1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
BÙI THỊ MÙI
TỶ LỆ NHIỄM VÀ MANG GEN KHÁNG CEPHALOSPORIN
THẾ HỆ 3 VÀ QUINOLON CỦA CÁC CHỦNG KLEBSIELLA
GÂY NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN
NHI TRUNG ƯƠNG, 2009-2010
Chuyên ngành: Vi sinh y học
Mã số: 62.72.01.15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2014
2
CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Nguyễn Thanh Liêm
2. TS. Lê Thị Ánh Hồng
Phản biện 1.
Phản biện 2.
tối thiểu)
PCR : polymerase chain reaction( phản ứng chuỗi trùng
hợp)
PFGE : pulsed field Get Eleetrophoness( điện di ung
trường)
NKHHCT : nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
WHO : world heath organization(tổ chức y tế thế giới)
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giống Klebsiella là một trong các hệ vi khuẩn có ở đường tiêu hóa,
hô hấp của người, là căn nguyên của một số bệnh nhiễm khuẩn ở người, gây
bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ. Trên thế giới loài Klebsiella là một trong những căn
nguyên quan trọng gây nhiễm khuẩn ở bệnh nhi nằm điều trị tại bệnh viện
đặc biệt là những trẻ sơ sinh non yếu và trẻ nhỏ. Tỷ lệ nhiễm khuẩn do
Klebsiella ở trong bệnh viện đặc biệt là những đơn vị hồi sức cấp cứu rất
khác nhau giữa các nước từ 10,2%-26,2% . Tình trạng kháng với hầu hết các
kháng sinh đang là một mối đe doạ lớn đối với thầy thuốc và người bệnh.
Với kháng sinh thông thường như Ampicillin, Cephazolin, Klebsiella spp. đã
kháng cao 60%-100%. Phát hiện gen kháng kháng sinh nhóm quinolon lan
truyền qua plasmid là mốc quan trọng trong nghiên cứu về gen kháng kháng
sinh của vi khuẩn này. Nghiên cứu về cơ chế kháng kháng sinh được tiến
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1.Các đặc điểm về giải phẫu, sinh lý và miễn dịch hệ hô hấp
1.1.1. Các đặc điểm về giải phẫu
Bộ máy hô hấp bao gồm đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới.
Ranh giới phân chia là nắp thanh quản .
1.1.2. Đặc điểm sinh lý: Bộ máy hô hấp trẻ em chưa hoàn chỉnh những năm
đầu đời.
1.1.3. Cơ chế miễn dịch bảo vệ đường hô hấp
Hàng rào niêm mạc
Các tế bào thực bào
Các yếu tố thể dịch
1.2. Các căn nguyên gây nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em.
1.2.1. Các căn nguyên gây nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em
- Tác nhân virus: Đa số các trường hợp NKHHCT ở trẻ em là do virus (60-
70%).
- Tác nhân vi khuẩn:
+ Các loại vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng cộng đồng:
Heamophilus Influenzae, Streptococcus Pneumoniae, Moracella
Catarrhalis,Staphylococcus aureus.
+ Các loại vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng bệnh viện: S.
Aureus, P. Aeruginosa, Các trực khuẩn Gram âm dễ mọc khác, Klebsiella
pneumoniae
1.2.2. Klebsiella trong NKHHCT
Nhiễm khuẩn do K.pneumoniae và K. oxytoka thường gặp nhất ở
người. Klesiella chiếm 8% các nhiễm trùng của bệnh viện. 14% nhiễm
khuẩn huyết nguyên phát do Klesiella. Trong số 145 báo cáo bùng phát
nhiễm trùng bệnh viện từ 1983- 1991 có 13 báo cáo được quy kết là do
phiên bản của ADN thế hệ trước.
Đề kháng thu được do nhận được gen đề kháng qua các
hình thức vận chuyển di truyền: Biến nạp, tải nạp, tiếp hợp
Thành phần di truyền di động (transposons - gen nhảy)
Cơ chế lan truyền gen đề kháng
1.4.2. Các cơ chế đề kháng kháng sinh họ vi khuẩn đường ruột với kháng
sinh nhóm beta - lactam
Đề kháng tự nhiên: Đề kháng tự nhiên do sinh ra enzym -
lactamaza và đề kháng tự nhiên không do sinh ra enzym -lactamaza
Đề kháng thu được:
Đề kháng thu được làm cho vi khuẩn sinh ra enzym -
lactamaza
7
Vi khuẩn sinh ra enzym penicillinaza do nhận được gen
đề kháng nằm trên plasmid
Vi khuẩn tăng cường sản xuất ra enzym penicillinaza do
gen đề kháng nằm trên nhiễm sắc thể
Đề kháng thu được làm cho vi khuẩn sinh ra enzym
cephalosporinaza do gen mã hóa nằm trên nhiễm sắc thể
Đề kháng thu được làm cho vi khuẩn sinh ra các enzym -
lactamaza khác
- Năm 1989-1990, hai tác giả Bauernfeind và Papanicolaou đã tìm
thấy ở loài K. pneumoniae sinh ra enzym -lactamaza kháng lại kháng sinh
cephamycin (CMY-1, MIR-1), gen mã hóa nằm trên plasmi.
- Enzym immipenemaza cũng đã được tìm thấy ở các loài S.
marcescens và E. cloacae bởi các tác giả Yang (1990), Lee và Raimondi
(1991).
- Các Beta Lactamase mới
* TEM-TYPE ESBLs (Lớp A): việc thay thế amino acid ở nhiều vị
mà còn với carbapenem. Plasmid-mediated IMP-type carbapenemases (hiện
nay đã biết được 17 loại), được tìm thấy ở Nhật (1990s), ở cả gram âm
đường ruột, pseudomonas và acinetobacter sp.
1.4.3. Đề kháng với kháng sinh Quinolon
Sự đề kháng với nhóm kháng sinh này cho đến nay vẫn được hiểu
là do đột biến trên NST. Sự đột biến này làm thay đổi đặc tính của enzym
tác động vào quá trình sinh tổng hợp ADN (enzym ADN - gyrase) làm cho
kháng sinh không tác động vào được nữa. Năm 1998, Martinez - Martinez
và cộng sự, lần đầu tiên mô tả chủng K. pneumoniae mang gen kháng
quinolon nằm trên plasmid, đồng thời các gen này còn gắn trên các
Integron khác nhau. Hơn nữa, các plasmid này cũng đồng thời mang gen
mã hóa enzym -lactamase phổ rộng hoặc enzyme cephalosporinase. Phát
hiện này có tầm quan trọng rất lớn, bởi nó nói lên rằng gen kháng quinolon
có thể được lan truyền ngang giữa các vi khuẩn.
1.5. Phương pháp xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh
và các phương pháp xác định gen kháng thuốc của vi khuẩn
1.5.1. Phương pháp xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh
1.5.1.1. Kỹ thuật khoanh giấy khuếch tán trên thạch
1.5.1.2. Kỹ thuật xác định nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế vi khuẩn
(Minimum Inhibitory Concentration - MIC)
Kỹ thuật xác định nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế vi khuẩn
trong môi trường đặc
Kỹ thuật xác định nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế vi khuẩn
trong môi trường lỏng
Kỹ thuật xác định nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế vi khuẩn
bằng băng giấy Etest
1.5.2.Các kỹ thuật xác định cơ chế kháng kháng sinh
1.5.2.1. Kỹ thuật tiếp hợp trên mặt thạch
1.5.2.2. Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction).
1.5.2.3. Phương pháp Real-Time PCR
Những báo cáo mới nhất về cơ chế kháng kháng sinh nhóm
quinolon của các nhà nghiên cứu cho thấy vai trò chủ yếu là do đột biến
trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Năm 1998, Martinez - Martinez và cộng
sự, lần đầu tiên mô tả chủng Klebsiella pneumoniae kháng nhóm kháng
sinh quinolon theo cơ chế lan truyền gen P.M.G 252 trên plasmid. Sự
kháng kháng sinh nhóm quinolon được xác định bởi gen qnr nằm trên các
Integron khác nhau. Phát hiện này có tầm quan trọng rất lớn bởi nó nói lên
rằng gen kháng quinolon có thể lan truyền ngang giữa các vi khuẩn với
nhau. Thêm vào đó các integron này đồng thời mang gen kháng kháng sinh
cephalosporin thế hệ thứ ba (do enzym -lactmase phổ rộng hoặc do
enzyme cephalosporinase).
10
Tỷ lệ mang gen kháng qnr khác nhau giữa các nước và các khu
vực:từ 4% đến 55% tập trung cao ở các nước Đông nam Á, đặc biệt là Hàn
Quốc và Trung Quốc từ 20,3 đến 55%
Sự kháng kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 (C3G) liên quan đến sự
kháng quinolon theo cơ chế plasmid luôn được các nhà khoa học trên thế giới
quan tâm. Cũng giống như quinolon, chủng kháng C3G thay đổi tùy theo vùng
địa lý. Những thay đổi quan trọng được báo cáo ở châu Á - Thái Bình Dương.
Ở Châu Phi số liệu không nhiều, tỷ lệ kháng khoảng 40%. Đa số chủng mang
gen qnr đều kèm theo mang enzym ESBL (SHV-5, SHV-7, CTX-M, Veb-1,
Oxa-30) hoặc một -lactamase plasmid type AmpC (Fox-5). Đặc biệt các
chủng mang gen kháng CTX-M một gen mã hóa enzym phân hủy Cefotaxime
kháng sinh đang được sử dụng nhiều trong điều trị và có những loại CTX-M
phân hủy ceptazidime nhanh và mạnh hơn Cefotaxime đã xuất hiện khắp các
nước.
1.6.2. Tình hình nhiễm và kháng kháng sinh của Klebsiella spp. ở trong
nước:
Nhiễm trùng đường hô hấp là một bệnh chiếm tỷ lệ cao trong các
tháng 7/2009 đến tháng 7/2010. Những mẫu bệnh phẩm đường hô hấp này
được thu thập từ hai nhóm :
+ Nhóm từ những bệnh nhi được chẩn đoán là nhiễm khuẩn
đường hô hấp cấp tính ngay khi nhập viện (như viêm phế quản phổi, viêm
phổi, viêm tiểu phế quản phổi ) - gọi là nhóm NKHHCT
+ Nhóm thu thập từ những bệnh nhi được chẩn đoán những bệnh
khác ngoài nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính khi nhập viện, mà
NKHHCT là bệnh đi kèm hoặc xuất hiện sau thời gian nằm điều trị - gọi là
nhóm NKHHCT kết hợp
- Tiêu chuẩn lựa chọn các chủng Klebsiella vào nghiên cứu gen
kháng C3G và Quinolon: Tất cả các chủng Klebsiella có sinh men β-
lactamase phổ rộng được xác định theo tiêu chuẩn của CLSI đảm bảo không
cùng trên một phòng bệnh trong cùng một ngày nuôi cấy.
2.2. Thiết kế nghiên cứu:
Chúng tôi sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nghiên cứu đã phân
tích trên 152 mẫu phân lập được Klebsiella có sinh men β-lactamase phổ
rộng bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu:
- Tỷ lệ chủng Klebsiella phân lập được ở đường hô hấp của đối
tượng nghiên cứu theo các Khoa, tuổi, giới, theo các nhóm NKHHCT và
NKHHCT kết hợp
- Tỷ lệ kháng kháng sinh của các chủng Klebsiella phân lập được
theo các Khoa, tuổi, giới, theo các nhóm NKHHCT và NKHHCT kết hợp.
- Tỷ lệ mang gen kháng cephalosporin thế hệ 3 và quinolon (CTX-
M, SHV,TEM, qnr) của các chủng Klebsiella phân lập được theo các Khoa,
tuổi, giới, theo các nhóm NKHHCT và NKHHCT kết hợp.
12
2.4. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
Các kỹ thuật xét nghiệm được thực hiện tại Khoa Vi sinh, Bệnh
- Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng y đức bệnh viện và hội
đồng xét duyệt đề cương nghiên cứu sinh chấp thuận về mặt y đức.
13
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ và sự phân bố tỷ lệ chủng Klebsiella phân lập từ bệnh nhi
NKHHCT 0 đến 6 tuổi với một số yếu tố liên quan
3.1.1.Sự phân bố mẫu bệnh phẩm nhiễm khuần hô hấp theo nhóm bệnh và
theo khoa lâm sàng
Từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2010, có tổng số 3.567 mẫu bệnh
phẩm đường hô hấp được nuôi cấy xác định tác nhân gây nhiễm khuẩn
đường hô hấp cấp tính ở các khoa Hồi sức cấp cứu, Hồi sức ngoại, Sơ sinh
và khoa Hô hấp đã được đưa vào nghiên cứu. Những mẫu bệnh phẩm
đường hô hấp này thu thập từ bệnh nhi 0 đến 6 tuổi được phân tích chung
và xem xét ở hai nhóm: NKHHCT (1.909 mẫu) và NKHHCT kết hợp
(1658 mẫu).
3.1.2. Tỷ lệ nuôi cấy dương tính
Từ tháng 7/2009 - 7/2010 có 1.181 mẫu bệnh phẩm phân lập được
vi khuẩn trong 3.567 mẫu bệnh phẩm đường hô hấp ở bệnh nhi sơ sinh đến
6 tuổi, tại các khoa Hồi sức cấp cứu, Hồi sức ngoại, Sơ sinh và khoa Hô
hấp bệnh viện Nhi Trung ương, cho thấy tỷ lệ nuôi cấy dương tính với các
NKHHCT. Tỷ lệ cầu khuẩn Gram dương ở nhóm NKHHCT cao hơn nhóm
NKHHCT kết hợp.Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với p<0,01. Có
1,1 và 1,6% là song cầu gram âm ở 2 nhóm. Sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê, với p>0,05
3.1.7. Tỷ lệ phân lập được các chủng K. pneumoniae
3.1.7.1. Tỷ lệ các chủng K. pneumoniae theo tuổi:
Tỷ lệ phân lập được các chủng K. pneumoniae theo tuổi nhóm
NKHHCT: Tỷ lệ nhiễm K. pneumoniae của trẻ trong độ tuổi sơ sinh ở
nhóm NKHHCT là 26,6%; Của trẻ dưới 1 tuổi là 22,7% và trẻ 1 đến 6 tuổi
là 15,8%. Các tỷ lệ này không có sự khác biệt với p>0,05
Tỷ lệ phân lập được các chủng K. pneumoniae theo tuổi nhóm
NKHHCT kết hợp: Có 467 mẫu bệnh phẩm nhóm NKHHCT kết hợp nuôi
cấy dương tính có 95 chủng K. pneumoniae được phân lập, tỷ lệ nhiễm K.
pneumoniae của trẻ trong độ tuổi Sơ sinh ở nhóm NKHHCT kết hợp là
21,6%; trẻ dưới 1 tuổi là 20,3% và trẻ 1 đến 6 tuổi là 8,3%. Các tỷ lệ này
không có sự khác biệt với p>0,05
3.1.7.2. Tỷ lệ các chủng K. pneumoniae theo giới tính
Trong 3567 mẫu bệnh phẩm đã có 267 chủng K. pneumoniae phân
lập được. Sự phân bố các chủng K.pneumoniae thể hiện ở bảng 3.7
Bảng 3.7. Phân bố các chủng K. pneumoniae theo giới tính
Giới tính
Số lượng
K. pneumoniae
(+)
Tỷ lệ % p
Nam 2152 172 8,0
p>0,05
p
(2-4)
< 0,001
p
(3-4)
< 0,001
Hồi sức cấp cứu(2) 973 41 4,0
Hồi sức ngoại(3) 865 39 3,9
Hô hấp(4) 936 81 9,0
Tổng số 3567 267 7,4
Như vậy tỷ lệ các chủng phân lập được ở khoa sơ sinh là cao nhất
chiếm 13,7%, tiếp đến khoa hô hấp 9,0% và thấp nhất là khoa hồi sức ngoại
3,9%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với p< 0,05.
3.1.7.4. Tỷ lệ phân lập được chủng K. pneumoniae theo các khoa lâm sàng
và theo nhóm NKHHCT
Bảng 3.11. Tỷ lệ chủng K. pneumoniae của nhóm NKHHCT
phân lập được theo Khoa
Khoa
Số
mẫu
K. pneumoniae (+)
Tỷ lệ
%
p
Sơ sinh (1) 570 74
13,0
p
1-2
<0,001
p
2-3
>0,05
Hồi sức cấp cứu (2) 570 24 4,2
Hồi sức ngoại(3) 865 39 4,5
Tổng số 1658 95 5,7
16
Tỷ lệ phân lập được chủng K. pneumoniae ở khoa sơ sinh là cao
nhất chiếm 14,3%, tiếp đến khoa Hồi sức cấp cứu 4,2% và khoa Hồi sức
ngoại 4,5%. Sự khác biệt giữa khoa sơ sinh và các khoa Hồi sức cấp cứu là
có ý nghĩa thống kê, với p< 0,01. Sự khác biệt giữa khoa Hồi sức cấp cứu
và Hồi sức ngoại không có ý nghĩa thống kê, với p>0,05.
3.1.7.6 Tỷ lệ các chủng K. pneumoniae phân lập được theo các nhóm tuổi
và theo mùa:
Tỷ lệ các chủng K pneumoniae phân lập được ở bệnh nhi sơ
sinh cao nhất vào mùa hạ (54,76%), mùa thu (52,33%), mùa đông
(39,39%) và mùa xuân (36,36%). Ở bệnh nhi lớn hơn độ tuổi sơ sinh tỷ lệ
này cao nhất vào mùa xuân (63,64%), sau đó là mùa đông (60,61%), mùa
thu (47,67%) và mùa hạ (45,24%). Sự khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê với p>0,05
Tỷ lệ các chủng K. pneumoniae của nhóm NKHHCT phân lập
được theo nhóm tuổi và theo mùa: Tỷ lệ các chủng K pneumoniae phân lập
được ở bệnh nhi sơ sinh cao nhất vào mùa hạ (54,8%), mùa đông (46,8%),
mùa thu (40%) và mùa xuân (33,3%). Ở bệnh nhi lớn hơn độ tuổi sơ sinh
tỷ lệ này cao nhất vào mùa xuân (66,6%), sau đó là mùa thu (60%), mùa
đông (53,2%) và mùa hạ (45,3%). Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê với p>0,05
Tỷ lệ các chủng K. pneumoniae của nhóm NKHHCT kết hợp
phân lập được theo các nhóm tuổi và theo mùa: Các chủng K pneumoniae
phân lập được ở bệnh nhi sơ sinh cao nhất vào mùa thu (69,4%), mùa hạ
Ampicilline (100%); Cephalosporin thế hệ 1- cephalothin (96,6%);
Cephalosporin thế hệ 2- cefuroxime (95,5%); Cephalosporin thế hệ 3 và 4
từ 86,4% đến 94,3 %; Nhóm Aminoglycozid kháng thấp hơn từ 72,7 đến
89,8%. Kháng thấp với ciprofloxacin (15,9%) và imipenem (1,1%).
3.2.1.3. Tỷ lệ kháng nhiều loại kháng sinh ở hai nhóm NKHHCT và
NKHHCT kết hợp
18
Tỷ lệ kháng nhiều hơn hoặc bằng 9 kháng sinh chiếm đa số trong
các chủng K. pnemoniae phân lập được (75%), kháng 6-8 kháng sinh chiếm
22%, Kháng 2-5 kháng sinh là 3% và kháng hết là 0,4%.
Biểu đồ 3.11. Tỷ lệ kháng nhiều loại kháng sinh ở hai nhóm
NKHHCT và NKHHCT kết hợp
Ở cả hai nhóm NKHHCT và NKHHCT kết hợp tỷ lệ các chủng K.
pneumoniae kháng từ 9 đến 12 kháng sinh là chủ yếu chiếm 70,1 đến 84,8
% số chủng, trong đó nhóm NKHHCT kết hợp có tỷ lệ cao hơn; ngược lại
tỷ lệ chủng kháng 6-8 kháng sinh là 11,4% và 26%, nhóm NKHHCT
chiếm tỷ lệ cao hơn. Xuất hiện một số chủng kháng hết các kháng sinh thử
nghiệm trong nhóm NKHHCT kết hợp.
3.2.1.4. Các kiểu cách đề kháng kháng sinh gặp ở nhóm NKHHCT:
Phân tích dưới đây thể hiện kiểu cách đề kháng kháng sinh với 13
loại kháng sinh đã được thử nghiệm trong nghiên cứu của chủng vi khuẩn
K. pneumoniae phân lập thuộc nhóm NKHHCT : các chủng K. pneumoniae
phân lập được có tới 38 kiểu cách đề kháng khác nhau. Kiểu cách đề kháng
thường gặp nhất là kháng với các kháng sinh
CXM,AM,CF,CAZ,CTX,FEP,TS,GM,AK,TM(23,87%);
CXM,AM,AMC,CF,CAZ,CTX,FEP,TS,GM,AK,TM(10,32%);
CXM,AM,CF,CAZ,CTX,FEP,GM,AK,TM (9,03%) và không có chủng
nào kháng hết các kháng sinh thử nghiệm.
chiếm tỷ lệ 56,9%
3.2.2.2.Sự phân bố các chủng K. peumoniae sinh ESBLs phân lập được ở
các khoa
Bảng 3.22. Tỷ lệ sinh ESBLs của K. pnemoniae ở các khoa
20
ESBLs
Khoa
Số chủng thử
nghiệm (n)
Số chủng
ESBLs (+)
Tỉ lệ % p
Hồi sức cấp cứu 41 24 58,5
p< 0,05
Hồi sức ngoại 39 28
71,8
Sơ sinh 106 55 51,9
Hô hấp 81 45 55,6
Tổng số 267 152
56,9
Tỷ lệ chủng sinh ESBLs phân lập được ở các khoa có sự thay
đổi từ 51,9 đến 71,8 %, đặc biệt tỷ lệ ở khoa Hồi sức ngoại rất cao 71,8%.
Với p <0,05
Biểu đồ 3.14.Tỷ lệ chủng K. pneumoniae sinh ESBLs ở hai nhóm
Qua biểu đồ ta thấy tỷ lệ sinh ESBLs của các chủng K. pneumoniae
21
cảm (S) (R)
Cefoxitin FOX 4 >4 ≤8 ≥32
Cefoperazon CFP
>128 >128
≤8 ≥32
Astreonam AZT 32 >64 ≤4 ≥16
Cefotaxim CTX
128 >128
≤1 ≥4
Cefotaxim/Acid
clavulanic
CTX/CLV
2 >16 ≤1 ≥4
Ceftazidim CAZ 16 >16 ≤4 ≥16
Ceftazidim/Acid
clavulanic
CAZ/CLV
1 >1 ≤4 ≥16
Piperacillin PIP
>256 >256
≤16 ≥128
Piperacillin/Acid
clavulanic
PIP/CLV
>256 >256
≤16 ≥128
CTX-M 3 (30,8%).
3.3.2. Xác định tỷ lệ chủng K. pneumoniae mang gen mã hóa sự kháng
kháng sinh nhóm Quinolon (qnr) nằm trên plasmid
Bằng kỹ thuật khuếch đại gen (PCR), nghiên cứu trên 107 chủng K.
pneumoniae. Kết quả thu được có 41/107 chủng có mang gen mã hóa sự
kháng kháng sinh nhóm Quinolon trên plasmid, chiếm tỷ lệ 38,3%.
Kết quả cho thấy tỷ lệ chủng mang gen kháng Quinolon nằm trên
plasmid trong nghiên cứu này khá cao. Tất cả 107 chủng đưa vào nghiên
cứu về gen mã hóa sự kháng kháng sinh, đều đã có chứa các gen mã hóa sự
kháng C3G như kết quả phần trên, nhưng kết quả này cho thấy đồng thời có
38,3% số chủng mang gen mã hóa sự kháng kháng sinh nhóm Quinolon
(qnr); Trong đó chủ yếu là qnrS (80,6 %), qnrB (17 %) và gen qnrA chiếm
tỉ lệ rất nhỏ (2,4 %).
3.3.3. Tỷ lệ chủng mang đồng thời nhiều gen kháng C3G và qnr
Bảng 3.29. Tỉ lệ chủng mang đồng thời nhiều gen kháng C3G và Qnr
Các gen mã hóa
Số lượng
(n = 107)
Tỉ lệ % p
qnr+CTX-M+SHV+TEM 24
22,4
p< 0,05
CTX-M+SHV+TEM 91 85
CTX-M-3+ CTX-M-9 11 10,3
CTX-M-3+CTX-9+SHV+TEM 9 8,4
Tỷ lệ các chủng đồng thời mang nhiều gen mã hóa kháng C3G là
rất cao 85%, chủng đồng thời mang gen CTX-M-3 và CTX-M-9 là 10,3%,
chủng mang tất cả các gen mã hóa kháng kháng sinh nhóm C3G là 8,4%.
Trong số các chủng đồng thời mang nhiều gen mã hóa kháng kháng sinh
nhóm C3G có 22,4% chủng mang cả gen mã hóa sự kháng sinh nhóm
Đức 39,3%, Bệnh viện Nhi Trung ương 22,97%. Như vậy phần lớn kết quả
trong nghiên cứu này tương đối phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài
nước, khoa Hồi Sức Ngoại tỷ lệ này cao 71,8% giống nghiên cứu các tác
giả nước ngoài.
4.2.2. Tỷ lệ kháng kháng sinh của các chủng K. pnemoniae
Nghiên cứu của các nước cho thấy K. pneumoniae kháng với
Cefepim (PEP) 62%, Ceftazidime (CAZ)18,4 - 99%, Tazocin (TZP) 78%,
Amikacin (AK) 83%, Ciprofloxacine (CIP) 53% và Imipenem (IPM) 11%,
Co- trimoxazon 64%, Gentamicin 61%. Trong nghiên cứu của chúng tôi
nhận thấy tỷ lệ kháng với Ampicillin (99,2%), với Cephalosporin thế hệ 2,
3 và 4 từ 86,8 đến 93,8% là cao hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác
giả trong nước và một số nước 40,4 đến 51,2% các chủng Klebsiella spp
75,25 đến 87,29%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu vi khuẩn từ dịch hút
phế quản của Ngô Thị Thi và cộng sự 40,4 đến 51,2%. K. pneumoniae
trong nghiên cứu của chúng tôi kháng với Co- trimoxazon, Gentamicin,
Amikacin và Tobramycin cao gần như nghiên cứu trước tại Bệnh nhi Trung
ương của tác giả Ngô Thị Thi 79,5%, 70%, 30,2% và 79,5%. Trần Thị Ngọc
Anh năm 2007, nghiên cứu sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh
thường gặp tại bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2007 cho thấy vi khuẩn Klebsiella
pneumoniae kháng đa kháng sinh ở mức cao các
24
Trimethoprim/sulfamethoxazol (74%), Cefuroxime(71,2%), Cefotaxime
(65,3%), Gentamycine (63,6%), Ceftazidime (53,1%), Netilmycine
(43,52%), Amikacin (42,9%). Tình trạng kháng kháng sinh trong nghiên
cứu của chúng tôi cao hơn rất nhiều. Hầu hết các chủng trong nghiên cứu
của chúng tôi kháng với Ampicilline, còn nhạy cảm với Imipenem và
Ciprofloxacin phù hợp với nghiên cứu trước đây. Tỷ lệ kháng với nhiều
loại kháng sinh cao. Kháng với 9 đến 12 kháng sinh chiếm đa số trong các
chủng K. pnemoniae phân lập được (75%) nói chung.
TEM chiếm 80,4%.
4.4. Tỷ lệ chủng K. peumoniae mang gen mã hóa sự kháng kháng sinh
quinolon (qnr)
Tỷ lệ các gen kháng Quinolon trong nghiên cứu nàycủa chúng tôi
tương đương một số nghiên cứu của một số nước: các tác giả
Hyunjoo Pai và
cộng sự tỷ lệ qnrB phân lập được là 40,5%, qnrA 3,8%
; Myeong Hee Kim
25
và cộng sự ở Hàn Quốc nghiên cứu trên các chủng Klebsiella pneumoniae
phân lập từ bệnh viện thấy tổng số các chủng có mang gen qnr là 40,5%. Trong
đó qnr B chiếm 85,7%, qnrS 14,3% và Đài Loan, Trung Quốc từ 2,4 đến
40,5%. Với tỷ lệ 38,3% mang gen kháng qnr trong số chủng mang gen kháng
C3G cũng nằm trong tỷ lệ cao so với nghiên cứu của các nước.
4.5. Xác định chủng K. peumoniae mang đồng thời gen mã hóa sự
kháng kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 (C3G) và quinolon (qnr)
Nghiên cứu của chúng tôi này thấy một chủng vi khuẩn mang đồng
thời rất nhiều gen mã hóa sự kháng kháng sinh nhóm C3G chiếm tới 85%,
điều đó đồng nghĩa với việc rất nhiều gen mã hóa sự kháng thuốc được
truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác nhanh chóng trong một thời gian
ngắn và rất khó kiểm soát, ngoài ra còn có tỷ lệ không nhỏ mang đồng thời
cả gen mã hóa sự kháng Quinonol, chiếm tỷ lệ 22,4%.
4.6. Xác định chủng K. peumoniae mang gen mã hóa sự kháng
kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 (C3G) và quinolon (qnr) nằm trên
plasmid: Trong nghiên cứu của chúng tôi, kỹ thuật PCR và kỹ thuật
Southern Blot đã sử dụng là hai kỹ thuật sinh học phân tử có độ nhạy cảm
và độ đặc hiệu cao một lần nữa khẳng định các gen nằm trên plasmid.
KẾT LUẬN