Lỗi phát âm các thành phần âm tiết tiếng Việt của trẻ em dưới 16 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ THANH

LỖI PHÁ T ÂM CÁC THÀ NH PHẦN ÂM TIẾT
TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ EM DƢỚI 16 TUỔI TẠI
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ THANH

LỖI PHÁT ÂM CÁC THÀNH PHẦN ÂM TIẾT TIẾNG
VIỆT CỦA TRẺ EM DƢỚI 16 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN
NHI TRUNG ƢƠNG

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Chính



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 1
NỘI DUNG ................................................................................................................................ 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................................ 4
1. Rối loạn phát âm ............................................................................................................... 4
2. Tình hình trị liệu sửa lỗi phát âm trên thế giới và Việt Nam ....................................... 7
3. Đặc điểm ngữ âm .............................................................................................................. 9
3.1. Bản chất và cấu tạo âm thanh lời nói ........................................................................ 9
3.1.1 Về mặt sinh lý học.................................................................................................. 9
3.1.2 Về mặt âm học ..................................................................................................... 12
3.1.3. Về mặt xã hội ..................................................................................................... 14
3.2. Các kiểu tạo âm ........................................................................................................ 15
3.3. Đặc điểm âm tiết tiếng Việt ...................................................................................... 17
4. Tiểu kết ............................................................................................................................ 28
CHƢƠNG 2. CÁC LỖI PHÁT ÂM TRONG ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT............................ 30
1. Các lỗi phát âm của âm đầu tiếng Việt ......................................................................... 30
1.1. Lỗi phát âm của phụ âm /b/ ..................................................................................... 30
1.3. Lỗi phát âm của phụ âm /v/...................................................................................... 32
1.4. Lỗi phát âm của phụ âm /f/ ...................................................................................... 33
1.5. Lỗi phát âm của phụ âm /t/ ...................................................................................... 34
1.6. Lỗi phát âm của phụ âm /th/ ..................................................................................... 35
1.7 Lỗi phát âm của phụ âm /z/ ....................................................................................... 36
1.8. Lỗi phát âm của phụ âm /k/ ..................................................................................... 37
1.9. Lỗi phát âm của phụ âm /γ/ ...................................................................................... 38
1.10. Lỗi phát âm của phụ âm /h/ ................................................................................... 39
1.11. Lỗi phát âm của phụ âm /l/ .................................................................................... 40
1.12. Lỗi phát âm của phụ âm /s/ .................................................................................... 41
1.13. Lỗi phát âm của phụ âm /n/ ................................................................................... 43
1.14. Lỗi phát âm của phụ âm /c/.................................................................................... 44

3.7. Nhận xét .................................................................................................................... 65
4. Nhận xét ........................................................................................................................... 66
CHƢƠNG 3. NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM
CÁC THÀNH PHẦN CỦA ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT ......................................................... 69
1. Nguyên tắc sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt ........................... 69
2. Quy trình sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt ............................. 70
3. Phƣơng pháp sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt ....................... 77
3.1. Phương pháp sửa lỗi phát âm âm đầu..................................................................... 77
3.1.1. Phương pháp sửa ................................................................................................ 77
3.1.2. Cách tạo âm đúng ............................................................................................... 81
3.2. Phương pháp sửa lỗi phát âm phần vần ................................................................. 85
3.2.1. Phương pháp sửa lỗi phát âm âm đệm ................................................................. 85
3.2.1.1. Phương pháp sửa ............................................................................................. 85
3.2.1.2. Cách tạo âm đúng ............................................................................................ 85
3.2.2. Phương pháp sửa lỗi phát âm âm chính .............................................................. 85
3.2.2.1. Phương pháp sửa ............................................................................................. 85
3.2.2.2. Cách tạo âm đúng ............................................................................................ 87
3.2.3. Phương pháp sửa lỗi phát âm âm cuối ................................................................. 87
3.2.3.1. Phương pháp sửa ............................................................................................. 87
3.2.3.2. Cách tạo âm đúng ............................................................................................ 88
3.3. Phương pháp sửa lỗi phát thanh điệu ..................................................................... 89
3.3.1. Phương pháp sửa ................................................................................................ 89
3.3.2. Cách tạo âm đúng ............................................................................................... 91
4. Tiểu kết ............................................................................................................................ 93
KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 99


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

- Khảo sát các lỗi phát âm các thành phần âm tiết tiếng Việt của trẻ
em.
- Bƣớc đầu tìm ra các biện pháp, phƣơng pháp sửa lỗi phát âm ở trẻ.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập tƣ liệu về trẻ phát âm thông qua sử dụng “Bảng đánh giá
phát âm” tại Trung tâm Thính học & Trị liệu ngôn ngữ trẻ em, bệnh viện
Nhi Trung Ƣơng.
- Phân tích và miêu tả các lỗi phát âm ở trẻ em.
- Tìm ra các biện pháp để sửa lỗi phát âm ở trẻ em.
Nhằm mục đích là cải thiện phát âm cho trẻ giúp trẻ tự tin trong giao
tiếp và có thể ứng dụng cho những nguyên nhân bệnh khác.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, đối tƣợng nghiên cứu của chúng tôi:
- 73 bệnh nhi, có độ tuổi từ 3-16 tuổi
- Khám và trị liệu tại Trung tâm Thính học &Trị liệu ngôn ngữ trẻ em
của Bệnh viện Nhi Trung Ƣơng từ năm 2011-2013.
- Các bệnh nhi này đƣợc chẩn đoán là Ngọng phát triển:
+ Trẻ có sức nghe bình thƣờng, hệ thống thần kinh thính giác bình
thƣờng.
+ Bộ phận cấu âm và sinh âm (khoang miệng và dây thanh quản) bình
thƣờng.
+ Hệ thống thần kinh vận động và ngôn ngữ bình thƣờng.
Nhƣ vậy, đối tƣợng của đề tài là những trẻ em dƣới 16 tuổi không có
bệnh lý về: Khe hở vòm miệng, chậm phát triển trí tuệ, tự kỉ, hội chứng
2


down, nghe kém và bại não. Tức là trẻ không bị tổn thƣơng về mặt thực thể
và chức năng. Mà nguyên nhân do phát triển về thụ đắc ngôn ngữ. Đó là lí
do mà chúng tôi gọi là “Ngọng phát triển”.

động theo đúng lứa tuổi hay không:
6 tháng về mặt vận động trẻ biết tự ngồi và khi đó mặt phát âm trẻ có
những âm bập bẹ vô nghĩa. 12 tháng, về mặt vận động trẻ biết đứng và có
một vài bƣớc đi đầu tiên còn mặt phát âm ở giai đoạn này là xuất hiện những
từ đầu tiên. Từ 18 đến 22 tháng, về mặt vận động trẻ trẻ tự đi một mình và
về mặt phát âm là trẻ phát âm 2 từ một lần. Do vậy, khi trậm trễ vận động thì
đồng nghĩa với việc phát triển lời nói cũng chậm theo.
- Trẻ có hệ thống thính giác bình thƣờng không? Nhƣ chúng ta biết lời
nói đƣợc phát ra khi trẻ nghe qua tai phát âm của ngƣời lớn sau đó bắt chƣớc
và cuối cùng là tự sử dụng. Khi trẻ giảm về sức nghe (nghe kém hoặc điếc)
tại ốc tai hoặc sau ốc tai (dây thần kinh), định hƣớng thính giác, nhận thức
có vấn đề sẽ làm chậm trễ phát triển lời nói và ngôn ngữ.
- Thể chất (cân nặng, hình dạng) và sức khỏe của trẻ có bình thƣờng
không? Yếu về thể chất và tình cảm làm cho trẻ không hòa nhập và không
thích giao tiếp với các thành viên trong gia đình và những ngƣời xung quanh
thể hiện một trẻ phát triển cô lập không có giao tiếp xung quanh tức là ít có
4


cơ hội học ngôn ngữ miệng, đồng nghĩa sẽ chậm trễ lời nói và ngôn ngữ vì
không có cơ hội học tập và thực hành.
- Trẻ có phát triển nhận thức và khả năng bình thƣờng không? Để đạt
đƣợc ngôn ngữ miệng thì trẻ phải biết sử dụng các kí hiệu, nhƣ là biết chỉ
vào đồ vật khi đƣợc hỏi (từ 9-12 tháng).
- Trẻ có một môi trƣờng khuyến khích và chăm sóc không? Ít nhất ba
loại môi trƣờng ảnh hƣởng đến sự phát triển lời nói của trẻ: (1) một mối
quan hệ tình cảm tích cực (mối quan hệ với một ngƣời chăm sóc chính là
ngƣời cung cấp những lời đề nghị giao tiếp; (2) ngƣời đƣa ra mẫu ngôn ngữ
(con ngƣời); và (3) cơ hội bộc lộ và kích thích giao tiếp hàng ngày.
Nhƣ vậy, sáu nguyên nhân trên sẽ dẫn đến những loại rối loạn phát âm

mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ phát âm đƣợc các nguyên âm và phụ âm khác
nhau. Ví dụ, khi trẻ từ 12-24 tháng tuổi, trẻ sẽ phát âm đƣợc một số “phụ âm
sớm”: /m/, /b/, /n/, /p/, /h/ và /w/. Từ 2-3 tuổi, trẻ phát âm đƣợc các phụ âm:
/t/, /d/, /k/, /g/, /ŋ/, /f/, /j/. Từ 3-4 tuổi, trẻ phát âm đƣợc các phụ âm: /ʃ/, /tʃ/,
/ʒ/, /dʒ/. Từ 4-5 tuổi, trẻ phát âm đƣợc các phụ âm: /z/, /r/, /v/. Từ 5-7 tuổi,
trẻ phát âm đƣợc: /θ/ và /δ/
Theo Đinh Hồng Thái (Giáo trình phát triển Ngôn ngữ tuổi mầm non,
2014, tr. 30), cho rằng, từ 3-4 tuổi, trẻ bắt chƣớc lời nói của ngƣời lớn một
cách chính xác.
Bên cạnh đó, Bộ giáo dục và đào tạo ban hành năm 2010 đã đƣa ra chỉ
số 65 với trẻ 5 tuổi là “nói rõ ràng”, tức là phát âm đúng, không có lỗi về
phát âm.
Từ những nghiên cứu trên, các nhà trị liệu dựa vào mốc phát triển lời
nói của trẻ để phân loại, đâu là lỗi phát âm do chƣa đến tuổi và đâu là lỗi
phát âm do đã đến tuổi mà vẫn còn phát âm sai. Sau việc lƣợng giá đó, các
nhà trị liệu mới phân loại lỗi và tìm phƣơng pháp sửa.
6


2. Tình hình trị liệu sửa lỗi phát âm trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới, từ những năm đầu thế kỉ XX, vấn đề sửa lỗi phát âm đã
đƣợc quan tâm đến, khởi đầu là Travis (1931) với “phƣơng pháp kích thích”
(stimulus methods), và đến năm 1971 đƣợc Powers trình bày với tên gọi
“phƣơng pháp truyền thống” (traditional methods) và từ đó đến nay đƣợc
các nhà trị liệu sử dụng và hầu nhƣ không thay đổi gì nhiều.
Powers bắt đầu trị liệu với đào tạo nhận thức thính giác. Một âm đƣợc
nhận diện, gọi tên, phân biệt từ những âm thanh lời nói khác, và sau đó đƣợc
phân biệt trong những ngữ cảnh tăng dần về độ phức tạp.
Trình tự Hallmark, sự hoán đổi của phƣơng pháp truyền thống, luôn
luôn đặt phân biệt các âm đƣợc tạo phát đầu tiên, đƣợc tìm thấy trong Berry

là chữ cái khi cung cấp sự gợi ý.
Trên đây là những phƣơng pháp và trình tự sửa lỗi phát âm, còn về
phân loại lỗi phát âm, có Laubstein (1987, tr.343) đƣa ra 3 kiểu lỗi từ 559 lỗi
phát âm tiếng Anh: sự tồn lƣu (perseverations), âm sớm (anticipations) và
hoán vị (transposition) và đến Haruko Miyakoda (2002, tr. 277) cũng đƣa ra
ba loại kiểu lỗi nhƣ này trong tiếng Nhật.
Trên đây là tình hình nghiên cứu về phân loại lỗi và phƣơng pháp,
trình tự lỗi phát âm trên thế giới, còn ở Việt Nam, còn ít đƣợc quan tâm và
hạn chế.
Có Nguyễn Thị Ly Kha và Phạm Hải Lê (2004, đăng trên Tạp chí
khoa học DHSP TPHCM ) tìm hiểu “lỗi phát âm âm tiết thƣờng gặp ở trẻ từ
2-4 tuổi (tại một số trƣờng mẫu giáo ở thành phố Hồ Chí Minh). Nhƣng chỉ
mới dừng lại ở phân loại lỗi và ở độ tuổi từ 2-4 tuổi, chƣa có đƣa ra phƣơng
pháp sửa, và không có phân loại nguyên nhân phát âm sai nhƣ nào (bộ máy
cấu âm, thính giác, não bộ, vận động,… )
8


3. Đặc điểm ngữ âm
3.1. Bản chất và cấu tạo âm thanh lời nói
Nhƣ chúng ta biết ngôn ngữ chính là phƣơng tiện giao tiếp vạn năng
của loài ngƣời. Vậy ngôn ngữ tồn tại dƣới dạng nào để con ngƣời có thể sử
dụng làm phƣơng tiện giao tiếp của mình? Ngay từ khi mới xuất hiện, có thể
khẳng định rằng ngôn ngữ tồn tại dƣới dạng âm thanh. Dạng âm thanh này
chính là vỏ vật chất của ngôn ngữ.
Trong ngôn ngữ học, ngƣời ta gọi hình thức âm thanh của ngôn ngữ là
ngữ âm. Ngữ âm là âm thanh nhƣng không phải âm thanh nào của con ngƣời
tạo ra cũng đƣợc gọi là ngữ âm. Ví dụ nhƣ tiếng nấc, tiếng ho, tiếng ợ tuy là
những âm thanh do con ngƣời phát ra nhƣng đây chỉ là những âm thanh sinh
lý của con ngƣời không có chức năng giao tiếp nên không thể coi đó là

hƣớng căng lên hay chùng xuống, mở ra hay khép vào mà ngƣời ta hay gọi
là hoạt động của màng chân vịt. Mỗi một lần căng lên (hay khép chặt) của
hai dây thanh này sẽ tạo ra một âm. Đó chính là lý do vì sao mà dây thanh
đƣợc gọi là cơ quan sinh âm, tức là nơi phát ra âm thanh. Dây thanh của phụ
nữ và trẻ em thƣờng mảnh và căng hơn dây thanh của đàn ông. Vì vậy giọng
của phụ nữ và trẻ em thƣờng cao hơn đàn ông.
Thanh hầu là khoang cộng hƣởng đầu tiên của bộ máy phát âm.
- Các khoang cộng hƣởng ở phía trên thanh hầu: khoang này bao gồm
các khoang yết hầu, khoang mũi và khoang miệng.
Khoang yết hầu có nắp họng (hay còn gọi nắp thanh môn) và gốc lƣỡi.
Khoang miệng gồm khá nhiều cơ quan đó là môi, răng, lợi, ngạc cứng, ngạc
mềm, lƣỡi con, đầu lƣỡi và mặt lƣỡi.
Khoang miệng là một hộp cộng hƣởng động, các cơ quan trong
khoang miệng đều có thể hoạt động, di chuyển linh hoạt đặc biệt là lƣỡi.
Lƣỡi có thể tiến ra phía trƣớc, lùi lại phía sau, nâng cao lên, hạ xuống thấp.
10


Đó là lý do làm cho khoang miệng luôn luôn thay đổi. Cũng vì khoang
miệng di chuyển linh hoạt đã tạo ra sự đa dạng về mặt âm thanh của các âm
đƣợc phát ra.
Do vậy, tại khoang này đƣợc gọi là cơ quan cấu âm của con ngƣời.
Chính nó một phần tạo nên nét khu biệt của các âm vị.
Âm thanh phát ra trong thanh hầu đƣợc phát ra rất nhỏ và nhờ hộp
cộng hƣởng của các khoang phía trên yết hầu mà âm thanh phát ra đƣợc
khuếch đại to lên.
Các cơ quan phát âm kể trên của con ngƣời có thể đƣợc phân chia
thành hai loại dựa vào khả năng vận động: cơ quan chủ động và cơ quan thụ
động.
Cơ quan chủ động là những cơ quan vận động đƣợc và đóng vai trò

Ví dụ nhƣ khi phát âm từ “tay” và từ “tai”, a trong “tay” ngắn hơn a
trong “tai”.
- Cƣờng độ: hay còn gọi là độ mạnh của âm, là biên độ dao động của
các phần tử không khí. Biên độ dao động càng lớn thì âm phát ra càng mạnh,
biên độ dao động càng nhỏ thì âm phát ra cũng nhỏ theo. Do vậy, độ mạnh
của âm thanh là do biên độ dao động quy định, nó chi phối âm mạnh hay
nhẹ. Trong ngôn ngữ, phụ âm phát ra thƣờng mạnh hơn là nguyên âm.
- Âm sắc: Âm sắc chính là bản sắc, sắc thái riêng biệt của mỗi âm,
làm cho nó không bị lẫn vào các âm khác. Ví dụ nhƣ, cùng một nốt nhạc
nhƣng với mỗi một nhạc cụ khác nhau tạo ra những âm có sắc thái khác
nhau, không hoàn toàn trùng khớp. Cùng một từ, một âm tiết, nhƣng giọng
của mỗi ngƣời khác nhau nên âm sắc của các âm đó cũng khác nhau. Đây
cũng là nguyên nhân vì sao mà cùng phát ra một âm nhƣng ở mỗi ngƣời ta
vẫn có thể phân biệt ai là ai, không bị nhầm.
Nguyên nhân dẫn đến âm sắc khác nhau là do:
+ Vật tạo ra âm khác nhau, ví dụ nhƣ âm thanh của tiếng chuông khác
với âm thanh của tiếng mõ tạo ra.
+ Cách tạo ra các vật phát ra âm khác nhau cũng là tạo ra âm sắc khác
nhau, ví dụ nhƣ phím đánh đàn piano, dây đàn ghita,…
+ Hiện tƣợng cộng hƣởng khác nhau cũng tạo ra âm sắc khác nhau, ví
dụ nhƣ tiếng nói trong ngôi nhà gỗ khác với tiếng nói trong ngôi nhà xây.
Đây cũng là lí do vì sao mà, các nhà hát thƣờng có những kiến trúc đặc biệt
để tạo ra những hiệu ứng âm thanh khác nhau.
13


- Tiếng động và tiếng thanh: khi các phân tử trong không khí chấn
động tạo các chuyển động âm thanh nhịp nhàng, điều hòa, có chu kì sẽ tạo
thành tiếng thanh. Ngƣợc lại, các phân tử trong không khí chuyển động
không nhịp nhàng, điều hòa sẽ tạo ra tiếng động. Ví dụ, khi một nguyên âm

trong tiếng Nga chẳng hạn, ta có từ “pak” dù có phát âm ngắn hay phát âm
dài đi chăng nữa thì nghĩa của từ “pak” này vẫn không thay đổi. Do đó,
trƣờng độ trong tiếng Nga không có chức năng phân biệt nghĩa cho các từ.
Nhƣ vậy, đối với mỗi ngôn ngữ thì những đặc tính ngữ âm của từng
ngôn ngữ đƣợc coi trọng nặng nhẹ khác nhau, đó chính là đặc tính xã hội của
ngữ âm. Đây cũng chính là mặt không thể thiếu trong nghiên cứu ngữ âm.
Nói tóm lại, đặc trƣng ngữ âm gồm ba mặt: mặt sinh học, mặt vật lý
học (âm học) và mặt xã hội.
3.2. Các kiểu tạo âm
Có nhiều kiểu tạo âm khác nhau trong các ngôn ngữ trên thế giới. Một
vài ngôn ngữ có kiểu tạo âm đặc biệt do luồng hơi xuất phát, có ngôn ngữ thì
lại có kiểu tạo âm do dạng của thanh môn. Còn tiếng Việt lại có kiểu tạo âm
phổ biến trong nhiều ngôn ngữ đó là do luồng hơi đi ra từ phổi.
- Luồng hơi: Có nhiều kiểu tạo âm từ luồng hơi:
+ Cách phát âm phổ biến nhất là bằng luồng hơi ở phổi. Những phụ
âm tắc thông thƣờng ta vẫn gặp, theo cách phát âm này đƣợc gọi là âm nổ để
phân biệt với những âm tắc trong các kiểu tạo âm khác.
+ Kiểu tạo âm thứ hai ít phổ biến hơn, chỉ gặp ở một số ngôn ngữ và ở
một số phụ âm đó là cách phát âm do hơi ở họng.
Khe thanh môn đóng lại, khối không khí ở phía trên đƣợc đẩy ra ra
ngoài do thành hầu nhích lên cao hơn vị trí bình thƣờng giống nhƣ pittong
trong một chiếc bơm. Không khí đƣợc dồn lên yết hầu nhƣng bị chặn lại ở
một vị trí nào đó, chẳng hạn ở mạc, khi ta phát một mạc tắc, áp suất sẽ tăng
15


lên và không khí phải phá vỡ sự cản trở ấy. Kết quả là ta có một âm đƣợc
gọi là âm bật (ejective), đƣợc ghi bằng dấu [’] đặt sau kí hiệu chính, chẳng
hạn nhƣ [k’]. Âm bật do đƣợc cấu tạo nhƣ vậy nên luồng không khí đi ra yếu
và bao giờ cũng là âm vô thanh, tức chỉ là tiếng động vì ở đay dây thanh

Trong trƣờng hợp hai sụn hình chóp giáp lại nên dây thanh chỉ còn
chấn động đƣợc ở phía kia. Âm đƣợc cấu tạo có cao độ rất thấp nhƣ khi ta hạ
giọng ở cuối câu. Kết quả của hiện ƣợng này đƣợc gọi là giọng kẹt (creaky
voice) hay còn gọi là thanh hầu hóa (laryngealization). Tiếng Hausa và các
ngôn ngữ Chad ở bắc Nigeria phân biệt hai dạng âm [j], một là [j] bình
thƣờng và một là [j] có giọng kẹt.
3.3. Đặc điểm âm tiết tiếng Việt
Những phát âm của con ngƣời phát ra gồm những khúc đoạn khác
nhau, mỗi một khúc đoạn nhỏ nhất của những phát âm đó ngƣời ta gọi là âm
tiết (syllable). Vậy âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất có nghĩa. Ví dụ: “im
lặng là vàng” khi phân tích ta thấy có 4 âm tiết.
Cách phân chia này dựa trên phƣơng diện phát âm. Bởi, âm tiết có
tính chất toàn vẹn, không thể phân chia đƣợc do đƣợc phát âm bằng một đơn
căng cơ thịt của bộ máy phát âm. Cứ mỗi lần cơ thịt của bộ máy phát âm
căng lên rồi chùng xuống là ta có một âm tiết. Lời nói của con ngƣời là một
chuỗi các đợt căng chùng nhƣ vậy.
Ta có thể xem sơ đồ sau:

17


Khi phát âm mỗi một âm tiết, các cơ thịt của bộ máy phát âm đều phải
trải qua ba giai đoạn: tăng cƣờng độ căng, đỉnh điểm căng thẳng và giảm độ
căng. Tƣơng ứng với ba giai đoạn này là sự phát triển của độ vang: tăng
cƣờng độ vang, độ vang cao nhất và giảm dần độ vang.
Tăng hay giảm độ căng, tăng hay giảm độ vang của một âm tiết đƣợc
biểu thị bằng một đồ thị hình sin nhƣ sau:

Ta có thể giải thích nhƣ sau: đỉnh của hình sin chính là đỉnh mỗi âm
tiết và thƣờng là do nguyên âm đảm nhiệm, tức là nguyên âm sẽ ở đỉnh âm

giữa các từ trong câu với nhau.
Ví dụ: I have four apples on the table
Khi phát âm câu này, các từ “four apples on” đƣợc phát âm nối vào
nhau, tức là, hai từ “apples” và “on” đƣợc đọc bằng cách nối các phụ âm
19


Trích đoạn Lỗi phát âm của thanh nặng Quy trình sửa lỗi phát âm các thành phần của âm tiết tiếng Việt Phương pháp sửa Cách tạo âm đúng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status