Cạnh tranh trung nhật tại khu vực đông nam á sau chiến tranh lạnh đến năm 2010 - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận với đề tài: “Cạnh tranh Trung - Nhật tại khu vực Đông Nam
Á sau Chiến tranh lạnh”, em thực hiện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
dưới sự động viên khích lệ của các thầy cô, bạn bè và gia đình.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Lịch sử,
đã đào tạo và trang bị cho em những kiến thức cơ bản giúp em thực hiện khóa
luận này. Đồng thời em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những
người đã động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để em có thể tiến hành
khóa luận thành công.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Thị Tuyết
Nhung đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa
luận.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, em không tránh khỏi những thiếu
sót kính mong các thầy cô nhận xét và góp ý để khóa luận của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực tập
Nguyễn Thị Tuyết


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả
nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của Th.S Nguyễn
Thị Tuyết Nhung, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu
khác.
Nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Tuyết


CẠNH TRANH TRUNG-NHẬT TẠI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á SAU
CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NĂM 2010 ................................................. 31
2.1.

CẠNH TRANH TRUNG - NHẬT TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM
Á SAU CHIẾN TRANH LẠNH (ĐẾN 2010) .................................... 34

2.1.1. Triển khai chính sách của Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Nam Á
sau Chiến tranh lạnh ..................................................................................... 34
2.1.1.1. Chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á................. 34


2.1.1.2. Chính sách của Nhật Bản đối với các quốc gia Đông Nam Á ......... 35
2.1.2. Vấn đề xây dựng cơ chế hợp tác khu vực .......................................... 44
2.1.3. Cạnh tranh chính trị - quân sự Trung - Nhật tại khu vực Đông Nam Á
sau Chiến tranh lạnh ..................................................................................... 46
2.1.4. Cạnh tranh kinh tế .............................................................................. 50
2.1.5. Cạnh tranh năng lượng và an ninh hàng hải ở Biển Đông ................... 58
2.2.

XU HƯỚNG CẠNH TRANH TRUNG - NHẬT TRONG TƯƠNG

LAI

........................................................................................................... 60

2.3.1. Tình hình Trung Quốc và Nhật Bản hiện nay ..................................... 60
2.3.2. Xu hướng cạnh tranh Trung - Nhật trong tương lai ............................. 61
2.4. TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH TRUNG - NHẬT ĐẾN KHU VỰC
VÀ VIỆT NAM ........................................................................................... 64

Xây dựng "lòng tin" trên mọi lĩnh vực.

Hợp tác tích cực để tăng cường quan hệ với các nước ASEAN và tạo dựng
hiểu biết lẫn nhau với 3 nước Đông Dương.


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trung Quốc và Nhật Bản từ lâu đều là những cường quốc có vai trò
quan trọng hàng đầu của khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và
tầm ảnh hưởng lớn với khu vực Đông Nam Á nói riêng. Từ khi bình thường
hóa quan hệ ngoại giao năm 1972, quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã
trải qua nhiều bước thăng trầm. Đặc biệt từ khi Trung Quốc trỗi dậy nhanh
chóng và gia tăng ảnh hưởng thì vấn đề cạnh tranh Trung - Nhật càng trở nên
nóng bỏng hơn, nhất là tại khu vực Đông Nam Á. Sự nghi kỵ phổ biến trong
nhân dân và thế hệ trẻ hai nước có thể thấy qua một cuộc khảo sát năm 2007:
46% sinh viên Nhật Bản và 57% sinh viên Trung Quốc có cái nhìn tiêu cực về
nước kia trong khi đó có tới 80% sinh viên hai nước được hỏi cho rằng quan
hệ Nhật Bản-Trung Quốc đang trong thời kỳ “tồi tệ”. Dù đây không phải là
một cái nhìn toàn cảnh nhưng điều đó cũng buộc người ta phải đặt ra những
câu hỏi rằng: Phải chăng đằng sau những nụ cười và cái bắt tay ngoại giao,
bên dưới những bài phát biểu “tan băng” được phát đi từ cả hai phía là cả một
tảng băng chìm sẵn sàng ngăn trở và làm nguội lạnh những kỳ vọng về sự
xích lại gần nhau giữa hai người khổng lồ châu Á.
Quan hệ Nhật - Trung thời hiện đại đã trải qua những bước đi thăng
trầm. Từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, do nhiều nhân tố thúc đẩy,
mối quan hệ này đã có nhiều biến chuyển tích cực. Tuy nhiên, sự bất đồng
trong nhiều vấn đề đang cản trở sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước.
Trên thực tế, đã có không ít bài khóa luận nghiên cứu về quan hệ Trung
- Nhật. Song bài khóa luận của em muốn tìm hiểu về cạnh tranh của hai quốc

Nguyễn Thanh Bình, Nhà xuất bản KHXH, năm 2004, đã tập trung viết về
quan Nhật – Trung trên các lĩnh vực kinh tế, an ninh, chính trị từ năm 1945 2002, nhưng chưa đi sâu vào vấn đề Cạnh tranh Trung - Nhật tại khu vực

2


Đông Nam Á, nên khóa luận cần tập trung làm rõ vấn đề Cạnh Trung - Nhật
tại khu vực Đông Nam Á.
Ngoài ra còn có công trình: “Quan hệ Trung - ASEAN - Nhật Bản trong
bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam” do PGS. TS Vũ Văn Hà chủ
biên, Nhà xuất bản KHXH, năm 2007. Đây là công trình phân tích trong quan
hệ song phương và đa phương giữa ba thực thể Trung Quốc - Nhật Bản ASEAN. Ở đây quan hệ Nhật - Trung được đề cập trong tương quan phân tích
với các cặp quan hệ khác. Phần quan hệ chính trị tuy đã được đề cập nhưng
chủ yếu tập trung về khía cạnh an ninh. Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào
vấn đề cạnh tranh Trung-Nhật tại Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh đến năm
2010, và tác động của nó đến Việt Nam. Vì vậy khóa luận đã tiếp thu được đi
tập trung vào vấn đề Cạnh tranh Trung-Nhật tại khu vực Đông Nam Á từ sau
Chiến tranh lạnh đến năm 2010, từ đó đưa ra tác động của nó đến Việt Nam.
Ở nước ngoài có cuốn “Tình hình quan hệ Trung - Nhật và những vấn
đề trước mắt”, của tác giả Ngự Chí, Người dịch. Hai bên vừa lợi dụng nhau
vừa không tin nhau, vừa nghi kỵ lẫn nhau, bởi vậy từ sau ngày “đặt quan hệ
ngoại giao” năm 1972 đến nay, không hề xây dựng được quan hệ tin cậy lẫn
nhau, ổn định lâu dài. Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu nghiên cứu quá trình cạnh
tranh Trung-Nhật tại Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh đến nam 2010. Do đó
Khóa luận đã trình bày Cạnh tranh Trung-Nhật tại Đông Nam Á sau chiến
tranh lạnh đến năm 2010.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như: Cuốn “ Nhập
môn nghiên cứu lịch sử quan hệ Nhật - Trung hiện đại”, của tác giả Yamane
Yukio, Fujii Joso chủ biên, Nhà xuất bản Kenbun Shuppan, Tokyo năm 1996.
Tác giả đã trình bày bước tiến triển cũng như một số trở ngại trong quan hệ

tại khu vực Đông Nam Á.
3. Mục đích, nhiệm vụ

4


3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nhằm trả lời câu hỏi nghiên
cứu:“Tại sao cạnh tranh Trung - Nhật lại trở nên căng thẳng sau Chiến
tranh lạnh, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á và cạnh tranh này diễn ra trên
những lĩnh vực nào?” để từ đó thấy được những tác động đối với khu vực nói
chung cũng như đối với Việt Nam nói riêng và chiều hướng phát triển của
cạnh tranh này trong tương lai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
Nghiên cứu cạnh tranh Trung - Nhật tại Đông Nam Á sau Chiến tranh
lạnh, và xu hướng cạnh tranh.
Tìm hiểu cơ sở, tiền đề thúc đẩy sự cạnh tranh quyết liệt giữa Trung
Quốc và Nhật Bản trước và sau chiến tranh lạnh. Vai trò của Đông Nam Á
với Trung Quốc và Nhật Bản.
Rút ra những ý kiến cho xu hướng cạnh tranh Trung Quốc - Nhật Bản
trong tương lai, từ đó tác động đến khu vực Đông Nam Á.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cạnh tranh giữa Trung Quốc và
Nhật Bản đã tác động đến khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói
riêng, qua đó đưa ra những nhận định và ý kiến riêng về mối quan hệ của hai
nước này trong thời gian tới cũng như vai trò của khu vực Đông Nam Á trong
chiến lược phát triển của các nước lớn và cách ứng phó.

6. Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận có thể coi là một trong những công trình bằng tiếng Việt
hiếm hoi lựa chọn hướng nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ ngoại giao Trung

6


- Nhật trong giai đoạn hiện đại. Đồng thời cũng làm rõ bức tranh ngoại giao
đa dạng, phức tạp lúc bấy giờ với quy mô mở rộng ra toàn thế giới, đặc biệt là
vào Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh.
- Khóa luận đã so sánh lực lượng thay đổi giữa Trung Quốc và Nhật
Bản từ sau chiến tranh lạnh cũng như chính sách của hai cường quốc với
nhau. Qua đó thấy được tầm quan trọng của Đông Nam Á trong chiến lược
của hai quốc gia này sau Chiến tranh lạnh và triển khai chính sách của từng
nước đối với khu vực.
Khóa luận cũng chỉ ra tác động của cạnh tranh Trung - Nhật đến khu
vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ đó đưa ra triển vọng
quan hệ Trung - Nhật trong tương lai dựa trên cơ sở lý luận của thuyết tự do.
- Khóa luận đã đề xuất một hệ thống tư liệu nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến đề tài. Đây có thể là tư liệu học tập, nghiên cứu đối với chuyên
ngành lịch sử nói chung, lịch sử quan hệ quốc tế thời cận đại nói riêng, đồng
thời cũng là tư liệu bổ ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Bố cục khóa luận
Về bố cục ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tư liệu tham khảo, nội
dung luận văn được trình bày theo hai chương:
Chương 1: Cơ sở tiền đề thúc đẩy cạnh tranh Trung - Nhật tại khu vực
Đông Nam Á
Chương 2: Cạnh tranh Trung - Nhật tại khu vực Đông Nam Á sau
chiến tranh lạnh đến năm 2010


vấn đề quốc tế. Liên Xô cũng không còn là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất bị
cô lập trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Hàng loạt nước xã hội chủ

8


nghĩa ở Đông Âu ra đời sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với Liên Xô đã tạo
thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới.
Đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triển mạnh
mẽ và lan rộng ở khắp các châu lục trên thế giới. Ngay trong chiến tranh, các
nước châu Á, châu Phi đã sát cánh cùng các lực lượng Đồng minh chống phát
xít trong những điều kiện khó khăn, gian khổ, góp phần không nhỏ vào sự
nghiệp chiến thắng phát xít, đồng thời chuẩn bị điều kiện cho cách mạng giải
phóng dân tộc sau khi chiến tranh kế tthúc. Cao trào cách mạng giải phóng
dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa đế quốc buộc các nước đế quốc phải thừa nhận nền độc lập của các dân
tộc. Trong bối cảnh đó, Mặt trận đồng minh chống phát xít, hình thành trong
chiến tranh, đứng trước nguy cơ tan rã. Những mâu thuẫn trong nội bộ các lực
lượng chống phát xít, vốn tạm thời dịu đi trong chiến tranh, nay ngày càng
bộc lộ công khai. Ngay trong giai đoạn cuối của chiến tranh, Mĩ đã nhìn nhận
Liên Xô như một lực lượng chính, có khả năng cản trở âm mưu bá chủ thế
giới của mình. Khi thất bại của phe phát xít chỉ còn là vấn đề thời gian, cũng
là lúc Mĩ bắt đầu triển khai chính sách kiềm chế Liên Xô. Quá trình tập hợp
lực lượng mới sau chiến tranh dựa trên cơ sở ý thức hệ và lợi ích quốc gia
được bắt đầu từ Hội nghị Ianta (2 - 1945), khi chiến tranh còn chưa đi đến hồi
kết.
Những quyết định của Hội nghị Ianta về những vấn đề quan trọng nhất
của thế giới sau chiến tranh đã trở thành nền tảng cơ sở cho việc thiết lập một
trật tự thế giới mới, thường được gọi là Trật tự hai cực Ianta. Hai nước đứng
đầu hai cực, Liên Xô và Mĩ, về cơ bản đã đạt được những mục tiêu mà mình

cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách như
khủng bố quốc tế, bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, tình trạng đói
nghèo, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo… mà không một
quốc gia riêng rẽ nào có thể giải quyết được. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác đa

10


phương, sự phối hợp giữa các quốc gia. Do đời sống kinh tế quốc gia đã và
đang được quốc tế hoá cao độ, do nhu cầu phát triển kinh tế, các quốc gia đều
phải năng động, linh hoạt thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan
hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả nhất. Những xu
thế trên tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên những động lực cộng hưởng làm
thay đổi sâu sắc nền kinh tế và diện mạo của quan hệ quốc tế. Tình hình đó
đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới phải có cách nhận thức đúng và kịp thời
để hoạch định một chính sách đối ngoại phù hợp với trào lưu chung của thế
giới, đồng thời nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Do đó sự sụt đổ
của Hai cực Ianta là điều tất yếu. Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ, trật tự
thế giới tồn tại gần nửa thế kỷ đã bị phá vỡ, cục diện thế giới và quan hệ
chính trị quốc tế thay đổi về cơ bản, dẫn đến hình thành trật tự thế giới mới và
tập hợp lực lượng mới. Trước hết, đó là sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại
của các nước lớn nhằm giành vị trí xứng đáng trong quan hệ quốc tế. Tất cả
các nước khác cũng đều tìm cách tác động một cách có lợi nhất cho mình vào
quá trình thiết lập trật tự thế giới mới. Từ sự đa dạng về lợi ích của các chủ
thể quan hệ quốc tế đã hình thành nhiều mối quan hệ song phương và đa
phương, làm cho tình hình thế giới càng thêm phức tạp. Các nước trên thế
giới đều ủng hộ một thế giới đa cực, có nhiều trung tâm, cân bằng lực lượng
giữa các bên, vì chỉ có trên cơ sở đó mới có thể giải quyết mọi tranh chấp, bất
đồng quốc tế bằng con đường đàm phán dân chủ, hòa bình.
Lợi ích dân tộc là tiêu chí hàng đầu của các quốc gia trong việc giải

cường duy nhất cũng không có khả năng kiểm soát thực tế toàn bộ các lĩnh
vực của đời sống quốc tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong kỷ
nguyên toàn cầu hoá khiến cho Mĩ không thể và không đủ khả năng thiết lập
một trật tự đơn cực mà phải dựa vào các cường quốc khác và các tổ chức
quốc tế, trong đó quan trọng nhất là Liên Hợp Quốc. Việc tái thiết Irắc sau
chiến tranh đã cho thấy thực tế đó. Bên cạnh đó, đặc điểm chủ yếu trong quan

12


hệ giữa các nước trong trạng thái “nhất siêu nhiều cường” hiện nay vẫn tiếp
tục là hợp tác, cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Quá trình toàn cầu hoá, khu
vực hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước đã tạo ra tình thế buộc các
nước phải vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhưng tránh đối đầu, xung đột và chiến
tranh.
Thứ hai, kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp
của các quốc gia và trở thành động lực chính của xu thế khu vực hoà và toàn
cầu hoá. Trong bối cảnh sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, các quốc gia đều nhận thấy vấn đề cấp bách hàng đầu là phải ra
sức tận dụng mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế. Cách
đặt vấn đề về an ninh, quốc phòng và kinh tế về cơ bản đã khác so với thời kỳ
chiến tranh lạnh. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia không còn tuỳ thuộc vào
sức mạnh quân sự, chính trị mà sức mạnh kinh tế nổi lên hàng đầu và trở
thành trọng điểm. Đồng thời, làn sóng tập hợp các quốc gia trong các tổ chức
khu vực địa lý, từ tiểu khu vực đến đại khu vực thành những khu vực mậu
dịch tự do đang diễn ra dồn dập ở hầu khắp các châu lục, thậm chí liên châu
lục. Trào lưu nhất thể hoá khu vực phát triển mạnh trong thập niên 90 của thế
kỷ XX, sẽ tiếp tục gia tăng cả về lượng và về chất trong những năm đầu thế
kỷ XXI, cùng với quá trình toàn cầu hoá sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh
vực của đời sống quốc tế.
Thứ ba, quan hệ quốc tế phát triển theo xu hướng hoà dịu nhưng năng

tiêu biểu là cạnh tranh của hai cường quốc Trung Quốc và Nhật Bản.
1.2. TÌNH HÌNH KHU VỰC
1.2.1. Di sản lịch sử đối với quan hệ Trung - Nhật
Mối quan hệ Nhật - Trung đã có từ rất sớm. Khoảng thế kỉ VI - VIII,
triều đình Nhật Bản đã chọn lựa những người tài giỏi và gửi sang Trung Quốc
để học tập và tiếp thu văn hoá tiên tiến của Trung Quốc. Trong suy nghĩ của
tầng lớp lãnh đạo Nhật Bản lúc bấy giờ hình thành hai thái độ đối với Trung

14


Quốc: kính nể hoặc phủ nhận. Đại đa số giới thượng lưu và trí thức Nhật Bản
đều nhận thấy văn hoá Trung Quốc là tiến bộ và cần học tập. Còn Trung Quốc
chỉ nhận thức Nhật Bản là nước láng giềng “kém” văn minh. Từ đó cho đến
trước thời đại Minh Trị, Trung Quốc luôn khẳng định vị thế nước lớn trong
quan hệ với Nhật Bản. Tuy nhiên, những đặc điểm về địa lý, lịch sử, văn hoá
đã tạo nên tinh thần tự tôn dân tộc rất mãnh liệt ở người Nhật Bản. Dù chịu
ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nhưng người Nhật không tiếp thu nguyên
vẹn mà đã cải biến nhiều yếu tố cho phù hợp với môi trường và văn hoá Nhật
Bản. Các Thiên hoàng Nhật Bản cũng luôn khẳng định ý thức ngang hàng với
các Thiên tử Trung Hoa. Duy nhất trong lịch sử Nhật Bản chỉ Ashikaga
Yoshimitsu (1358 - 1408), vị tướng quân thứ ba của dòng họ Ashikaga là
người nhận tước phong “quốc vương Nhật Bản” của các hoàng đế Trung Hoa
ban cho.
Sang thời kì Minh Trị, nhờ những biện pháp cải cách duy tân đất nước,
Nhật Bản đã thoát khỏi nguy cơ mất độc lập và trở thành một cường quốc
ngang hàng với các nước tư bản phương Tây. Từ đây, Nhật Bản bắt đầu thực
hiện tham vọng đế quốc của mình. Để thực hiện chủ trương “thoát Á nhập
Âu” trên tinh thần “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt qua
phương Tây”, Nhật Bản đã tiến hành các cuộc xâm lược ra bên ngoài. Đầu

Chính sự bất đồng về thái độ đối với lịch sử đã làm căng thẳng quan hệ hai
nước trong những năm đầu thế kỉ XXI. Nó kéo theo những tranh cãi về sách
giáo khoa lịch sử của Nhật Bản, về việc viếng thăm ngôi đền Yasukuni của
nhiều nhà lãnh đạo Nhật Bản…
Vào năm 1983, Nhật Bản đã ban hành bộ sách giáo khoa về lịch sử
trong đó phủ nhận những hành động tàn bạo mà quân phiệt Nhật Bản đã gây
ra ở nhiều nước châu Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Điều này đã làm
cho nhiều nước châu Á, nhất là Trung Quốc hết sức tức giận. Đến ngày
5/4/2005, Bộ Giáo dục Nhật Bản lại cho ban hành bộ sách giáo khoa lịch sử

16


mới dành cho bậc phổ thông, trong đó tô hồng quá khứ thời quân phiệt, không
dùng từ “xâm lược” khi nhắc đến cuộc chiếm đóng quân sự đối với các nước
Ccâu Á. Vụ thảm sát Nam Kinh từ tháng 12/1937 đến tháng 3/1938 được gọi
là một “vụ việc” trong đó “nhiều” người Trung Quốc bị giết. Trung Quốc
khẳng định, trong vụ thảm sát Nam Kinh đã có 300.000 người chết, trong đó
có nhiều phụ nữ và trẻ em, 20.000 phụ nữ bị cưỡng hiếp. Còn phiên toà xét xử
tội phạm chiến tranh do Mĩ tổ chức thì liệt kê khoảng 140.000 người chết.
Bộ sách giáo khoa lịch sử mới của Nhật Bản đã gây nên sự tức giận đối
với người dân Trung Quốc và nhiều nước Châu Á khác. Những vụ tấn công
người Nhật, đập phá cửa hàng người Nhật ở Trung Quốc từng liên tiếp xảy ra.
Đại sứ quán Nhật Bản ở Bắc Kinh cũng bị ném chai lọ, gạch đá. Phía Nhật
Bản thì cho rằng, Trung Quốc luôn cố gắng thổi phồng những vấn đề lịch sử
và không nhất thiết phải đưa tất cả tội lỗi của Nhật Bản trong thời kì chiến
tranh vào sách giáo khoa vì nó không đem lại tác dụng giáo dục lòng tự tôn
dân tộc cho học sinh Nhật Bản. Vì vậy, Trung Quốc có lí do để hiểu rằng
Nhật Bản chưa bao giờ nhìn nhận đúng đắn và có thiện chí sửa chữa sai lầm
của quá khứ.

bị dập tắt bởi những hành động tàn bạo của chủ nghĩa quân phiệt Nhật.
Trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật đưa ra chiêu bài xây
dựng “khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á” nhằm đặt các nước châu Á
vào vòng lệ thuộc. Chiến tranh thế giới thứ hai là thất bại đầu tiên của Nhật
trong việc thực hiện các tham vọng đế quốc của mình. Nhật Bản bại trận, phải
lệ thuộc vào Mỹ và mất hết ảnh hưởng ở châu Á.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật tập trung phát triển kinh tế và
nhanh chóng trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới (sau Mỹ). Từ sau
Chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật Bản đang ra sức tìm kiếm một vai trò chính trị
mới lớn hơn cho tương xứng với sức mạnh kinh tế - tài chính của mình. Hiện
nay, Nhật đóng góp 20% ngân sách của Liên Hợp Quốc nhưng lại không có

18


quyền quyết định đối với những vấn đề an ninh chính trị toàn cầu. Mục tiêu
mà Nhật đang theo đuổi là thúc đẩy nhanh quá trình tải tổ Liên Hợp Quốc và
tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho vị trí thường trực Hội Đồng
Bảo An Liên Hợp Quốc.
Nhưng những dấu ấn của quá khứ cộng với những hành động thể hiện
rõ tham vọng chính trị hiện nay của Nhật đã làm cho Trung Quốc lo ngại về
sự phục hồi chủ nghĩa quân phiệt. Trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ
nhất năm 1991, Nhật Bản lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai
kết thúc đã gửi quân đội của mình ra nước ngoài, mặc dù chỉ làm các nhiệm
vụ hoà bình như cứu hộ, vớt mìn trên biển… Sau sự kiện 11/9/2001, Nhật
cũng gửi quân đội đến Afganistan. Năm 2003, trong cuộc chiến vùng Vịnh
lần hai, Nhật cũng gửi quân đội đến Iraq. Đặc biệt, từ tháng 1/2007, Nhật đã
tiến gần đến việc sửa đổi Điều 9 trong Hiến pháp hoà bình 1946 khi chính
thức đổi tên “Cục Phòng vệ” thành Bộ Quốc phòng, cho phép triển khai quân
đội và những hành động quân sự bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản. Chắc chắn,

toàn có cơ sở. Những người theo dân tộc chủ nghĩa ở Nhật Bản lo ngại rằng
Trung Quốc là nhân tố gây bất ổn định ở Đông Bắc Á, nhất là khi quan hệ hai
nước vẫn còn nhiều bất đồng, tranh chấp. Điều đó đã cho thấy, tâm lí nghi
ngại lẫn nhau đang là vấn đề cản trở sự phát triển quan hệ hai nước Nhật Bản
- Trung Quốc.
Một thách thức lớn đối với quan hệ Trung - Nhật là tranh chấp lãnh thổ
đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và nhiều vấn đề lịch sử đến nay vẫn
chưa được hai bên giải quyết thấu đáo, tạo nên những rào cản trong quan hệ
song phương.
Thứ nhất về việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Nhật Bản
thì luôn cho rằng quần đảo này do một người Nhật phát hiện ra vào năm 1879
và được sát nhập vào lãnh thổ của Nhật từ năm 1895 theo Hiệp Ước
Shimonoseki. Còn Trung Quốc khẳng định nhóm đảo này thuộc về Trung

20


Trích đoạn Chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Na mÁ XU HƯỚNG CẠNH TRANH TRUNG NHẬT TRONG TƯƠNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status