TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
CHÍNH SÁCH TỀ TỆ CỦA VIỆT NAM
SAU KHI GIA NHẬP WTO
1. Nguyên nhân và thực trạng của chính sách tiền tệ của Việt Nam sau khi gia
nhập WTO
Sau khi gia nhập WTO(ngày 7/11/2006), Nước chúng ta có cơ hội tiến sâu vào
hội nhập và phát triển bình đẳng với các quốc gia trên thế giới. Song việc gia nhập WTO
cũng đặt nước ta đứng trước những thách thức không phải là nhỏ. Tùy thuộc vào chính
sách kinh tế trong từng giai đoạn mà việc điều hành chính sách tiền tệ của nước ta có thể
tạm chia như sau:
1.1 Đầu năm 2007 đến đầu năm 2008
Đầu năm 2007, thời điểm những thuận lợi có được từ việc Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của WTO bắt đầu được phát huy làm cho nền kinh tế hấp thụ một
lượng lớn nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, cùng với sự bùng nổ của thị trường chứng
khoán đã làm cho lượng ngoại tệ trong nước tăng lên. Theo tiến sĩ Nguyễn Khánh Long
– Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường Giá cả cho rằng, yếu tố cơ bản gây
nên lạm phát là “tiền nhiều”. Riêng kiều hối lên đến 5 tỷ USD thậm chí có thể lên đến
7,5 tỷ USD. Theo Giáo sư Kenichi Ohno - chuyên gia Diễn đàn Phát triển Việt Nam
(VDF) ước tính, có ít nhất 15 tỷ USD đã đổ vào Việt Nam trong năm 2007 từ các nguồn:
dịch vụ (du lịch) 4,6 tỷ USD; vốn FDI giải ngân 2,2 tỷ USD; vốn vay ODA 1,8 tỷ USD,
cổ phiếu và trái phiếu 2,5 tỷ USD…., điều này đã đẩy áp lực tăng giá trị của đồng Việt
Nam, gây bất lợi cho xuất khẩu, làm giảm tăng trưởng kinh tế. Để có thể hoàn thành chỉ
tiêu kinh tế năm 2007 là 8,2 – 8,5%, trước tình hình này Ngân Hàng Nhà Nước Việt
Nam đã tung lượng tiền đồng để mua vào một lượng lớn ngoại tệ mà theo ước tính của
Ngân Hàng Thế Giới, chỉ trong quí 1, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng khoảng 3 tỷ
đôla tương đương với gần 50.000 tỷ đồng được đưa vào lưu thông. Chính điều này đã
tác động lớn đến tăng giá hàng hóa và dịch vụ, làm tăng tỉ lệ lạm phát đầu năm 2007.
Với lượng cung tiền của đầu năm 2007 quá lớn đã làm cho chỉ số lạm phát ngày
càng cao. Theo ông Shogo Ishii, Phó Giám đốc IMF khu vực châu Á-TBD: “Để duy trì
sự phát triển bền vững, trước hết, Việt Nam cần thắt chặt chính sách tiền tệ. Chính sách
tiền tệ của Việt Nam vẫn bị động trước những thay đổi của môi trường kinh tế quốc tế.
tệ và hoạt động kinh doanh của các NHTM, các NHTM đã không phản ứng kịp thời
trước việc thắt chặt CSTT, cùng với việc quản lý thanh khoản của các NHTM còn bất
cập đã gây nên tình trạng thiếu khả năng thanh khoản tại nhiều ngân hàng, làm giảm quy
mô nguồn vốn; giảm khả năng cho vay và đã xảy ra cuộc đua lãi suất của các NHTM
vào giữa năm 2008, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong thời gian này có thời
điểm lên đến 35%/năm. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến đại đa số các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có số vốn ít, phụ thuộc rất nhìu vào nguồn vốn vay mượn từ ngân hàng.
1.2 Cuối năm 2008 đến đầu năm 2009
Theo PGS-TS Nguyễn Thị Mùi, Phó Giám đốc Học viện Tài chính (Bộ Tài chính)
- thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, lãi suất phải được điều hành
theo hướng ổn định và giảm dần, nếu không giảm lãi suất sẽ ảnh hưởng đến vốn vay và
đình trệ sản xuất. Bà Mùi nói: “Trong điều kiện lạm phát bắt đầu được kiểm soát, phải
giảm dần lãi suất và không nên quá coi trọng chính sách thắt chặt tiền tệ. Nếu tiếp tục
duy trì lãi suất cao sẽ phản tác dụng”
Theo Ông Bùi Đức Thụ, Vụ trưởng Vụ Tài chính ngân sách - Văn phòng Quốc
hội, cho biết: “Tôi đi nhiều địa phương thấy DN đang đứng trước bờ vực thẳm. Đại bộ
phận DN VN dựa vào vốn vay là chủ yếu. Hiện nay, không nhiều DN có thể chịu được
lãi suất trên 20%/năm. Nếu tiếp tục thắt chặt tiền tệ, nhiều DN sẽ không trả được nợ và
có nguy cơ phá sản, ảnh hưởng đến nền kinh tế”.
Trước tình hình này Ngân Hàng Nhà Nước phải quy định trần lãi suất huy động
tiền gửi của các NHTM không được vượt quá 12%. Giải pháp trên đã có tác động nhanh
chóng, tích cực “giảm đà tăng lãi suất huy động của các NHTM” chỉ trong vài
ngày. Tiếp theo để tạo sự bình ổn thị trường bền vững, ổn định trở lại, NHNN thực hiện
cơ chế điều hành lãi suất mới, theo đó quy định các NHTM cho vay nền kinh tế không
vượt quá 150% lãi suất cơ bản và mức lãi suất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm
lên 14%/năm. Quy định này phù hợp với Bộ luật Dân sự hiện nay, đó như là một liệu
pháp mạnh mang tính tình thế đã có tác động ổn định lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã
chậm lại.
Tháng 7/2008, tình hình kinh tế thế giới diễn ra theo chiều hướng bất ổn rõ nét: từ
khủng hoảng thị trường nhà đất của Mỹ chuyển sang khủng hoảng tài chính, suy thoái
của pháp luật và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Đầu năm 2009 Nhà Nước chủ trương điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nới
lỏng một cách thận trọng. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và dân cư trong xã hội
tiếp cận được với vốn vay của hệ thống ngân hàng theo tinh thần của các gói giải pháp
kích cầu của Chính phủ cũng như tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động ổn định và
hiệu quả, NHNN đã hạ thấp lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt
buộc từ 11% xuống 5%. Ngày 1/2/2009 lãi suất cơ bản từ 8.5% hạ xuống còn 7%.
Do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều
chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà
chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình
hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng. Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường
ngoại tệ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều giải pháp như mở rộng biên độ ấn định tỷ
giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3% lên +/-5% so với tỷ giá
bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ
trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm
bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên ngân
hàng.
Trong 7 tháng đầu năm 2009, kinh tế nước ta dần lấy lại được đà tăng trưởng (6
tháng GDP tăng 3,9%, tháng 7, sản xuất nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ tiếp tục
gia tăng), lạm phát là 3,22%. Trong những tháng cuối năm, mặc dù gặp nhiều khó khăn,
thách thức, nhưng sản xuất - kinh doanh có chiều hướng thuận lợi hơn, nhưng lạm phát
có xu hướng tăng do tác động của chính sách tài khoá, tiền tệ nới lỏng, Nhà nước điều
chỉnh tăng lương và giá một số vật tư đầu vào; giá lương thực, xăng dầu và nguyên liệu
cơ bản có thể tăng do tác động của giá cả thị trường thế giới
Từ tháng 7 năm 2009, NHNN nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách điều chỉnh
linh hoạt lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc, lãi suất tín phiếu… Nhờ đó, tổng phương tiện
thanh toán toàn ngành tăng 16-17% so với năm 2007, dư nợ tín dụng tăng 21-22%. Tỷ
giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,4%, tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại
tăng 8-9%. Lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng giảm nhanh trong những
tháng cuối năm, từ mức 23-24%/năm, xuống dưới 12,75%/năm, trong đó, mức lãi suất
là tăng trưởng và kiềm chế lạm phát. Và NHNN có khả năng đáp ứng cả hai mục tiêu,
nhưng mục tiêu tăng trưởng có thể sẽ chiếm ưu thế vì tình hình kinh tế thế giới sẽ biến
chuyển thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho VN tăng trưởng nhanh hơn so với năm ngoái.
Để đạt mức tăng trưởng 6,5% cho 2010, có lẽ chúng ta phải chấp nhận một mức độ lạm
phát cao hơn 7%. Một mức lạm phát 7-9% có thể chấp nhận được. vì vậy, theo dự đoán
trong thời gian sắp tới ngân hàng nhà nước sẽ thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt phù
hợp với từng thời điểm của nên kinh tế và tạo điều kiện để đảm bảo mức tăng trưởng
6,5%.