Sự chuyển biến văn hóa nhật bản thời kỳ mạc phủ tokugawa (1600 1868) - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

PHÙNG THỊ BÌNH

SỰ CHUYỂN BIẾN VĂN HÓA
NHẬT BẢN THỜI KỲ MẠC PHỦ
TOKUGAWA (1600 - 1868)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa

Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN VĂN VINH

HÀ NỘI – 2013


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN VĂN HÓA NHẬT
BẢN TRƯỚC THỜI KỲ TOKUGAWA..................................................... 6
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội ............................................. 6
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 6
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 7
1.13. Điều kiện văn hóa ................................................................................ 13
1.2. Văn hóa Nhật Bản trước thời kỳ Tokugawa ........................................... 16
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................... 19
CHƯƠNG 2: SỰ CHUYỂN BIẾN CỦA VĂN HÓA NHẬT BẢN
THỜI KỲ TOKUGAWA (1600 – 1868) .................................................... 20
2.1. Bối cảnh lịch sử Nhật Bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc phủ

Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, mặc dù đã rất cố gắng
nhưng những vấn đề em trình bày trong khóa luận cũng không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy em kính mong nhận được sự chỉ bản tận tình của các
thầy giáo, cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn để khóa luận của em có
thể hoàn thiện hơn nữa.

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện

PHÙNG THỊ BÌNH


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
giáo viên hướng dẫn là thầy Nguyễn Văn Vinh. Các nội dung nghiên cứu và
kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào trước đây. Những tài liệu trong báo cáo phục vụ cho
việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn
khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng
một số nhận xét, đánh giá cũng như số tư liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức
khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa luận tốt nghiệp của mình.

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013
Tác giả
Phùng Thị Bình



dưới chế độ Mạc phủ Tokugawa văn hóa lại vươn lên và có sự chuyển biến
mạnh mẽ như vậy? Sự chuyển biến đó được thể hiện như thế nào? Ảnh hưởng
của văn hóa đối với đời sống của cư dân Nhật Bản và chế độ phong kiến thời
kỳ Tokugawa ra sao?....Để trả lời cho những câu hỏi đó cần tìm hiểu sâu và
toàn diện sự phát triển và chuyển biến của văn hóa ở Nhât Bản, đặc biệt là dưới
thời kỳ Mạc phủ Tokugawa. Để qua đó thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ và
độc đáo của nền văn hóa Nhật Bản. Với những lý do và ý nghĩa thực tiễn trên
tôi chọn đề tài “Sự chuyển biến của văn hóa Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ
Tokưgawa (1600 – 1868)” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã
hội của các quốc gia dân tộc thì việc tìm hiểu văn hóa, giao lưu văn hóa giữa
các quốc gia với nhau đang trở thành một vấn đề quan trọng. Trong lịch sử
Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ Tokugawa là thời kỳ thu hút được nhiều sự quan
tâm chú ý của nhiều nhà khoa học ở khu vực và trên thế giới. Trong đó, giới
nghiên cứu không chỉ quan tâm đến sự phát triển ổn định, thịnh vượng của
kinh tế, chính trị, xã hội thời kỳ này, mà có nhiều sự quan tâm hướng tới vấn
đề văn hóa.
Vì thế, khi nghiên cứu về Nhật Bản đã đạt được thàn tựu đáng kể, một
số các tác giả đã có những công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Trong
đó nghiên cứu về văn hóa như chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín
ngưỡng…cũng đã được nhiều tác giả đề cập đến, tiêu biểu như:
Năm 1989, tác giả Hữu Ngọc trong cuốn “Hoa anh đào và điện tử” đã
có những gợi ý về những thàn tựu đã đạt được của nền văn hóa đó qua các
giai đoạn lịch sử.
Năm 1990, Sam Son tác giả của hai tập “Lược sử văn hóa Nhật Bản”
đã miêu tả sơ lược về nguồn gốc và những đặc điểm của tín ngưỡng dân tộc ở
2



đã đạt được tác giả đi sâu nghiên cứu nhằm góp một ý kiến, đáp ứng nhu cầu
tìm hiểu về sự chuyển biến của văn hóa Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ
Tokugawa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài: tìm hiểu về sự chuyển biến của văn
hóa Nhật Bản thời kỳ Tokugawa, để thấy được sự tác động của nó đến sự phát
triển thần kỳ của Nhật Bản, đồng thời qua đó cũng thấy được sự khác biệt
giữa văn hóa Nhật Bản với văn hóa các nước trong khu vực.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu về bối cảnh lịch sử dẫn
đến sự chuyển biến của văn hóa Nhật Bản trên các lĩnh vực như xã hội, tôn
giáo tín ngưỡng, văn học – nghệ thuật, kiến trúc – điêu khắc... và những tác
động của sự chuyển biến văn hóa thời kỳ Mạc phủ Tokugawa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng kết hợp các phương
pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: sử dụng phương pháp này trên cơ sở
nghiên cứu các tài liệu, sự vật cụ thể. Bao gồm các thời kỳ có liên quan đến
văn hóa Nhật Bản, nhất là văn hóa thời kỳ Tokugawa, đưa đến sự chuyển biến
của văn hóa Nhật Bản thời kỳ Tokugawa như sự chuyển biến về tôn giáo tín
ngưỡng, về văn học nghệ thuật, về kiến trúc điêu khắc, về xã hội...
Phương pháp thống kê: phương pháp này dùng để thống kê, phân loại
các dữ liệu đã thu thập được, giúp người nghiên cứu nhìn nhận, phân tích
đánh giá được vấn đề mà đề tài đặt ra.
Phương pháp quan sát: sử dụng phương pháp quan sát trong quá trình
nghiên cứu để có cái nhìn nhận một cách toàn diện về nền văn hóa Nhật Bản
từ đó đi sâu tìm hiểu về sự chuyển biến của văn hóa Nhật Bản thời kỳ
Tokugawa.
4


Chương 1
CƠ SỞ CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN VĂN HÓA NHẬT BẢN
TRƯỚC THỜI KỲ TOKUGAWA

1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - văn hóa - xã hội
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Nhật Bản - “Xứ hoa Anh Đào” là một quần đảo phía Đông Bắc lục địa
Châu Á, nằm giữa biển Nhật Bản và Thái Bình Dương. Quần đảo này được
hình thành bởi những vụ nổ núi lửa cách đây hàng triệu năm. Nó bao gồm
4000 đảo lớn nhỏ uốn theo hình cánh cung rải từ Đông Bắc xuống Tây Nam,
với chiều dài khoảng 3.900km, từ vĩ độ Bắc 45033 đến 200 25. Nhật Bản có
tổng diện tích là 377.815km2. Tuy là một quần đảo nhưng Nhật Bản chỉ có 4
đảo lớn là: Hokkaido (Bắc Hải đảo); Honshu (Bản đảo hay Bản Châu);
Shikoku (Tứ Quốc); Kyushu (Cửu Châu).
Xét về mặt địa lý: Nhật Bản nằm ở một vị trí biệt lập cách xa đại lục,
khoảng cách từ Nhật Bản đến Trung Quốc là 800km, vùng gần miền Nam bán
đảo Triều Tiên là đảo Kyushu cách tới 180km. Có thể nói rằng, Nhật Bản đủ
xa Châu Á để thoát khỏi các đột biến của lục địa nhưng lại đủ gần để có thể
ảnh hưởng những thành quả của một nền văn minh đa dạng và phong phú. Từ
xa xưa, quần đảo Nhật Bản luôn giữ mối quan hệ với lục địa Châu Á qua ba
con đường: phía Bắc từ miền Đông Xibia đến Hokkaido qua Sakhalin; phía
Đông từ bán đảo Triều Tiên đến Honshu và phía Nam từ đất Trung Hoa đến
đảo Kyushu qua Đài Loan và quần đảo Ryukyu. Từ ba con đường này, Nhật
Bản có mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa từ lâu với thế giới. Tuy nhiên,
tính chất “đảo” ấy đã tạo nên ở Nhật Bản một hoàn cảnh địa lý rất đặc biệt.
Bên cạnh những thuận lợi thì tự nhiên Nhật Bản cũng ẩn chứa nhiều thử thách
thường trực và những tai họa khủng khiếp như: bão tố, sóng thần thường

6

7


khích ngành kinh tế truyền thống này phát triển. Do đẩy mạnh khai hoang mà
diện tích đất trồng trọt không ngừng được mở rộng. Nhiều vùng đất khô cằn,
đầm lầy trước đây đã được cải tạo thành đất canh tác cùng với quá trình xây
dựng mới và không ngừng hoàn thiện hệ thống tưới tiêu. Để tăng năng xuất,
nhiều loại phân bón từ động, thực vật đã được sử dụng và trở thành tập quán
quen thuộc của nhân dân Nhật Bản thời kỳ này. Thóc giống cũng đã được cải
tạo và việc Nhật Bản nhập về một số loại giống mới đã giúp cho nông dân ở
nhiều nơi cấy được hai vụ lúa. Kết quả là, diện tích đất canh tác đã tăng lên
trong suốt thời kỳ Edo. Nếu so sánh vào đầu thế kỷ X, diện tích đất canh tác ở
Nhật Bản mới chỉ đạt 860.000 ha, giữa thế kỷ XV là 950.000 ha, đến năm
1600 vượt lên khoảng 1.640.000 ha, đến năm 1720 đã tăng lên 2.970.000 ha
và năm 1868 đạt trên 3.050.000 ha. Cùng với sự mở rộng về diện tích, sản
lượng lương thực của Nhật Bản đã tăng lên rõ rệt. Nếu như năm 1600, tổng
sản lượng lương thực mới chỉ đạt 19,7 triệu koku thì đến cuối thời kỳ Edo đã
vượt lên 48,6 triệu koku.
Như vậy, đất nông nghiệp của Nhật Bản đã tăng lên chủ yếu trong
khoảng thời gian từ năm 1550 đến năm 1650. Trong giai đoạn từ 1600 đến
1868 diện tích đất canh tác đã được mở rộng tới 1.410.000 ha. Trong đó chỉ
riêng 120 năm đầu của thời kỳ Edo diện tích đất mới khai phá đã tăng
1.330.000 ha (chiếm tỉ lệ 94%) nhưng trong những năm tiếp theo đất khai
hoang cũng chỉ tăng thêm 80.000 ha, tức là tăng 6% nữa mà thôi. Rõ ràng là,
không thể chỉ lý giải sự tăng trưởng vượt bậc về diện tích đất canh tác nông
nghiệp của Nhật Bản vào đầu thời kỳ Edo bằng sự phát triển tự nhiên và
những tiến bộ kỹ thuật. Chính sách khuyến khích nông nghiệp và chủ trương
miễn giảm thuế đối với các vùng đất mới khai phá là nhân tố có tính quyết
định dẫn đến việc mở rộng diện tích đất canh tác thời kỳ này. Đối với những
vùng đất mới khai phá, người canh tác thường được miễn giảm thuế hoặc phải

giống lúa cho năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương
9


mình để canh tác. Trong sự phát triển chung đó, đóng góp của những thành
tựu khoa học nông nghiệp là rất lớn. Thời Edo, Nhật Bản đã có một số nhà
nông nghiệp nổi tiếng như Yasusada Miyazaki (1623 - 1697) với cuốn bách
khoa thư về nông nghiệp (Nogyozensho, nông nghiệp toàn thư). Ngoài ra các
nhà nghiên cứu Eijo Okura (1768- ?), Shien Sato (1773 - 1850) cũng là tác giả
của hàng chục cuốn sách về tri thức nông nghiệp. Những thành tựu khoa học,
kỹ thuật nông nghiệp đó đã giúp người canh tác chủ động hơn trong quá trình
sản xuất đồng thời biết lựa chọn các phương pháp chăm bón và giống cây
trồng thích hợp.
Ngoài lúa là cây lương thực chính, nông dân còn trồng kê, lúa mì, đậu
tương, chàm, bông, dâu tằm… một số loại cây ngoại nhập như: khoai lang,
khoai tây, mía, lạc, ngô Ấn Độ, đậu Pháp, bí ngô, thuốc lá…cũng bắt đầu
được trồng ở Nhật Bản. Điều đáng chú ý là, nhiều diện tích trồng lúa trước
đây đã được chuyển sang chuyên canh một số loại cây công nghiệp hoặc đặc
sản của địa phương. Do đó từ một ngành sản xuất chủ yếu là để bảo đảm
nguồn lương thực, thực phẩm cho xã hội, nông nghiệp thời kỳ này còn hình
thành nên các khu chuyên canh. Sự phát triển của các khu chuyên canh không
những có thể tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa phong phú mà còn là
nguồn cung cấp nguyên liệu cho các xưởng thủ công. Đây có thể coi là một sự
chuyển biến về chất trong kinh tế nông nghiệp Nhật Bản.
Vào thời Edo, dưới tác động của tư tưởng Khổng giáo, nông nghiệp
được đề cao và được coi là nguồn sống của xã hội. Từ nhận thức đó, Mạc phủ
cùng nhiều lãnh chúa địa phương đã có những chính sách khuyến khích ngành
kinh tế này phát triển. Các tướng quân như Tokugawa Yoshimune (Đức
Xuyên Cát Tôn, 1684-1751) hay Masayuki Hoshino, lãnh chúa vùng Aizu;
Mitsumasa Ikada, lãnh chúa vùng Okayama; Yozan Uesugi cai quản vùng

11


đường, chè, chế biến hải sản; ngành công nghiệp khai thác mỏ, luyện kim, chế
tạo vũ khí.
Trên thực tế, trong một số ngành thủ công nghiệp cũng có sự phân công
cụ thể giữa các lĩnh vực hay công đoạn sản xuất khác nhau. Tuy nhiên, về tổ
chức cũng như tính chất có thể chia làm hai loại hình chính: 1. Những cơ sở
thủ công truyền thống, quy mô nhỏ và thường không có kế hoạch sản xuất cụ
thể. 2. Những cơ sở sản xuất mới, có quy mô lớn, thiết bị tương đối hiện đại,
sản xuất theo kế hoạch và nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Tuy vậy, ngay cả
ở loại sản xuất thứ hai, ngoại trừ một số ngành như luyện kim, khai mỏ…còn
thì phần lớn các công xưởng xưởng thủ công vẫn được tổ chức dưới hình thức
lao động phân tán. Trong đó, hộ gia đình với tư cách là những mắt xích trong
dây chuyền sản xuất giữ vị trí trọng yếu nhất.
Nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển cũng kéo theo sự phát triển
của hoạt động kinh tế thương mại. Sự phát triển của thành thị với tư cách là các
trung tâm kinh tế là một nhân tố quan trọng tạo nên diện mạo mới trong xã hội
Nhật Bản. Vào thời Edo, Nhật Bản có tới 200 thành thị và cảng thị. Tuy các
thành thị đó có quy mô dân số, vị trí lịch sử, văn hóa và kinh tế khác nhau nhưng
đó là nơi tập trung những chuyển biến nổi bật nhất của kinh tế Nhật Bản, đồng
thời có vai trò dẫn dắt sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
Trừ một số ngoại lệ, những thành thị lớn ở Nhật Bản thời Edo đều vốn
là thủ phủ hành chính của các Daimyno. Do đó, ngoài điều kiện tự nhiên, vị
trí kinh tế thì chính sách của các cấp chính quyền cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến khuynh hướng và mức độ phát triển của mỗi thành thị ở Nhật Bản thời kỳ
này. Trong các thành thị đó, tầng lớp thương nhân ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế. Thông qua các hoạt động kinh doanh,
nhiều thương nhân đã tích lũy được nguồn của cải lớn và trở thành một lực
lượng xã hội có thế lực.

13


Văn hóa Nhật Bản rất độc đáo, tuy nhiên trong quá trình lịch sử, ngoài
văn hóa bản địa, người Nhật cũng tiếp thu ảnh hưởng các nền văn hóa khác
như văn hóa Trung Hoa, Triều Tiên, Ấn Độ và phương Tây sau này, tạo nên
sự phong phú đa dạng. Trước hết người Nhật tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa, từ việc trồng lúa nước đến hàng loạt các phong tục, tập quán, tín
ngưỡng của văn hóa nông nghiệp. Người Nhật cũng tiếp thu kỹ thuật làm đồ
gốm, kỹ thuật in bằng chữ rời từ Triều Tiên và sau này là nền khoa học hiện
đại vơi lối sống công nghiệp từ phương Tây. Thế nhưng, người Nhật vẫn giữ
được lối sống của văn hóa bản địa mang bản sắc riêng hòa hợp với thiên
nhiên, hài hòa với đất trời, mang đậm nét nhân văn và thể hiện rõ sự hòa trộn
cổ - kim, Đông – Tây, tạo ra nét đẹp riêng, thể hiện qua văn hóa giao tiếp, ẩm
thực, ăn uống, phong tục tập quán… Tất cả những cái đó đã bổ trợ cho nhau,
tạo thành lối sống văn hóa đẹp, giàu bản sắc của người Nhật Bản, ảnh hưởng
của tự nhiên đến lối sống thể hiện rất rõ, từ kiến trúc nhà cửa, đền chùa, lễ
hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng đến cách ăn mặc đều gần gũi với tự
nhiên. Từ sau khi mở cửa giao lưu với phương Tây, lối sống phương Tây làm
cho xã hội Nhật có những thay đổi lớn. Những nét văn hóa truyền thống chủ
yếu thể hiện trong các dịp lễ hội dân tộc và nếp sống cổ truyền. Ví dụ như, bộ
Kimoto truyền thống duyên dáng vẫn được người Nhật sử dụng, song chủ yếu
trong các dịp lễ hội hay trong những cuộc gặp gỡ trang trọng. Ngoài những
môn thể thao hiện đại của thế giới được du nhập từ ngoài vào, người Nhật vẫn
ưa chuộng môn Sumo truyền thống, thể hiện ý chí thượng võ theo tinh thần võ
sĩ đạo của người Nhật. Ở Nhật Bản có nhiều tập quán truyền thống bắt nguồn
từ ảnh hưởng của tự nhiên, nổi bật nhất là tục ngắm hoa anh đào vào mùa
xuân, xem bắn pháo hoa vào mùa hè và nhiều lễ hội dân gian khác. Do phải
thường xuyên đối diện với thiên nhiên dữ dội, người Nhật rất tôn trọng đức
tính kiên trì, kiềm chế, chịu đựng, từ đó mà hình thành lối sống tế nhị, nhã

15


yếu tố văn hóa nước ngoài mà không gạt bỏ các tập tục truyền thống đã có.
Có thể nói, nhân dân Nhật Bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiến văn
hóa của các nền văn minh thế giới. Ngay từ thời tiền sử, văn hóa Trung Hoa
đã thấm đượm trong văn hóa Nhật Bản. Do sự kết hợp giữa con người, điều
kiện địa lý và thiên nhiên độc đáo, tạo nên tính cách đặc trưng của con người
Nhật Bản.
Trước tiên là tính hiếu kỳ, nhạy cảm với văn hóa nước ngoài. Điều đó
có thể nói, không có một dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài như
người Nhật, họ không ngừng phát triển, theo dõi những biến đổi của thế giới
bên ngoài. Khi họ biết trào lưu nào đang thắng thế thì họ sẵn sàng chấp nhận,
học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không để lỡ thời cơ. Ví dụ như;
khi thấy văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, người Nhật đã nhanh chóng
tiếp thu nền văn minh ấy, nhưng họ rất ý thức về tài sản văn hóa của họ, một
nền văn hóa đã được trang trọng bồi dưỡng và tích lũy qua các thời đại lịch sử
vì thế người Nhật rất trân trọng nó.
Người Nhật có óc thẩm mỹ, sự bền bỉ, kiên trì cũng là tính cách của
người Nhật. Họ ưa chuộng cái đẹp, điều đó được thể hiện trong tính cách ăn
mặc, kiến trúc và lối sống. Những đặc trưng trong tính cách của người Nhật là
điều kiện thuận lợi cho sự tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đồng thời nó
giúp cho người Nhật Bản chủ động nắm bắt và cải tiến nền văn hóa ấy mang
màu sắc của dân tộc mình.
1.2. Văn hóa Nhật Bản trước thời kỳ Tokugawa
Cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, cũng giống như Triều Tiên và
Việt Nam, Nhật Bản chịu ảnh hưởng nhiều của nền văn minh Trung Hoa. Sự
lan tỏa và ảnh hưởng đó được thể hiện ngay từ những thời kỳ đầu của văn hóa
Nhật Bản.


17


đặt bằng sự chinh phục hoặc gần gũi, mà tự nguyện thậm chí nhiệt tình tiếp
nhận”. [Q5, tr125]
Trong thời kỳ đầu vay mượn chữ Trung Hoa hoàn toàn bằng cách
nghiên cứu nguyên bản, sau đó mượn chữ, mượn nghĩa, do sự vay mượn diễn
ra ở các thời kỳ khác nhau của triều đại Trung Hoa mà chữ Hán ngày nay có
nhiều cách đọc. Trong thời kỳ Nara, nhờ học tiếng Trung Hoa và nghiên cứu
sử Trung Hoa mà người Nhật đã có phương tiện ghi lại lịch sử, địa lý, các
phong tục tập quán, đồng thời nhận thức được về đời sống văn hóa xã hội của
mình, những điều trước kia chỉ được truyền miệng. Những cuốn sách sử, tập
thơ cho thấy rõ sự ảnh hưởng của quá trình giao lưu văn hóa Trung Quốc với
Nhật Bản, đặc biệt là trên lĩnh vực ngôn ngữ của Trung Quốc đã dần thấm sâu
vào Nhật Bản từ lúc nào không biết.
Bước sang thời kỳ Heian, chữ Hán có một vị trí quan trọng trong xã hội
Nhật Bản cho nên mọi người đều tích cực học chữ Hán. Ở thời kỳ này, quan
hệ giữa Nhật Bản với bên ngoài phát triển mở rộng, nhưng chính nhờ vậy mà
Nhật Bản đã xây dựng cho mình một nền văn hóa độc đáo riêng có bản sắc
dân tộc phù hợp với tập quán và hoàn cảnh đất nước. Điển hình trong giao lưu
phát triển văn hóa dân tộc và bước ngoặt trong lịch sử văn hóa là việc phát
minh ra chữ viết Kana, một loại chữ mượn gồm có hai chữ Katakana và
Higarana. Chữ Katakana lấy một bộ phận chữ Hán làm ký hiệu để đọc, còn
chữ Higarana là loại chữ biến đổi từ chữ Hán thành chữ riêng của Nhật.
Bên cạnh chữ viết, Nhật Bản còn chịu ảnh hưởng của văn minh Trung
Hoa về mặt chính trị. Một trong những cách tân quan trọng của thái tử
Shotoku là việc cử một phái đoàn sứ giả đông đảo sang Trung Hoa để học tận
gốc ngọn nguồn của tri thức. Khi trở về họ đã trở thành những người lãnh đạo
có hiểu biết đồng thời mang được những tri thức khoa học, nghệ thuật và tư
tưởng của nền văn minh Trung Hoa vào Nhật Bản. Sự giao lưu của văn minh

2.1. Bối cảnh lịch sử Nhật Bản đầu thế kỷ XVII
Sau thắng lợi lịch sử ở Sekigahara năm 1600, Tokugawa Ieyasu lên
nắm quyền hành trên toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản. Đến năm 1603 Ieyasu tự
xưng là tướng quân (Shogun) và lập ra chính phủ quân sự riêng của mình ở
Edo (Giang Hộ), sau này gọi là Tokyo. Đây là một thời kỳ có những sự biến
đổi quan trọng trong lịch sử phong kiến quân sự ở Nhật Bản. Ieyasu đã tạo ra
một mô hình, khuôn mẫu của đất nước, theo đó để áp dụng trong mọi khía
cạnh của sự tồn tại quốc gia. Đặc biệt là thể chế chính trị và xã hội, đã được
con cháu duy trì tồn tại trong suốt 267 năm từ năm 1600 – 1868. Thời kỳ Edo
cũng là thời kỳ cuối cùng của chế độ Mạc Phủ và là giai đoạn phát triển đến
đỉnh cao nhất của phong kiến Nhật Bản với tầng lớp võ sĩ là trung tâm.
Tokugawa Ieyasu đã cải tổ thể chế chính trị, luật Buke Shohatto được
ban hành năm 1615, lập chế độ Bakuhan (phiên: lãnh địa), Shogun luôn tỏ ra
kính trọng và đề cao uy tín, nhưng cũng không để cho các Daimyo lợi dụng
danh nghĩa triều đình để chống lại Bakufu. Đồng thời phân chia xã hội ra
thành bốn đẳng cấp đó là sĩ, nông, công, thương và áp dụng theo chính sách
trọng nông, ức thương của Shogun Ieyasu.
Để duy trì, thống nhất cơ cấu chính trị - xã hội do Ieyasu tạo dựng lên,
các Shogun Tokugawa đã thực hiện chính sách Sakoku (bế quan tỏa cảng)
biệt lập với thế giới bên ngoài vào năm 1639.
Những người phương Tây đầu tiên đã đến Nhật Bản vào các thế kỷ
trước thời kỳ Muromachi. Các thương nhân Bồ Đào Nha đã đặt chân lên một
hòn đảo nhỏ ở phía Nam vào năm 1543, và đem vũ khí, súng đạn sang buôn
20


Trích đoạn Tác động trên lĩnh vực kinh tế chính trị Tác động trên lĩnh vực xã hội Tác động trên lĩnh vực giáo dục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status