấn đề nào đó lỗi Office và bạn không thể cài lại, không thể dùng
Office trên máy
c. Khi bạn vừa cài đặt máy tính và chưa cài Office và cần dùng Office ngay lập tức
d. Một vài lý do khác (có mạng, không có Office)
[http://www.vn-zoom.com/f94/google-docs-office-online-cua-ban-174213.html]
4.2.3. Đặc điểm:
- Tự động lưu nên sẽ tránh được việc mất dữ liệu, lịch sử chỉnh sửa được giữ lại nên có thể
xem những chỉnh sửa trước đó.
- Tài liệu có thể được di chuyển và lưu trữ nhằm mục đích tổ chức, sắp xếp.
- Chỉ được hỗ trợ trên Firefox, Chrome, IE, và Safari chạy trên hệ điều hành Microsoft
Windows, Apple OS X, và Linux.
- Có thẻ mở, chia sẻ, điều chỉnh bởi nhiều người cùng lúc; nhưng trong lúc người này đang
điều chỉnh thì người khác sẽ không bị ảnh hưởng gì khi đang thao tác trên cùng văn bản đó