TRƯỜNG ĐẠI
HỌC
SƯ PHẠM
LỜI
CẢM
ƠN HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-------------------------Trong quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Th.S Lê Thị Lan
Anh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài Xây dựng
hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong phân môn Luyện từ và câu
lớp 5.
THIỀU THỊ HÒA
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Lê Thị Lan Anh, các thầy
(cô) trong khoa Giáo dục Tiểu học cùng toàn thể các thầy (cô) giáo trong
trường Tiểu học Đống Đa – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,
tháng 5 năm
2012
TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN
TRONG
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
LT&C
: Luyện từ và câu
SGK
: Sách giáo khoa
TNKQ
: Trắc nghiệm khách quan
TV
: Tiếng Việt
3
MỤC LỤC
Trang
9
NỘI DUNG
10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
10
1.1. Cơ sở lí luận
10
1.1.1. Một số vấn đề về trắc nghiệm khách quan
10
1.1.2. Một số vấn đề về dạy học Luyện từ và câu môn tiếng Việt 5
22
1.2. Cơ sở thực tiễn
46
1.2.1. Nhận thức của giáo viên về trắc nghiệm khách quan và việc sử
dụng hình thức bài tập trắc nghiệm khách quan
47
55
2.3. Quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan
57
2.4. Hệ thống các bài tập Luyện từ và câu lớp 5
59
2.5. Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan cho một số bài
trong chương trình Luyện từ và câu lớp 5
61
2.6. Hệ thống bài tập mẫu
72
Đáp án
105
KẾT LUẬN
113
Tài liêu tham khảo
115
trang bị cơ sở ban đầu quan trọng nhất của người công dân, lao động. Đó là
đào tạo những con người toàn diện phát triển về cả tri thức và nhân cách.
Ở bậc Tiểu học, cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt là một môn
học trung tâm, quan trọng chiếm nhiều thời lượng và nó có tính tích hợp cao.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm mục tiêu hình thành và phát triển ở
6
học sinh bốn kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và
giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, từ đó góp phần rèn
luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt còn là cơ sở để học những môn
học khác: Toán, Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức,… và giúp các em có điều kiện
để lĩnh hội kiến thức của bài học. Ngoài ra, môn Tiếng Việt là môn học công
cụ nhằm góp phần đào tạo cho học sinh phát triển theo đặc trưng của mình.
Đó chính là tạo cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, để tư
duy. Và cũng thông qua đó giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm trong
sáng, lành mạnh góp phần nhỏ trong việc hình thành những phẩm chất quan
trọng của con người để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra của hệ thống giáo
dục quốc dân.
Có bảy phân môn trong môn Tiếng Việt, đó là: Học vần, Tập viết, Chính
tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện. Đó đều là những phân
môn không thể thiếu trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân
môn Luyện từ và câu.
Phân môn Luyện từ và câu giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp
cho học sinh các kiến thức về từ và câu. Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở
rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh
những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh những kĩ năng dùng từ,
đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình.
Đồng thời giúp cho học sinh hiểu được các câu nói của người khác.
cứu đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong phân
môn luyện từ và câu lớp 5” .
2. Lịch sử vấn đề
a. Trên thế giới
Vấn đề sử dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách
quan từ lâu đã được các nhà giáo dục quan tâm.
8
Vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII, tại châu Âu, các phương pháp trắc
nghiệm và đo lường thành quả học tập đã được chú ý và bắt đầu tiến hành trên
phạm vi rộng rãi. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XVI đã dùng phương pháp này để pháp
hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh. Sang đầu thế kỷ XX.
E.thodaicơ là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm như một phương pháp
khách quan và nhanh chóng để đo trình độ kiến thức của học sinh, bắt đầu
dùng với một số môn học. Ở Liên Xô, phương pháp kiểm tra bằng trắc
nghiệm khách quan cũng được sử dụng từ năm 1926. Bước vào thế kỉ XIX,
trắc nghiệm khách quan trở thành một phương pháp kiểm tra, đánh giá được
sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất, thu hút được sự quan tâm của đông đảo
mọi người.
Hiện nay, trắc nghiệm khách quan đã trở thành một trong những phương
tiện có giá trị trong giáo dục. Ở các nước trên thế giới đã sử dụng phương
pháp này trong các kì kiểm tra, thi tuyển.
b. Ở Việt Nam
Khoa trắc nghiệm tâm lý và giáo dục đã có lịch sử phát triển hơn một thế
kỷ ở các nước tiên tiến trên thế giới nhưng nó còn quá xa lạ đối với các thầy
(cô) giáo Việt Nam ở mọi cấp học.
Ở các trường đại học nước ngoài, môn trắc nghiệm giáo dục đã được
sinh viên làm quen ngay từ khi còn trên giảng đường đại học. Còn ở Việt
sách trắc nghiệm như: Hóa học, Sinh học, Giáo dục học,...
Ở nước ta, vào tháng 7 năm 1996, thí điểm thi tuyển sinh đại học bằng
trắc nghiệm khách quan được tổ chức đầu tiên tại trường Đại học Đà Lạt và
đã đạt được thành công. Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để
làm đề thi sẽ đảm bảo được tính công bằng và độ chính xác trong thi tuyển.
Như vậy, vấn đề sử dụng câu hỏi nói chung và đặc biệt sử dụng câu hỏi
trắc nghiệm khách quan trong dạy học phân môn Luyện từ và câu là một vấn
đề đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều người, nhiều cấp. Những
10
tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được là cơ sở lí luận và là gợi ý có giá trị khi
giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của đề tài, đặc biệt là thiết kế câu hỏi trắc
nghiệm khách quan trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
Trên cơ sở tham khảo những tư liệu có liên quan đến hình thức kiểm tra
trắc nghiệm khách quan, là người tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi
tiếp thu gợi ý của những người đi trước và triển khai đề tài Xây dựng hệ thống
bài tập trắc nghiệm khách quan trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong phân môn
Luyện từ và câu lớp 5 một cách chính xác, hợp lí và nâng cao được chất lượng
học tập của học sinh.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong phân môn
Luyện từ và câu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kiến thức có hạn nên phạm vi nghiên cứu đề tài này chỉ
dừng lại ở việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong phân
1.1.1.1. Khái niệm về trắc nghiệm
* Khái niệm trắc nghiệm
Theo từ điển Tiếng Việt: “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” có nghĩa
là suy xét, chứng thực.
Trắc nghiệm theo Tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”
Lí luận về trắc nghiệm có rất nhiều cách hiểu khác nhau trong đó có một
số cách hiểu sau:
Theo Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức
hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích
của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh
với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”
Theo A. Petropxi (1970) cho rằng: “Trắc nghiệm là bài tập làm trong
thời gian ngắn mà việc thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng,
chất lượng có thể coi là dấu hiệu của sự hoàn thiện một số chức năng tâm lí”.
Cho tới ngày nay người ta vẫn hiểu rằng trắc nghiệm là một bài tập nhỏ
hoặc câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng
ký hiệu đơn giản để quy ước trả lời.
1.1.1.2. Phân loại trắc nghiệm
Trắc nghiệm là một hành động để đo lường năng lực của các đối tượng
nào đó nhằm những mục đích xác định. Trong giáo dục, trắc nghiệm được
tiến hành trong các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với
môn học hoặc trong các kì thi cuối cấp, tuyển sinh.
13
Tuy nhiên theo ý kiến của tác giả Phó Đức Hòa và một số nhà nghiên
cứu khoa học khác thì người ta đi sâu vào nghiên cứu và phân loại câu hỏi
trắc nghiệm thành hai loại: trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận.
Trắc nghiệm khách quan (Objective Test) là bài kiểm tra trong đó nhà sư
Ví dụ 1:
Viết vào chữ Đ trước câu trả lời đúng nghĩa của từ bối rối:
a, Mất bình tĩnh trước một sự việc.
b, Lúng túng, mất bình tĩnh, không biết nên xử trí thế nào.
c, Không nghĩ ra việc gì để làm trước một tình huống.
d, Run sợ trước một việc gì đó.
- Ưu điểm:
+ Dễ sử dụng
+ Có thể ra nhiều câu một lúc vì tốn ít thời gian cho mỗi câu. Nhờ vậy
khả năng bao quát chương trình lớn hơn.
- Hạn chế:
+ Khuyến khích được sự đoán ngẫu nhiên của HS, độ may rủi là 50 %.
+ Thường chỉ dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản, ít kích
thích tư duy, ít khả năng phân biệt trình độ HS.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Câu viết phải ngắn gọn, rõ ràng, câu hỏi phải xếp chính xác là đúng
hay sai.
+ Đặt ra một mệnh đề và yêu cầu người học xác định mệnh đề đó đúng
hay sai, không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, không nên trích nguyên
câu trong SGK, …
b. Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (Multiple choice Items)
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là loại câu thông dụng nhất, còn gọi là câu
đa phương án, loại câu này gồm 2 phần là phần câu dẫn và phần câu lựa chọn:
15
- Phần câu dẫn: Là một câu hỏi hay một câu lơ lửng tạo cơ sở cho sự lựa
chọn.
16
c. Trắc nghiệm điền khuyết (Completion Items)
Những câu hỏi và bài tập dạng này có chứa những chỗ trống để HS điền
những cụm từ này hoặc do HS tự nghĩ ra hay nhớ ra hoặc được cho sẵn trong
những phương án có nhiều lựa chọn.
Ví dụ 3:
Chọn từ thích hợp trong ngoặc để điền vào chỗ trống:
a. Đồng bào miền núi thường trồng lúa trên những thửa ruộng …
b. Những ngày lễ, hội, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thường tập
trung bên … để múa hát.
c. Để tránh thú dữ, người dân tộc thường làm … để ở.
d. Truyện “Hũ bạc của người cha” là truyện cổ của dân tộc ….
(nhà rông, Chăm, nhà sàn, bậc thang)
- Ưu điểm:
+ Dễ sử dụng
+ HS khó có thể đoán mò vì HS phải viết câu trả lời của mình khi trả lời
câu hỏi trắc nghiệm.
+ Giúp HS luyện trí nhớ khi học tập.
- Hạn chế:
+ Thường dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản.
+ Đôi khi khó đánh giá đúng nội dung câu trả lời khi HS viết sai chính tả
hoặc khi câu trắc nghiệm gợi ra nhiều hướng đáp án đúng.
+ GV thường có khuynh hướng chép nguyên văn các câu từ SGK
+ Việc chấm bài mất nhiều thời gian.
+ Tính khách quan kém, có thể chịu tác động bởi yếu tố chủ quan
của GV.
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Không nên để quá nhiều chỗ trống trong mỗi câu, nên bố trí chỗ trống
b. Bay lượn trên cánh đồng.
3) Bộ đội
c. Giúp dân gặt lúa
- Ưu điểm:
Dễ xây dựng câu hỏi và dễ sử dụng, yếu tố may rủi, ngẫu nhiên giảm
dần, hạn chế sự đoán mò.
- Hạn chế:
+ Mất nhiều thời gian cho việc thiết kế loại câu trắc nghiệm này.
+ Thông tin có tính giàn trải, không nhấn mạnh được những điều quan
trọng hơn.
18
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có
liên quan đến nhau, sắp xếp nội dung của hai cột một cách rõ ràng, mang tính
đồng nhất.
+ Thông tin ở hai cột không nên bằng nhau, nên có thông tin dư ở một
cột để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn. Thứ tự của các câu ở hai cột không
khớp với nhau để gây khó khăn trong việc lựa chọn và ghép đôi.
1.1.1.5. Ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan
a. Ưu điểm
- TNKQ cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến
thức cụ thể, đi sâu vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống
khuynh hướng học tủ.
- TNKQ tốn ít thời gian thực hiện (đặc biệt là khâu chấm bài).
- Các bài tập trắc nghiệm chủ yếu rèn trí nhớ máy móc khó phát triển tư
duy và đánh giá được quá trình suy nghĩ dẫn tới kết quả làm bài trắc nghiệm.
Đây là nhược điểm lớn nhất của TNKQ.
Ngày nay, trắc nghiệm đang được sử dụng ngày càng phổ biến. Vì những
nhược điểm nói trên khó có thể khắc phục một cách triệt để nên trắc nghiệm
không phải là phương pháp thay thế phương pháp truyền thống mà cần phải
sử dụng phối hợp một cách hợp lý giữa chúng.
1.1.1.6. Vai trò của trắc nghiệm khách quan trong dạy học
Trắc nghiệm khách quan được dùng trong kiểm tra đánh giá đã mang lại
hiệu quả cao hơn so với các phương pháp kiểm tra đánh giá khác như:
- Kiểm tra được kiến thức trên diện rộng trong khoảng thời gian ngắn.
- Cung cấp cho học sinh kiến thức mới và củng cố kiến thức cơ bản qua
bài kiểm tra.
- Các thông tin phản hồi lại của học sinh nhanh chóng do việc kiểm tra
trên máy vi tính. Sau khi kiểm tra thì sẽ biết được ngay kết quả đạt được.
20
* Khả năng áp dụng của bài trắc nghiệm khách quan
Hiện nay với quan điểm dạy học tích cực thì trắc nghiệm khách quan
được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
- Sử dụng trong khâu học bài mới. GV có thể cho các em làm câu hỏi
trắc nghiệm khách quan, cho học sinh lựa chọn phương án nào là đúng nhất,
phát vấn thêm cho học sinh: Tại sao em lại chọn phương án đó?
- Sử dụng trong việc tự học của học sinh. Học sinh được giao những bài
tập về nhà sau mỗi buổi học nhằm tạo cho các em thói quen học bài theo một
cách mới không còn thụ động như trước nữa, tạo hứng thú cho các em trong
việc tìm kiếm và lĩnh hội kiến thức.
- Sử dụng trong việc kiểm tra - đánh giá. Trắc nghiệm khách quan được
luận đều phụ thuộc vào tính khách quan và độ tin cậy của chúng
c. Những điểm khác nhau giữa các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và
tự luận
Để phân biệt dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và dạng câu hỏi trắc
nghiệm tự luận, ta tìm hiểu bảng so sánh sau:
STT
Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận
Câu hỏi buộc học sinh phải chọn Câu hỏi buộc học sinh tự diễn tả
1
câu trả lời đúng trong những câu trả lời bằng ngôn ngữ của chính
câu có sẵn.
mình.
Số câu hỏi gồm nhiều câu có Số câu hỏi tương đối ít và mang
2
tính chuyên biệt, học sinh chỉ tính tổng quát, học sinh phải trả lời
trả lời bằng câu nhất định.
3
dài dòng.
Câu hỏi dễ soạn thảo song khó
chấm và khó cho điểm chính xác.
Bài trắc nghiệm khách quan Giáo viên chấm bài thường khó
7
giúp giáo viên chấm thẩm định thẩm định được rõ ràng, chính xác,
được mức độ hoàn thành các mức độ hoàn thành các mục tiêu
mục tiêu học tập.
học tập.
Bài trắc nghiệm khách quan dễ Học sinh dễ hướng tới câu trả lời
8
hướng học sinh đến câu trả lời bằng ngôn ngữ hoa mĩ, khó xác
bằng sự phỏng đoán.
định.
Sự phân bố kết quả điểm của Sự phân bố kết quả điểm của học
9
học sinh hầu như hoàn toàn sinh hầu như được kiểm soát phần
được quyết định do số câu trả lớn bởi người chấm thi (ấn định
lời đúng của bài trắc nghiệm.
điểm tối đa hoặc tối thiểu).
Bảng: So sánh câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
viên xây dựng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đó có bài tập trắc nghiệm
khách quan.
1.1.2. Một số vấn đề về dạy học Luyện từ và câu môn Tiếng Việt 5
1.1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
a. Vị trí, ý nghĩa của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
24
Phân môn LT&C là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng ở trường
tiểu học. Ngoài việc xây dựng thành phân môn độc lập, các kiến thức kĩ năng
về từ và câu còn được tích hợp trong các phân môn còn lại trong các phân
môn còn lại của Tiếng Việt và các môn học khác ở trường Tiểu học.
Vị trí quan trọng của phân môn này được qui định bởi tầm quan trọng
của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ.
Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ. Muốn nắm được ngôn
ngữ nào đó đầu tiên phải nắm được vốn từ. Nếu như không làm chủ được vốn
từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để
học tập và giao tiếp. Vì vậy dạy luyện từ cho HS tiểu học là phải làm giàu vốn
từ ngữ cho HS, phải chú trọng số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động
của từ.
Tuy nhiên, từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp.
Muốn giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau con người
phải sử dụng một đơn vị ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu. Vì vậy dạy từ
ngữ cho HS phải gằn liền với dạy câu, dạy các quy tắc kết hợp từ thành câu,
quy tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao …
b. Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở Tiều học
b.1. Mục tiêu
Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu là rèn luyện và phát triển kĩ
năng giao tiếp cho HS tiểu học thông qua việc phát triển vốn từ, rèn luyện kĩ