Nghiên cứu thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa tâm lý học
NGUYỄN THỊ THANH LIÊN NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON CÓ CHỨNG TỰ KỶ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Hà Nội - 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
*** NGUYỄN THỊ THANH LIÊN


4. Đối tượng, Phạm vi và khách thể nghiên cứu
3
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………
3
6. Giả thiết nghiên cứu…………………………………………………
3

Chương1. Cơ sở lý luận
4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
4
1.1.1 Các nghiên cứu về tự kỷ……………………………….
4
1.1.2 Các nghiên cứu về thái độ của cha mẹ đối với trẻ tự kỷ
5
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài ……………………………….
8
1.2.1 Khái niệm thái độ ……………………………………….
8
1.2.2 Khái niệm tự kỷ ………………………………………
11
1.2.3 Khái niệm trẻ em, trẻ tự kỷ……………………………
13
1.3 Cấu trúc tâm lý của thái độ……………………………………
14
1.3.1 Quan điểm 3 thành phần trong thái độ…………………
14
1.3.2 Quan điểm về các thành phần riêng biệt……………….
21
1.4 Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ………………

32
2.3.6 Phương pháp phỏng vấn sâu …………………………
36
2.3.7 Phương pháp nghiên cứu trường hợp…………………
37
2.4 Tiến trình nghiên cứu
37
2.5 Các biến số
38
2.6 Tiểu kết chương 2………………………………………………
38

Chương 3. Kết quả nghiên cứu
40
3.1 Nhận thức của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ
40
3.1.1 Nhận thức về bản chất của tự kỷ
40
3.1.2 Nhận thức về khả năng phục hồi của trẻ tự kỷ
50
3.2 Tình cảm của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ
55
3.2.1 Sự chấp nhận của cha mẹ
55
3.2.2 Mong muốn của cha mẹ về con
61
3.3 Hành vi của cha mẹ đối với con mang chứng tự kỷ…………….
64
3.3.1 Hành vi khắc phục bệnh cho con của cha mẹ
66

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

C.A.R.S.
The chilhood autism raring scale
CĐ, TC
Cao đẳng, trung cấp
DSM- IV
Diagnostic and statistical manual of mental disorders
ĐTB
Điểm trung bình
ĐH
Đại học
ĐLC
Độ lệch chuẩn
GT
Giao tiếp
ICD- 10
th

The international classification diseases- 10
th

PTTH
Phổ thông trung học
TĐHV
Trình độ học vấn
TB

về nguyên nhân của chứng tự kỷ
45
Bảng 4
Nhận thức của cha mẹ về bản chất của hội chứng tự
kỷ
49
Bảng 5
Nhận thức của cha mẹ về các lĩnh vực phục hồi của
trẻ
51
Bảng 6
Sự khác nhau trong đánh giá của cha và mẹ về khả
năng phát triển của trẻ tự kỷ
54
Bảng 7
Cảm xúc của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ
56
Bảng 8
Mong muốn lớn nhất của cha mẹ đối với con có chứng
tự kỷ
61
Bảng 9
Tình cảm của cha mẹ đối với con là trẻ tự kỷ
65
Bảng 10
Hành vi giúp đỡ của cha mẹ trong việc khắc phục
bệnh cho con tự kỷ
66
Bảng 11
Hành vi ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày của cha mẹ

100

. 1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Gần 10 năm trở lại đây tại Việt Nam, Bệnh “tự kỷ” đƣợc nhiều
ngƣời quan tâm, nó đƣợc xem là một trong các dạng loạn tâm thần ở
trẻ em, là một sự hƣ hại trầm trọng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực phát
triển và gây ảnh hƣởng không tốt tới quá trình phát triển của trẻ, nhất
là kỹ năng giao tiếp và các quan hệ xã hội, kéo theo sự thoái triển của
nhiều chức năng tâm lý khác. Điều này không những làm cho trẻ không
thích ứng đƣợc với cuộc sống bình thƣờng mà còn là một gánh nặng cho
gia đình và xã hội.
Tỷ lệ trẻ tự kỷ trên thế giới ngày càng gia tăng. Qua nghiên cứu
tại Mỹ năm 1970 D.A.Treffert đƣa ra tỷ lệ cứ 100.000 trẻ lại có 7 trẻ
mắc bệnh tự kỷ, trẻ trai thƣờng gấp 3 lần trẻ gái. Gần đây nhất là năm
2000 cũng tại Mỹ, Patricia M.Rodier đã thống kê có từ 16 đến 20 trẻ
trên 10.000 trẻ mắc bệnh tự kỷ, các con số ngày càng tăng. Hiện nay ở
Mỹ có khoảng 1.500.000 ngƣời tự kỷ trong đó phần lớn là trẻ em và
ƣớc tính tỷ lệ này trên thế giới là 1/500 ngƣời.

nhất cho trẻ phát triển, hƣởng quyền lợi xứng đáng của trẻ em.
Bởi những lý do trên mà tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên
cứu thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phân tích thái độ của cha mẹ đối với con mang chứng tự kỷ, trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp các bậc cha mẹ chăm sóc, tạo
điều kiện để trẻ tự kỷ phát triển tốt hơn.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Khái quát những vấn đề lý luận về tự kỷ, chứng tự kỷ và lịch sử
nghiên cứu vấn đề. 3

- Điều tra, khảo sát thực tiễn: làm sáng tỏ thái độ của cha mẹ đối
với con mang chứng tự kỷ.
- Phân tích các trƣờng hợp điển hình và rút ra những kết luận về
tâm lý lâm sàng.
4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Thái độ của cha mẹ đối với con mang chứng tự kỷ.
4.2 Phạm vi và khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu rộng: 130 ngƣời là cha, mẹ của trẻ tự kỷ ở địa bàn
nội thành Hà Nội.
- Nghiên cứu sâu : 02 cặp cha mẹ của trẻ tự kỷ ở địa bàn Hà Nội.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phƣơng
pháp chính sau:
- Phƣơng pháp quan sát lâm sàng;
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu;

mắc chứng tự kỷ mà ông nghiên cứu thì có tới 1/3 trẻ có khó khăn về
học tập ở mức từ nghiêm trọng đến trung bình, 1/3 có khó khăn ở mức
trung bình và 1/3 ở mức trung bình thấp [21].
Sau khi Kanner công bố kết quả này, nhiều người tin rằng tự kỷ
không phải là một dạng rối loạn về thể chất mà là rối loạn về cảm xúc
và chính cách thức cha mẹ nuôi dạy con cái của mình đã gây ra mọi
vấn đề. Còn các bậc cha mẹ thì cảm thấy tội lỗi và không tin rằng họ
có thể giúp con mình đƣợc nữa.
Một khía cạnh khác mà ngƣời ta quan tâm qua công trình nghiên
cứu của Kanner là cha mẹ của hầu hết các trẻ mà ông quan sát đều có
trình độ, trí thông minh và giáo dục cao hơn mức trung bình; phần lớn
họ có nghề nghiêp hẳn hoi. 5

Nghiên cứu của Micheal Rutter
Micheal Rutter và các cộng sự nghiên cứu cho biết rằng những
tật chứng của bệnh tự kỷ phát sinh có thể từ thể chất mà không có liên
quan đến cách nuôi dạy con cái của cha mẹ. (Micheal Rutter, 1960)
Nhƣ vậy theo tác giả này, chẳng có mối liên quan nào giữa thái
độ của cha mẹ và sự phát triển của trẻ tự kỷ.
Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu của Collie,
S.Freud, Greak, Clancy, Schopher Họ là những ngƣời đã dày công
tìm hiểu về hội chứng tự kỷ. Có thể nói, cho tới ngày nay vẫn tồn tại
song song hai quan điểm khoa học trái ngƣợc về nguồn gốc của hội
chứng tự kỷ: Một bên cho rằng do thể chất gây nên, ngƣợc lại bên kia
cho rằng cách thức nuôi dạy con cái là nguyên nhân gây nên hội
chứng tự kỷ.
1.1.2 Các nghiên cứu về thái độ của cha mẹ đối với trẻ tự kỷ

Giai đoạn tuyệt vọng
Sau khi định bệnh (tức là xác định triệu chứng bệnh bằng các dấu
hiệu) và biết là không có cách chữa, họ tin rằng khi lớn lên trẻ vẫn
giữ tình trạng nhƣ hiện tại. Điều này khiến họ khó chấp nhận đƣợc.
Giai đoạn chối bỏ
Đôi khi họ tin rằng bác sĩ kết luận sai, con họ vẫn biết nhiều điều
và không có bệnh gì, hay bệnh không nặng nhƣ bác sĩ nói và cũng
không cần phải trị liệu gì. Hình thức phủ nhận thƣờng thấy nhất là cha
mẹ tin rằng giai đoạn có những trục trặc của con rồi sẽ qua đi.
Nghiên cứu của các tác giả theo quan điểm Văn hoá
Các nhóm văn hoá khác nhau có thái độ khác nhau đối với việc
con mình mắc chứng tự kỷ [16]. 7

Với gia đình ngƣời Á châu: nhất là ngƣời Trung Quốc, họ thấy
xấu hổ, trì hoãn việc trị liệu cho con, họ chống đối việc cho con mình
vào nhóm trẻ đặc biệt. Ngƣời mẹ thƣờng lo lắng cho con còn ngƣời
cha thì dửng dƣng. Và họ ít khi dự thính các nhóm tƣơng trợ trẻ.
Với gia đình ngƣời Mỹ, Úc: họ có thể chấp nhận hình thức tƣơng
trợ giúp cho con theo tính cộng đồng và đọc nhiều tài liệu có liệu
quan đến chứng tự kỷ.
Với gia đình ngƣời gốc Latinh (Nam Mỹ, Ý, Tây Ban Nha) họ
cảm thấy khó khăn nếu đứa con mắc chứng tự kỷ là con trai và nhất là
con đầu lòng. Ngƣời cha quan niệm rằng trẻ khuyết tật là sự nhục nhã
cho nam tính của họ, họ đổ lỗi cho vợ và muốn nhanh chóng chữa trị
cho con. Ngƣời mẹ dễ dàng chấp nhận khuyết tật của trẻ nhƣ việc trời
định và không muốn thay đổi gì ở con mình.
Mặc dầu chƣa có công trình khoa học nào đặt vấn đề nghiên cứu

Theo Gordon Allport (1991), thái độ là sự sẵn sàng trong phản
ứng, là trạng thái tinh thần hay thần kinh sẵn sàng để đáp ứng. Nó
đƣợc cấu tạo thông qua kinh nghiệm cá nhân, ảnh hƣởng trực tiếp hay
gián tiếp đến phản ứng của cá nhân đối với tất cả các đối tƣợng hay
hoàn cảnh mà nó liên quan [18].
G.Allport đã tính tới yếu tố bên trong, tuy nhiên ông nói “kinh
nghiệm” chỉ có trong bản thân mà chƣa tính đến yếu tố bên ngoài, đến
quan hệ xã hội, ông cũng không để cập tới vai trò của ý thức trong
thái độ.
Các tác giả tâm lý học mác xít đề cập đến khái niệm thái độ:
Miaxisew: Thái độ là hạt nhân tâm lý của nhân cách, hình thành
một cách có ý thức theo cơ chế chuyển dịch thông qua hoạt động và
giao tiếp mà con ngƣời tham gia vào, là một hệ thống trọn vẹn mang
tính chủ quan đối với hiện thực khách quan. Nó quyết định sự phản
ứng trong hành vi đối với những tác động đến từ bên ngoài. Tất cả các 9

tổ chức cấu thành tâm lý con ngƣời từ đơn giản đến phức tạp đều có
liên quan đến con ngƣời và những chức năng tâm lý khác đều có thể
xem nhƣ một dạng của thái độ [5].
Platonov: Thái độ là một cấu thành tích cực của ý thức cá nhân,
là mối quan hệ ngƣợc chủ thể- thế giới. Nghĩa là con ngƣời và thế
giới bên ngoài tác động qua lại lẫn nhau và nó đƣợc thể hiện trong
hành vi của cá nhân [5].
Theo các tác giả tâm lý học mác xít, chính mối quan hệ xã hội mà
cá nhân tham gia vào bằng hoạt động và giao lƣu của mình đã quyết
định thái độ của cá nhân đó trƣớc những tác động của hiện thực khách
quan.

Bản chất của thái độ đƣợc thể hiện ở 3 mặt, tạo nên cấu trúc của
nó, trong đó:
- Mặt nhận thức: gồm những quan điểm, sự đánh giá, hiểu biết
của cá nhân về đối tƣợng nào đó.
- Mặt tình cảm: là những cảm nhận của ngƣời nào đó đối với đối
tƣợng nhất định.
- Mặt hành vi: bao gồm xu hƣớng hành động của ngƣời nào đó
đối với đối tƣợng của thái độ.
1.2.2 Khái niệm tự kỷ
Định nghĩa tự kỷ
E.Bleuler (1911, Thụy Sĩ): Tự kỷ là khái niệm dùng để chỉ những
ngƣời bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên
ngoài nữa mà sống với thế giới riêng của mình, bệnh nhân chia cắt
với những thực tế bên ngoài và lui về thế giới bên trong, khép mình
trong ham muốn riêng tƣ và tự mãn [17].
Leo Kanner: Tự kỷ là trạng thái thu mình cao độ của một số trẻ
em từ lúc mới sinh ra, triệu chứng đặc trƣng của bệnh là sự cô đơn, đó 11

là sự rối loạn từ cội rễ, những đứa trẻ này không có khả năng thiết lập
các mối quan hệ bình thƣờng với ngƣời khác và không ứng xử một
cách bình thƣờng với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống
[17].
Andre Guillain và Réné Psy: “Tự kỷ là rối loạn của quá trình phát
triển, các dấu hiệu chẩn đoán của nó thể hiện sự bất thƣờng trong các
lĩnh vực giao tiếp có chủ định, trong hoạt động biểu tƣợng và trong
lĩnh vực vận động” [15, 346].
Theo DSM- IV: “Tự kỷ là biểu hiện của sự phát triển bất thường

bật nhƣ mặt dài, tai dài…
• Với tâm thần phân liệt: thƣờng xuất hiện ở tuổi lớn hơn, rất ít
trẻ em đƣợc chẩn đoán là tâm thần phân liệt trƣớc 13 tuổi. và đáp ứng
các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt.
• Với chậm phát triển tâm thần: họ có quan hệ với ngƣời khác, có
sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và các chức năng không tách biệt nhau.
• Với loạn thần phân rã (bao hàm hội chứng Heller, loạn thần
cộng sinh, mất trí trẻ em). Đặc điểm của rối loạn này là:
+ Có một thời kỳ phát triển bình thƣờng từ 2- 4 năm
+ Tan rã hành vi
+ Mất các kỹ năng nhận thức nặng và nhanh
+ Mất thích thú các vật
+ Biểu hiện thoái lùi nặng (đái dầm, ỉa đùn)
Phân loại tự kỷ
* Phân loại quốc tế ICD - 10 và DSM - IV chia tự kỷ thành 2
loại: 13

Tự kỷ điển hình: Tự kỷ bẩm sinh (phát triển ngay khi sinh hoặc
rất sớm sau sinh) các triệu chứng xuất hiện ngay sau sinh đến trƣớc 3
tuổi.
Tự kỷ không điển hình: Tiền sử phát triển bình thƣờng tới 12- 30
tháng tuổi, sau đó ngừng phát triển đột ngột hoặc thoái triển (mất các
kỹ năng đã có) và các triệu chứng khác của tự kỷ xuất hiện [6, 13].
Trong giáo dục, ngƣời ta sử dụng cách phân loại tự kỷ làm 3
nhóm: nhóm không phản ứng; nhóm thụ động; và nhóm chủ động
nhƣng kỳ quặc.
Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cách phân loại theo ICD-10

ngƣời. Nó bao gồm những quan điểm và hiểu biết của cá nhân về một
đối tƣợng nào đó của thái độ [18].
Nhận thức là quá trình phản ánh và tái hiện vào trong tƣ duy bản
thân sự vật hiện tƣợng để phát hiện ra thuộc tính bản chất và không
bản chất, quy luật giữa chúng trong hiện tại, quá khứ, tƣơng lai nhằm
cải tạo tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân con ngƣời. Quá trình
ấy diễn ra ở các mức độ: kinh nghiệm (về sự vật, hiện tượng, người
khác, nó mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến
và thiếu hệ thống); mức độ khoa học (các khái niệm được kiến tạo
một cách chặt chẽ, có hệ thống với ý thức về phương pháp và những
giai đoạn tư duy để chứng nghiêm).
Nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở những
mức độ khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện
thực khách quan. Quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong
tƣ duy của con ngƣời diễn ra liên tục, là quá trình tiếp cận, tiến gần
đến chân lý nhƣng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không
bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực và bởi hiện thực khách quan luôn
luôn phát triển. 15

Ngƣời ta đề cập đến nhận thức nhƣ một mặt tích cực của con
ngƣời, đến khả năng phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ
bản chất của hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của
chủ thể. Con ngƣời sống trong điều kiện tự nhiên, môi trƣờng xã hội,
muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải nhận thức đƣợc quy luật tự
nhiên và xã hội để cải tạo nó, đồng thời cải tạo chính bản thân mình.
Trong quá trình nhận thức, con ngƣời không chỉ nắm vững kiến
thức mà còn hoàn thiện dần cách suy nghĩ của mình. Quá trình nhận

ra với tƣ cách là phƣơng tiện biểu đạt, khái quát và gìn giữ kết quả
hoạt động nhận thức của loài ngƣời. Quá trình nhận thức đƣợc thúc
đẩy bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là ý chí của con ngƣời đƣợc hƣớng vào
việc giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội. Nhận thức của con ngƣời
mang tính chất lịch sử bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của
việc phát triển ra bản chất của sự vật, hiện tƣợng đƣợc quy định
không chỉ do khả năng của cá nhân nào còn do kết quả của hoạt động
nhận thức mà loài ngƣời đã đạt đƣợc dựa vào kho tàng tri thức có liên
quan, vào trí tuệ của nhân loại. Nói cách khác, kiến thức của mỗi
ngƣời đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận
thức tích cực của bản thân họ. Nhận thức là sản phẩm của sự phát
triển xã hội- lịch sử.
Với phân tích về mặt lý luận, trong đề tài này nhận thức của cha
mẹ về trẻ tự kỷ là sự hiểu biết của họ về bản chất của hội chứng tự kỷ
cũng như những cách thức hỗ trợ trẻ tự kỷ ở các mức độ khác nhau,
làm cơ sở cho việc định hướng điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vi
của họ đối với trẻ.
Bàn về các mức độ của nhận thức, nhà sƣ phạm ngƣời Mỹ
B.S.Bloom (1956) đã chỉ ra 6 mức độ của nhận thức từ thấp đến cao;
theo bản dịch của tác giả Đoàn Văn Điều (1995) cũng đƣa ra 6 mức
độ nhận thức. Các quan điểm này đều có ý nghĩa ở các góc độ phân 17

tích nhất định, chúng tôi tổng hợp lại, tham khảo thêm và đánh giá
nhận thức của cha mẹ trẻ tự kỷ trên hai mức độ là:
- Nhận thức cảm tính (biết): là quá trình nhận thức đầu tiên ở
mức độ thấp nhất, sơ đẳng nhất trong toàn bộ hoạt động nhận thức của
con ngƣời. Đặc điểm chủ yếu là phản ánh những thuộc tính bề ngoài,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status