Phong cách giáo dục của cha mẹ đối với con từ 3 đến 6 tuổi tại Trường Quốc tế Koala House - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------

VŨ THỊ TỐ UYÊN

PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI CON
TỪ 3 ĐẾN 6 TUỔI TẠI TRƢỜNG QUỐC TẾ KOALA HOUSE

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------

VŨ THỊ TỐ UYÊN

PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI CON
TỪ 3 ĐẾN 6 TUỔI TẠI TRƢỜNG QUỐC TẾ KOALA HOUSE

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trịnh Thị Linh

Hà Nội – 2015

hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trịnh Thị Linh. Các trích dẫn và tài liệu sử
dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ tin cậy cao về mặt khoa
học. Số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn hoàn toàn trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội Ngày 12 tháng 7 năm 2015
Người cam đoan

Vũ Thị Tố Uyên


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Tâm lý học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã
nhiệt tình giảng dạy em trong suốt quá trình học tập.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo Trịnh Thị Linh, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và cổ vũ cho em trong quá trình
thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn tập thể thầy cô giáo và phụ huynh các em học sinh
trường Quốc tế Koala – House đã hợp tác với tôi trong quá trình điều tra
thực tiễn.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều
kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2015
Tác giả

Vũ Thị Tố Uyên



2.3.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi ........................................... 42
2.3.4. Phương pháp phỏng vấn sâu ........................................................ 43
2.3.5. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý .................................... 43
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học ..................... 44
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 46
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 47
3.1. Thực trạng phong cách giáo dục của cha mẹ đối với con từ 3 đến 6
tuổi tại trường Quốc tế Koala House.......................................................... 47
3.1.1. Phong cách giáo dục của cha mẹ nói chung ................................ 47
3.1.2. Phong cách giáo dục của cha mẹ trong từng lĩnh vực giáo dục
gia đình .................................................................................................. 52
3.1.3. Mối liên hệ giữa PCGD của cha mẹ và tự đánh giá của cha mẹ về
vai trò của họ trong giáo dục trẻ. ........................................................... 57
3.2. Mối liên hệ giữa phong cách giáo dục của cha mẹ và sự phát triển tâm
lý của trẻ ..................................................................................................... 60
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phong cách giáo dục của cha mẹ .............. 70
3.3.1. Yếu tố nghề nghiệp của cha mẹ ................................................... 70
3.3.2. Yếu tố thu nhập của cha mẹ ......................................................... 72
3.3.3. Yếu tố giới tính của trẻ................................................................. 73
3.4. Phân tích chân dung tâm lý ................................................................. 75
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... i
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1. Phong cách giáo dục của cha mẹ đối với con .................................... 9
Bảng 2.1. Mẫu khách thể nghiên cứu theo nghề nghiệp và trình độ học vấn .. 38
Bảng 2.2. Mẫu khách thể nghiên cứu theo giới tính, độ tuổi và số con trong

kiến thức để dạy con học, họ lại tìm đến các giáo viên bộ môn cũng như các
lớp học thêm để các thầy cô kèm cặp và bảo ban con em họ. Thời gian mà các
ông bố, bà mẹ này dành cho con theo đó cũng giảm đi đáng kể.
Ngược lại, không ít các ông bố, bà mẹ do thiếu kiến thức về sự phát
triển tâm- sinh lý của trẻ, thiếu hiểu biết về các phương pháp giáo dục con nên
lại rất khắt khe, cứng nhắc, thậm chí còn đánh đập con trẻ một cách tàn bạo,
làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển tâm lý của trẻ. Từng có thời gian
làm việc ở trường mầm non Quốc tế Koala House, khi gặp gỡ các bậc phụ
huynh có con ở độ tuổi này, chúng tôi nhận thấy rằng, không ít trong số họ
đang rất băn khoăn, về việc “dạy dỗ” con em mình, thậm chí có người còn tỏ
ra vô cùng hoang mang, lo lắng. Vì vậy, họ tìm đến các lớp học “làm bạn với
con”, “dạy con không trừng phạt”, “kỷ luật không nước mắt”… với mong
muốn tìm được cách thức giáo dục con hiệu quả nhất. Điều này khiến chúng
tôi rất trăn trở. Bởi lẽ, theo ghi nhận chủ quan của chúng tôi cũng như của các
cô giáo ở đây thì trẻ ở trường Quốc tế Koala House nhìn chung khá nhanh
nhẹn và thông minh so với trẻ cùng lứa tuổi. Trong khi đó, các bậc phụ huynh
vẫn còn nhiều băn khoăn, lo lắng về cách thức dạy con của họ. Vậy thì, họ
hiện đang sử dụng các phong cách giáo dục gì đối với trẻ? Phong cách đó có
thể chịu sự chi phối của những yếu tố nào? Và liệu có sự khác biệt hay không
giữa phong cách giáo dục của cha và mẹ đối với trẻ? Tất cả những điều này
đã thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phong cách giáo dục của cha mẹ đối
với con từ 3 đến 6 tuổi tại trường Quốc tế Koala House” để thực hiện trong
khuôn khổ của luận văn Thạc sĩ Tâm lý học.

2


2. Mục đích nghiên cứu
Xác định các phong cách giáo dục của cha mẹ đối với con từ 3 đến 6 tuổi
đang học các lớp mẫu giáo tại trường Quốc tế Koala House .Trên cơ sở đó, đưa

Có sự khác biệt giữa cha và mẹ trong việc sử dụng các kiểu phong cách
giáo dục.
Giới tính của trẻ, nghề nghiệp của cha mẹ và thu nhập của họ là những
yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới việc sử dụng các kiểu PCGD của
cha mẹ.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu 3 kiểu phong cách
giáo dục của cha mẹ đối với con từ 3 đến 6 tuổi đang học tại các lớp mẫu giáo
như: phong cách giáo dục dân chủ, độc đoán và tự do.
Về những yếu tố ảnh hưởng đến các kiểu phong cách giáo dục của cha
mẹ, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan
từ phía trẻ cũng như từ phía cha mẹ trẻ. Các yếu tố chủ quan không được
chúng tôi đề cập trong nghiên cứu này.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
8.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
8.3. Phương pháp chuyên gia
8.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
8.5. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý
8.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.

4


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON TỪ 3 ĐẾN 6 TUỔI TẠI TRƢỜNG
QUỐC TẾ KOALA HOUSE
1.1. Tổng quan một vài công trình nghiên cứu về phong cách giáo dục của
cha mẹ đối với con từ 3 đến 6 tuổi.

phong cách giáo dục dân chủ, độc đoán, thờ ơ hay nuông chiều được thiết lập
(dẫn theo 22) cụ thể như sau:
Tự chủ
Dân chủ
Thờ ơ

Yêu thương

Ghét bỏ
Độc đoán

Nuông chiều
Kiểm soát

Đặc biệt, vào những năm 60 của thế kỷ trước, Diana Baumrind chính là
người đặt dấu ấn quan trọng cho các nghiên cứu đương đại về phong cách
giáo dục của cha mẹ. Theo bà hai yếu tố tạo nên phong cách giáo dục của cha
mẹ chính là sự đáp ứng của cha mẹ và sự kỳ vọng của cha mẹ đối với con. Ở
đây, sự đáp ứng của cha mẹ được hiểu là sự trợ giúp của cha mẹ đối với con
cái nhằm thỏa mãn những nhu cầu của trẻ. Sự kỳ vọng của cha mẹ được thể
hiện thông qua sự kiểm soát của họ đối với con cái của mình làm sao chúng
trưởng thành, cư xử có trách nhiệm hơn. Sự kết hợp của hai yếu tố này làm
nên phong cách giáo dục của các bậc cha mẹ. Căn cứ vào tính chất, cường độ
của từng yếu tố mà D. Baumrind phân chia phong cách giáo dục của cha mẹ
thành 3 kiểu: phong cách giáo dục dân chủ, độc đoán và tự do [49].

6


Dựa trên công trình nghiên cứu của Baumrind , Maccoby và Martin

mầm non. Mặc dù trẻ có đi lớp nhưng phần lớn thời gian trẻ vẫn ở nhà (thời
gian ngủ, ăn sáng, ăn tối, hai ngày cuối tuần…). Vì vậy, cha mẹ cần thu xếp
thời gian để “chơi” với trẻ một cách khoa học [56].
Cũng trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu của
D. Baumrind, nhóm tác giả Jessica M. Miller, Colleen Dilorio và William
Dudley (2002) đã chỉ ra mối liên hệ giữa phong cách giáo dục của các bà mẹ
với tính xung đột và bạo lực ở thiếu niên Mỹ. Kết quả cho thấy, ở những gia
đình cha mẹ có phong cách giáo dục dễ dãi thì con cái họ thường có phản ứng
dữ dội và tiêu cực trong những tình huống có xung đột, ít làm chủ được bản
thân khi chịu sự kích động. Trong khi đó, ở những gia đình cha mẹ có phong
cách giáo dục dân chủ hoặc độc đoán thì tính chất xung đột của trẻ thấp hơn.
Nói một cách khác, nhóm tác giả nhận thấy rằng phong cách giáo dục của mẹ
có liên quan tới các phản ứng của thanh thiếu niên trong các tình huống gây ra
xung đột [54].
Tuy nhiên, khi tìm hiểu về phong cách giáo dục của cha mẹ đối với con
ở độ tuổi này, tác giả Winsler (2005) nhận thấy chỉ có một số ít bố mẹ sử
dụng phong cách giáo dục tương đồng trong quá trình giáo dục con. Đây là cơ
sở để tác giả khẳng định rằng việc thống nhất trong cách giáo dục con của
mỗi gia đình là vô cùng quan trọng và cần tìm ra những yếu tố tối ưu để có
phương pháp nuôi dạy con cho phù hợp [42].
Gần đây nhất, tại một hội thảo giáo dục của Romania năm 2010 có đề
cập đến phong cách giáo dục của cha mẹ gồm: “Phong cách lôi cuốn; phong
cách kỉ luật; phong cách gắn bó quan hệ, phong cách tự do. Ngoài ra, tại hội
thảo còn đề cập tới kỹ thuật giáo dục và 4 yếu tố tác động tới giáo dục: Sự
kiểm soát, động lực, luân lý, kỹ thuật trong các mối quan hệ. Để thực hiện tốt
vai trò giáo dục đòi hỏi cần có kỹ thuật giáo dục phù hợp với từng giai đoạn
lứa tuổi” [53].

8


Tự do

Maccoby

Kellerhal & Darling &

&Martin

Montandon

Steinberg

Bjornberg

(1983)

(1991)

(1993)

(2001)

Dân chủ

Dân chủ

Dân chủ

Lôi cuốn


hưởng từ các phong cách giáo dục đó đến sự phát triển của trẻ thì
ở châu Á, các công trình chủ yếu lại mang tính so sánh giữa phong cách giáo
dục của bố mẹ châu Á với phong cách giáo dục của bố mẹ châu Âu, châu Mỹ.
Năm 1994, nghiên cứu của Chao [43], Chen và cộng sự (1997) cho
thấy các bậc cha mẹ châu Á vẫn duy trì quan điểm dạy dỗ truyền thống bằng
việc sử dụng uy quyền và các phương pháp độc đoán như đánh đòn đứa trẻ,
luôn dùng mệnh lệnh để áp đặt đối với trẻ, trừng phạt trẻ nghiêm khắc... Chen
cũng khẳng định, kiểu nuôi dạy con cái theo cách chuyên quyền của các bậc
cha mẹ Trung Quốc vẫn tồn tại ở Đài Loan [47].

9


Cũng trong giai đoạn này, nghiên cứu của Chao cho biết các mô hình
của Baumrind có thể không phù hợp và có ý nghĩa đối với người châu Á do
có sự khác nhau trong quan niệm về sự kiểm soát và sự chăm sóc của cha mẹ.
Khi nghiên cứu các bà mẹ Mỹ gốc Trung Quốc về cách nuôi dạy con theo
kiểu “nghiêm khắc” hay “chuyên quyền” và thành tích của chúng tại trường
trung học, ông khẳng định người Trung Quốc nuôi dạy con theo kiểu “giáo
dục” và “quản lý” khác với phương pháp “dân chủ” và “độc đoán” của
Baumrind, lại đạt được kết quả tích cực ở trẻ [44].
Mới đây nhất, nghiên cứu của Mimi Chang (2007), cũng nhận thấy sự
khác biệt rất lớn về văn hóa trong cách sử dụng phong cách giáo dục của cha
mẹ người Mỹ gốc Trung Quốc với người Mỹ chính thống. Kết quả nghiên
cứu cho biết những cha mẹ gốc Trung Quốc hay sử dụng uy quyền của mình
để “quản lý” con cái và điều đó dẫn đến một kết quả là có sự xung đột về văn
hóa giữa bố mẹ, con cái trong gia đình người Mỹ gốc Trung quốc [46].
Có thể nói rằng, hệ thống các công trình nghiên cứu trên thế giới tương
đối đồ sộ với nhiều nội dung phong phú về phong cách giáo dục cũng như ảnh
hưởng của các phong cách đó đến sự phát triển tâm lý của trẻ lứa tuổi thanh

sách muốn gửi đến người đọc là để có thể giáo dục con hiệu quả thì điều quan
trọng là cần phải hiểu đặc điểm riêng của con mình, luôn luôn lắng nghe để có
thể chia sẻ với trẻ, có như vậy mới có thể đề ra những biện pháp, phương
pháp và xây dựng cho chính mình một phong cách giáo dục phù hợp [10].
Cũng theo hướng nghiên cứu về phong cách giáo dục, năm 1993, Lê
Tiến Hùng có nghiên cứu về chủ đề “Quyền uy và việc sử dụng quyền uy của
cha mẹ trong giáo dục gia đình”. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chất lượng
giáo dục gia đình có thể được nâng cao nếu mỗi bậc cha mẹ có được định
hướng đúng đắn trong sử dụng uy quyền của mình. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ
đề cập đến khía cạnh uy quyền của cha mẹ trong gia đình mà chưa đi sâu
nghiên cứu đến ảnh hưởng của cách giáo dục đó đối với sự phát triển tâm sinh
lí của các con trong gia đình [15].

11


Đồng thuận với các quan điểm nêu trên, tác giả Ngô Công Hoàn (1993)
trong “Tâm lý học gia đình” đã đề cập tới sự tác động qua lại giữa phong cách
giáo dục con của cha mẹ với sự phát triển của trẻ. Theo ông, mối quan hệ
tốt đẹp của cha mẹ và con cái được thiết lập, có khả năng hình thành tính
độc lập, tự chủ, tính năng động, tích cực xã hội cao cho con cái. Khi cha
mẹ có phong cách giáo dục độc đoán, quyền uy quá mức, áp đặt, khắt khe
thì con cái sẽ có sự phát triển lệch lạc như dễ duy kỷ và bất lực, tách ra
khỏi bản thân, tránh tiếp xúc với thực tế, khuynh hướng muốn trốn vào mơ
mộng, mộng tưởng, khó khăn khi tiếp xúc với xã hội và những trẻ cùng
tuổi, thụ động, thiếu sáng kiến, bất lực trong tự vệ, mặc cảm tự ti, phụ
thuộc, có khuynh hướng thoái lui [11].
Kết quả nghiên cứu này đã được khẳng định thông qua tác phẩm “Gia
đình và vấn đề giáo dục gia đình” (1994) của Trung tâm nghiên cứu gia đình
và phụ nữ. Công trình nghiên cứu này khẳng định có nhiều gia đình quá

mẹ ở trong nước, chúng tôi cũng ghi nhận các công trình nghiên cứu của tác
giả Vũ Thị Khánh Linh với một số công bố trên nhiều tạp chí khác nhau như:
“Phong cách giáo dục của cha mẹ trong lĩnh vực giáo dục gia đình” (tạp chí
Khoa học Giáo dục, 2011), “Một số vấn đề lý luận về phong cách giáo dục
của cha mẹ” (tạp chí Giáo Dục, 2011), “Phong cách giáo dục của người mẹ
trong các lĩnh vực giáo dục gia đình” (tạp chí Tâm lý học, 2012). Qua đó, tác
giả khẳng định rằng: Trong thực tiễn giáo dục, các bậc cha mẹ được nghiên
cứu sử dụng cả 3 loại phong cách giáo dục: dân chủ, độc đoán và tự do. Có sự
khác biệt về kiểu phong cách giáo dục giữa các bậc cha mẹ trong những gia
đình khác nhau, giữa cha mẹ trong cùng một gia đình. Các gia đình cha mẹ có
phong cách giáo dục trùng nhau chiếm tỉ lệ thấp. Phong cách giáo dục chiếm
ưu thế nhất là phong cách giáo dục dân chủ, kế đến là phong cách giáo dục
độc đoán và chiếm tỉ lệ thấp nhất là phong cách giáo dục tự do. Các yếu tố
nghề nghiệp, trình độ học vấn, độ tuổi cũng có ảnh hưởng đến phong cách

13


giáo dục của cha mẹ. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó không thật rõ rệt. Không có
phong cách nào hoàn toàn chiếm ưu thế trong một nhóm nghề nghiệp, độ tuổi
hay trình độ học vấn của cha mẹ [20].
Cũng trong thời gian này, tác giả Trần Thị Bích Trà (2012) đã thực hiện
công trình nghiên cứu với tiêu đề “Thực trạng giáo dục gia đình đối với trẻ
mầm non” [30]. Tác giả đã đề cập tới những vấn đề nổi bật là nhiều phụ
huynh chưa nhận thức hết được vai trò giáo dục của cha mẹ đối với trẻ mầm
non và những khó khăn của cha mẹ trong giáo dục trẻ tại gia đình. Tuy nhiên,
công trình nghiên cứu này chỉ tìm hiểu thực trạng giáo dục nên chưa đi sâu
xem xét phong cách giáo dục của cha mẹ đối với trẻ mầm non cũng như ảnh
hưởng của nó tới sự phát triển tâm lí của trẻ.
Tóm lại, việc tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

- Viê ̣c lựa cho ̣n các phương tiê ̣n ngôn ngữ theo nguyên tắ c , sắ c thái tu
từ, biể u cảm: chẳ ng ha ̣n như phong cách trang tro ̣ng...[28].
Theo Vũ Dũng phong cách là toàn bô ̣ những nét riêng biê ̣t ta ̣o nên đ

ặc

trưng của mỗi cá nhân , mỗi dân tô ̣c trong hành vi , ứng xử và ngôn ngữ của
họ [3].
Bên cạnh cách hiểu về phong cách của Hoàng Phê, Vũ Dũng thì các Nhà
Tâm lí học Liên Xô cũ (E.A.Klimov, A.Cubanova …) cho rằng: “Phong cách
là hệ thống những phương pháp, thủ thuật tiếp nhận phản ứng, hành động,
tương đối bền vững, ổn định của mỗi cá nhân. Chúng quy định sự khác biệt
giữa các cá nhân, giúp cá nhân thích nghi với môi trường sống (đặc biệt môi
trường xã hội) thay đổi để tồn tại và phát triển [dẫn theo 21].
Đồng thuận với quan điểm này, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng cho
rằng: phong cách là hệ thống những nguyên tắc, phương pháp, cách thức biểu
hiện và đặc thù của một người hay một nhóm người được thể hiện trong hoạt
động cơ bản của họ [35].
Như vậy, nhìn chung, phong cách có thể được hiểu là:
- Hệ thống các phương pháp, thủ thuật…quy định những đặc điểm
riêng biệt giữa cá nhân với cá nhân.

15


- Hệ thống những phương tiện có hiệu quả, giúp cá nhân thích nghi với
những thay đổi môi trường (nhất là môi trường xã hội), là sự linh hoạt, cơ động,
mềm dẻo của các phương pháp, thủ thuật ứng xử mà mỗi cá nhân sử dụng.
- Hệ thống những phương pháp, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng, hành
động tương đối ổn định, bền vững của cá nhân.

nhau. Tình trạng sức khỏe tốt, trong lúc đang hưng phấn người ta có thể quyết
định hành động nhanh, chính xác, khi vẫn con người đó đang buồn chán, bệnh
tật người ta sẽ do dự, thậm chí từ chối hành động.
Thứ hai là, các thao tác, hành vi cá nhân chịu sự chi phối bởi các đối
tượng, phương tiện và điều kiện hoạt động...Chúng ta đều nhận biết rằng đối
tượng hoạt động của cá nhân thường xuyên thay đổi. Ví dụ: thầy giáo đi dạy
học bài dạy hôm nay khác bài hôm qua...Phương tiện phục vụ cho hoạt động
cũng khác (hôm nay thầy dạy có Micro hỗ trợ, hôm qua có máy chiếu...).
Điều kiện hoạt động cũng thay đổi liên tục... Từ những yếu tố, đối tượng,
phương tiện và điều kiện phân tích trên làm thay đổi các cách thể hiện thao
tác hành vi cá nhân, cách biểu đạt cảm xúc, tình cảm cá nhân.
Như vậy, phần linh hoạt, cơ động của phong cách mà các cá nhân thể
hiện trong hoạt động của mình chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, có những
yếu tố chậm thay đổi như lứa tuổi, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe. Nhưng
có nhiều yếu tố tác động rất nhanh, thay đổi nhanh, đôi khi làm cho hành
động cá nhân mang tính bột phát, ngẫu hứng...Tuy nhiên, ngay cả trong
trường hợp thiếu các thông tin, dữ liệu để hành động thì các cá nhân hành
động bột phát và ngẫu hứng cũng khác nhau. Ví dụ: có người thận trọng, có
người kèm theo các lời nói hoặc cử chỉ hài hước... Vì vậy, chỉ riêng phong
cách ngôn ngữ nói chúng ta cũng nhận thấy có các phong cách: phong cách
ngôn ngữ nói giàu chất trí tuệ; phong cách ngôn ngữ khoa học; phong cách
ngôn ngữ nói giàu hình tượng...
Sự phối hợp hai thành phần của phong cách rất cơ động, tùy thuộc
vào đối tượng, điều kiện và phương tiện hoạt động. Tuy nhiên, nhìn toàn

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status