1. Mở đầu
Sản xuất nông nghiệp luôn được coi là ngành sản xuất quan trọng, có tiềm
năng lớn của nước ta. Trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với rất nhiều khó
khăn, sản xuất nông nghiệp càng tỏ rõ vai trò rất quan trọng, góp phần bảo đảm an
sinh xã hội và an ninh lương thực, tăng kim ngạch xuất khẩu.
Vượt qua khó khăn, năm 2014, ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng
3,3%, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng phù hợp hơn với nhu
cầu thị trường, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 30,8 tỷ USD. Tuy nhiên, nông
nghiệp vẫn chưa thật sự phát triển bền vững: khả năng cạnh tranh của một số sản
phẩm nông sản chưa cao, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, chưa hình thành có hiệu
quả chuỗi giá trị nông sản, thu nhập của cư dân nông thôn thấp. Hướng tới sự phát
triển bền vững, giải pháp nào cho phát triển nông nghiệp nước ta đang là câu hỏi
lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu lý luận, hoạch định chính sách và chỉ đạo thực
tiễn.
Bài tiểu luận này sẽ chứng minh những khó khăn và thách thức khi thực thi
vấn đề “phát triển bền vững trong nông nghiệp” ở nước ta hiện nay và đưa ra một
số giải pháp để hướng đến việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
2. Nội dung
2.1. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của toàn xã
hội loài người mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo và
xuất bản. Điều quan trọng nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện
chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường, để giữ gìn tài
nguyên cơ bản nhất cho thế hệ mai sau.
Theo FAO: Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên
cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn
và cải tạo tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
(FAO, 1989).
Nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững thường bao gồm 3 thành phần
cơ bản:
1
y, chất kích thích tăng trưởng… gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức
độ ô nhiễm và suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tính trạng ô nhiễm môi
trường nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời sẽ mang lại những hậu quả hết
2
sức nghiêm trọng, đe dọa sản xuất trong nước và khả năng cạnh tranh của nông sản
Việt Nam trên thị trường.
Nhiều loại dịch bệnh như dịch rầy nâu, đạo ôn trên lúa đang gây nhiều khó
khăn cho việc sản xuất lúa ở nước ta vì hậu quả mà nó mang lại là rất nặng nề.
Hiện nay theo khuyến cáo của các chuyên gia nông nghiệp, nếu 10% diện tích sản
xuất lúa chính bị nhiễm bệnh thì Việt Nam sẽ phải ngưng xuất khẩu gạo để đảm
bảo an ninh lương thực và nếu tỷ lệ đó vượt quá 30% thì chúng ta sẽ phải nhập
khẩu gạo. Không chỉ ngành trồng trọt mà ngành chăn nuôi cũng gặp không ít các
khó khăn như bệnh lở mồm long móng, heo tai xanh, cúm gia cầm liên tục bùng
phát gây thiệt hại cho người chăn nuôi, chính vì vậy mà nông nghiệp Việt Nam
luôn đứng trước những thách thức vô cùng lớn.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta làm tăng thêm tính chất bấp bênh vốn
có của nông nghiệp. Trong thời gian qua trên khắp các vùng sản xuất nông nghiệp
phía Bắc của nước ta đã trải qua những đợt rét gây ảnh hưởng không nhỏ cho
ngành nông nghiệp. Các đợt rét đã gây ảnh hưởng không chỉ đến tiến độ gieo trồng
mà còn gây ra các bệnh như táp lá, vàng lá, rễ kém phát triển và làm cho mạ chết
tập trung.
Tình trạng sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp hiện nay cũng rất
đáng báo động đẫn đến nguy cơ đất nông nghiệp bị thoái hóa, bạc màu. Trong khi
đó, các công ty trong lĩnh vực chế phẩm sinh học của ta lại rất yếu, nhiều sản phẩm
nhập từ nước ngoài về đã quá hạn sử dụng hoặc đã bị cấm sử dụng trên thế giới,
chính vì vậy mà gây khó khăn thêm cho phát triển nông nghiệp. Sử dụng quá mức
các đầu vào hóa học Nông nghiệp càng phát triển thì các đầu vào có nguồn gốc hóa
học như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, các vật tư thiết bị như nilon, chất dẻo
dịch vụ chưa coi trọng thị trường nông nghiệp nói chung.
Đời sống của người nông dân tuy được cải thiện nhưng vẫn còn nghèo. Dù
chúng ta đã đạt được nhiều thành quả về xuất khẩu lúa gạo và các nông sản phẩm
khác nhưng nông dân trồng lúa chúng ta thì vẫn là những người nghèo về vật chất
và tinh thần. Mặc dù sản lượng lương thực mỗi năm lại tăng hơn 1 triệu tấn nhưng
thu nhập của nông dân thì vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu. Cả nước còn 2,25
triệu hộ nghèo, chiếm 14,5% số hộ cả nước, trong đó 90% thuộc khu vực nông
thôn. Có 300.000 hộ còn thiếu đói thường xuyên và 400.000 hộ sống du canh, du
cư. Chênh lệch mức sống dân cư giữa thành thị và nông thôn ngày càng dãn rộng.
Hiện nay, độ dãn này cách nhau khoảng 5 lần.
Điều đáng lo ngại nhất là nguồn lao động nông nghiệp tuy dồi dào nhưng lao
động qua đào tạo chỉ chiếm 24%, ở nông thôn nơi trực tiếp sản xuất chỉ có 13%.
Trình độ canh tác của đại bộ phận người dân tham gia sản xuất nông nghiệp còn
thấp và chưa đáp ứng được với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn. Ngoài ra, đặc điểm chung trong sản xuất nông nghiệp ở các
4
huyện miền núi nước ta hiện nay có trình độ, tập quán canh tác của người dân còn
thấp, hầu hết chưa theo đúng khung thời vụ nên ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất,
chất lượng của các mặt hàng nông sản.
Sản xuất nông nghiệp ở một số vùng của nước ta còn mang nặng tính tự phát
của người dân, trong khi sự định hướng, hỗ trợ, tư vấn rõ ràng của nhà nước, chính
quyền địa phương còn thiếu. Thói quen “ phường hội”, nặng về lợi trước mắt dẫn
đến chỗ người dân phá lúa chuyển sang nuôi trồng thủy sản tràn lan. Sản xuất nông
nghiệp luôn xảy ra tình trạng tự phát, làm theo phong trào như cá ba sa; chưa giải
quyết xong hậu quả dư thừa do phát triển quá mức lại lo thiếu nguyên liệu vào vụ
tới; phá cây ăn quả đồng bằng sông Cửu Long để trồng lúa, cà phê, hồ tiêu... nông
dân phải tự mầy mò, lựa chọn loại cây trồng, vật nuôi, giải pháp kỹ thuật, thị
trường bán sản phẩm. Nguyên nhân chính là do nông dân thiếu thông tin. Hiện nay,
công nghệ hạt giống chưa tiếp cận đầy đủ với trình độ cao của thế giới. Một số
chương trình lai tạo giống thiếu các bước nghiên cứu cơ bản, thiếu định hướng và
chưa tiếp cận với trình độ của thế giới.
Sản xuất nông nghiệp là ngành cần sử dụng nhiều các chế phẩm sinh học, tuy
nhiên các công ty hoạt động trong lĩnh vực này của nước ta lại rất yếu, không đáp
ứng đủ nhu cầu cho sản xuất do đó đã phải nhập nhiều sản phẩm từ nước ngoài về,
những sản phẩm này có thể đã hết hạn sử dụng hoạt đã bị cấm sử dụng trên thế
giới, chính vì vậy mà đã gây thêm khó khăn cho phát triển nông nghiệp.
* Thị trường
Các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp vẫn chưa phát triển, tỷ lệ thất thoát
sau thu hoạch còn cao. Nông nghiệp thiếu máy móc thiết bị, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, thuốc thú y…dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, vận tải, kho bãi, viễn thông
tăng trưởng chậm, giao thông nông thôn tuy đã được đầu tư nhưng chưa thật nhiều.
Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu
thị trường trong nước. Công nghệ và dịch vụ sau thu hoạch chưa phát triển, tỷ lệ
thất thoát sau thu hoạch của lúa từ 12% đến 14%, rau quả 30% ,tỷ lệ này là rất lớn.
Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp nông thôn không
theo kịp đà tăng trưởng kinh tế toàn xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng, thủy lợi phục
vụ tưới tiêu hoặc còn thiếu hoặc chưa được sử dụng hợp lý, bị hư hỏng do mưa lũ
nên chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.
Một khó khăn nữa của ngành nông nghiệp là giá cả vật tư nông nghiệp ngày
càng gia tăng trong khi giá thành sản phẩm tăng rất ít hoặc không tăng khiến người
sản xuất có thu nhập rất thấp làm cho người nông dân có xu hướng chuyển đổi
6
sang các loại giống cây trồng, vật nuôi cho thu nhập cao hơn gây ảnh hưởng đến cơ
cấu sản xuất của nông nghiệp.
Chất lượng nông sản cũng là một khó khăn của nông nghiệp Việt Nam. Mặc
dù nông nghiệp là ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta và là ngành duy nhất có
+ Cần có quy hoạch tổng thể quy mô quốc gia về mỗi loại hàng nông, lâm,
thủy sản phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu... Diện tích đã được
quy hoạch để canh tác các loại cây trồng nông nghiệp quan trọng phục vụ an ninh
lương thực (như lúa...) phải được giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
quản lý. Với cách làm này sẽ tránh được tình trạng diện tích nông nghiệp bị chuyển
đổi mục đích tùy tiện. Chiến lược phải được giao cho Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, nhân dân.
+ Trong quy hoạch sản xuất ở các đơn vị hành chính nhỏ hơn cần chỉ rõ loại
cây trồng, vật nuôi, số lượng, quy mô diện tích... ở từng khu vực cụ thể, đối với
một số cây trồng có thế mạnh như lúa, cà phê... phải chỉ rõ đến tận cánh đồng của
từng xã. Các thông tin này phải được công khai đến cơ quan chức năng của từng
địa phương và bà con nông dân. Các địa phương có trách nhiệm thường xuyên
tổng hợp số liệu hiện trạng về quy mô sản xuất, thông báo công khai để nông dân
tự xem xét nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của mình để ra quyết định, giúp
nông dân hạn chế sản xuất dư thừa, theo phong trào.
+ Điều chỉnh, bổ sung cập nhật quy hoạch phát triển nông - lâm - ngư nghiệp
trong từng vùng kinh tế và liên vùng theo hướng phát triển bền vững, gắn sản xuất
với thị trường, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến.
- Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng bền vững:
+ Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng, phát triển nông sản có
chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường trong nước và thị trường quốc
tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai, lao động và nguồn vốn),
nâng cao thu nhập trên một đơn vị ha đất canh tác, trên một ngày công lao động,
cải thiện đời sống nông dân; đa dạng ngành nghề và chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở
nông thôn.
+ Xây dựng chương trình đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào nông
nghiệp. Xây dựng và mở rộng mô hình hàng hóa ở vùng núi khó khăn.
- Xây dựng đề án sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp và nông thôn:
+ Xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao năng suất sử dụng đất, sử
3. Kết luận
Xây dựng một nền nông nghiệp bền vững là vấn đề có tính chiến lược quan
trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là một bộ phận hữu cơ trong
quá trình phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển bền vững
9
nông nghiệp là một biện pháp của phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước.
Trong điều kiện Việt Nam, sự thành công của quá trình xây dựng và phát triển nền
nông nghiệp bền vững sẽ tạo nền tảng quan trọng về kinh tế và xã hội để thúc đẩy
nhanh và bền vững tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển
bền vững nông nghiệp là nhiệm vụ chung của toàn bộ nền kinh tế, là điều kiện
quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, để phát triển nông nghiệp bền vững
gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Do đó, để thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững đòi hỏi phải có những bước đi vững chắc, phải thay đổi tập quán
sản xuất lạc hậu, phải áp dụng nhiều biện pháp khoa học, kỹ thuật tiên tiến vào sản
xuất, cần một nguồn vốn lớn và sự đồng thuận, nỗ lực to lớn của Nhà nước, các
cấp, các ngành, các địa phương và đặc biệt là của chính những người nông dân và
cộng đồng dân cư nông thôn.
MỤC LỤC
10
11