Chuyên đề chủ nghĩa tư bản thời kỳ hoàng kim - Pdf 13

MỞ ĐẦU
Với gần năm thế kỉ tồn tại, Chủ nghĩa tư bản đã trải qua bao bước
thăng trầm để rồi trở thành một trong những chủ thể quan trọng nhất
quyết định tiến trình lịch sử nhân loại.
Giữa thế kỉ XVI, cuộc cách mạng tư sản Hà Lan đã mở ra thời kỳ
của Chủ nghĩa tư bản. Sau cuộc cách mạng tư sản Hà Lan một loạt các
cuộc cách mạng tư sản khác nổ ra ở châu Âu và Bắc Mỹ, Chủ nghĩa tư
bản được xác lập mang tính thế giới khi nó chi phối toàn bộ nền kinh tế
thế giới không loại trừ một quốc gia nào. Trong chặng đường phát triển
của mình, Chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái kinh tế xã hội có
vai trò ngày càng lớn đối với lịch sử nhân loại đặc biệt là quan hệ quốc tế.
Sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản được biểu hiện bằng đường hình sin
biểu hiện cho những thời kỳ phát triển và suy thoái. Có thể nói khủng
hoảng là căn bệnh kinh niên của Chủ nghĩa tư bản, là nguyên nhân sủa sự
suy thoái và trong lòng Chủ nghĩa tư bản chứa đựng đầy mâu thuẫn. Song
điều chúng ta khâm phục, điều chúng ta không thể phủ nhận được chính
là Chủ nghĩa tư bản có thể sống lại từ “bước đường cùng”, cải cách thể
chế và điều chỉnh khi khủng hoảng đã khiến cho Chủ nghĩa tư bản có thể
“kéo dài tuổi thọ”.
Trong những năm 1950 đến 1973, Chủ nghĩa tư bản bước vào thời
kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử của mình, thời kỳ mà sự phát triển đạt
đến đỉnh cao. Thời kỳ này được gọi là thời kỳ hoàng kim – Golden age
của Chủ nghĩa tư bản. Cho đến ngày nay, cả thế giới tư bản không thể lặp
lại thời quá khứ vàng son này một lần nào nữa.
1. Những đặc trưng của thời kỳ “Golden age” – Thời kỳ
vàng
Đặc trưng của giai đoạn này đã được thể hiện khá rõ ràng trong tên
gọi của nó “Golden age” – Thời kỳ vàng. Trải qua thời kỳ tái thiết sau
chiến tranh thế giới, từ những năm 50 của thế kỉ XX người ta chứng kiến
sự tăng trưởng nổi bật và gần như liên tục của tất cả các nước tư bản,
chưa bao giờ người ta biết tới một sự gia tăng về sản xuất công nghiệp và

quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế. Năm 1950 ở Mĩ có 40 triệu ô tô
lưu hành gấp 7 lần châu Âu. Số lượng ô tô được sử dụng ở Tây Âu tăng
gấp 10 lần trong vòng 20 năm (1950 – 1970). Trong đó, số lượng ô tô sử
dụng ở Tây Đức tăng nhanh nhất, từ gần nửa triệu tăng lên 17 triệu, ở
Pháp từ 1,5 triệu lên đến 14,5 triệu, năm 1949 khoảng 7,2% người dân
Anh có xe hơi đến năm 1966 tỷ lệ này là 50%.
[12]
Ngoài ra trong cơ cấu
các ngành kinh tế và vùng kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Tỷ trọng
trong nông nghiệp giảm, trong khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng
nhanh chóng. Các ngành công nghiệp cơ khí, hóa chất, điện tử, đóng tàu,
… có sự phát triển vượt bậc.
Ngoài ra, Thời kỳ vàng cũng là những năm chứng kiến sự tập trung
sản xuất và tư bản cao độ. Ở Mĩ đầu thế kỉ XX, quá trình Conglomerat
hóa – liên kết các công ty theo chiều dọc – đã dẫn đến sự hình thành của
các công ty xuyên quốc gia – hình thức của các tổ chức độc quyền hiện
đại. Các nước châu Âu liên kết trong một tổ chức chung Cộng đồng kinh
tế châu Âu EEC thành lập năm 1957.
Nguyên nhân đưa các nước tư bản bước vào thời kỳ vàng là nhờ
cuộc cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ hai đạt được nhiều thành
tựu xuất sắc. Sau chiến tranh, cuộc Cách mạng khoa học công nghệ đã
thực sự bắt đầu ở nước Mỹ và lan ra các nước trên thế giới. Đặc biệt
trong sản xuất, sự áp dụng Phương pháp Taylor – phương pháp sản xuất
dây chuyền (Taylor system) mà thành công nhất và đầu tiên và Hãng ô tô
Ford đã tạo ra một “chế độ tăng trưởng kiểu Ford”. Trải qua 5 năm, một
năng suất lao động tăng vọt kéo theo giá trị sản xuất công nghiệp tăng
mạnh. Năm 1948, giá trị sản xuất công nghiệp của các nước tư bản phát
triển cộng lại là 3,7 nghìn tỷ USD, đến 1973 là 12,1 nghìn tỷ. Trong gần
¼ thế kỉ, mức độ tăng trưởng đạt tới 5,6% mỗi năm về sản xuất công
nghiệp.

thúc đẩy thương mại toàn cầu phát triển.
1.3. Chính trị
Từ năm 1950 đến năm 1973 là giai đoạn đánh dấu sự tiếp tục phát
triển của nền dân chủ tư sản ở các nước tư bản, là thời kì khá ổn định.
Phần lớn các nước đã gạt các thành phần vô sản ra khỏi chính phủ, củng
cố bộ máy của nhà nước tư sản. Các nước tư bản mở rộng dân chủ tư sản,
kiện toàn hệ thống pháp luật Tư bản chủ nghĩa, làm cho xã hội thực hiện
được trạng thái “vừa có trật tự lại vừa có tự do”.
Ở Pháp năm 1958, nền Cộng hòa thứ năm được xác lập mở ra một
thời kỳ phát triển ổn định và vững mạnh hơn nền Cộng hòa thứ tư. Chính
phủ mới đã thực hiện những chính sách đối ngoại độc lập, thoát ra khỏi
những ảnh hưởng của Mỹ và NATO. Năm 1955, Đức gia nhập khối quân
sự NATO, khôi phục lại địa vị chính trị của mình, năm 1957 trở thành
thành viên của EEC và kí hiệp ước Hữu nghị với Pháp năm 1963. Nhật
Bản năm 1956 nhờ sự giúp đỡ của Mỹ gia nhập Liên hợp quốc và dần
dần khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế với tư cách là nền
kinh tế đứng thứ hai thế giới.
Tự do dân chủ tư sản còn cung cấp kênh bộc lộ thông thoáng
những bất mãn xã hội nhằm tránh ấp ủ hình thành tình thế tổng bùng nổ
kiểu “núi lửa”.
[2]
1.4. Xã hội
Tỷ lệ thất nghiệp giảm và mức sống của người dân ngày càng cao.
Mức tiêu dùng của người dân Tây Âu tăng trên 50% trong thập niên 1950
và 80% trong thập niên 1960, Thu nhập trung bình của người lao động ở
Mỹ tăng gấp hai lần trong những năm 1950 – 1975, thu nhập quốc dân
của Pháp tăng gấp 2 lần trong thập niên 50 và tăng gần 3 lần trong những
thập niên tiếp theo. Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 7,5% năm 1957 xuống
5,7% năm 1963. Tỷ lệ thất nghiệp ở Tây Đức giảm dưới 0,5%; Anh giảm
còn 1 – 1,9%.

lớn nhất thế giới và là biểu tượng của sự thần kỳ kinh tế Nhật Bản.
[12]
1.5. Hình thái ý thức văn hóa
Dòng chính là có lợi cho Chủ nghĩa tư bản phát triển ổn định. Thời
kỳ này người ta đề cao chủ nghĩa cá nhân tự do, quan niệm tôn giáo
“nhân quả báo ứng” có lợi cho việc bảo đảm an toàn cho chính phủ khi
cá nhân công dân sai sót là do cá nhân không nên oán trách chính phủ và
xin sự giải thoát ở Chúa. Thêm vào đó là sự nghiêm ngặt của xã hội cũng
góp phần làm trong sạch xã hội. Sự đề xướng văn hóa truyền thống kết
hợp với văn minh hiện đại đã hình thành tinh thần doanh nghiệp, tư tưởng
kinh doanh và quan niệm xã hội hiện đại, thích ứng với tiến bộ khoa học
kĩ thuật và yêu cầu phát triển.
2. Các nước tư bản thời kỳ “Golden Age”
Tuy mặt nhấn mạnh và điểm tập trung ở các nước là khác nhau,
vào các thời kỳ khác nhau và hình thức áp dụng cụ thể cũng không hoàn
toàn giống nhau, nhưng về tổng thể đều được thực hiện trên nguyên tắc
kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự điều tiết của Nhà nước theo học
thuyết Keynes.
Mô hình Mỹ được gọi là mô hình kinh tế thị trường tự do, sự khác
biệt của Mỹ thời kỳ này so với các nước khác là Mỹ rất tôn sùng chủ
nghĩa cá nhân và tính cạnh tranh thị trường, chính phủ quản lý lỏng đối
với các doanh nghiệp tư nhân, để cho các doanh nghiệp tự hoạt động, vai
trò chủ yếu của chính phủ là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân
này phát triển bằng các điều tiết vĩ mô.
Khác với Mỹ, nước Đức lại đòi hỏi kết hợp cá nhân tự do và nghĩa
vụ xã hội. Vì thế mô hình Đức được gọi là mô hình kinh tế thị trường xã
hội, theo đuổi lợi nhuận nhưng vẫn cung cấp bảo hiểm xã hội tương đối
phổ biến cho công nhân. Với chế độ “cùng quyết sách” công nhân Đức có
thể tham gia vào hội đồng quản trị các doanh nghiệp lớn. Nét đặc trưng
nhất của mô hình Đức là nguyên tắc “hiệp thương nhất trí”, dung hòa

Mặt khác, sự phát triển nhanh của nền sản xuất đã đưa các nước tư
bản trở thành một xã hội tiêu dùng thái quá dẫn đến sự thâm hụt của cán
cân thanh toán và tình trạng nợ nước ngoài tăng. Văn hóa cũng có sự thay
đổi chóng mặt có cả những nét tiêu cực. Nhật Bản đã không còn tôn thờ
tính độc nhất văn hóa, khiến họ khó hòa nhập với những nền văn hóa
khác trong bối cảnh mới.
Hạn chế lớn nhất mà thời kì này Chủ nghĩa tư bản mắc phải chính
là việc khai thác bừa bãi và ào ạt các tài nguyên thiên nhiên. Con người
đủ thông minh để hiểu được tài nguyên thiên nhiên không phải là thứ
vĩnh hằng nhưng không đủ vững vàng để vượt qua được cám dỗ của lợi
nhuận. Đặc biệt là Chủ nghĩa tư bản. Vì sao thời kì này Chủ nghĩa tư bản
khai thác ào ạt đến vậy? Lý do là sản xuất, các công ty mọc lên với tốc độ
chóng mặt, họ cần nguyên nhiên liệu. Vì thế đây là giai đoạn các nước ở
thế giới thứ ba vươn lên nhanh chóng. Đó là những nước giàu tài nguyên,
nhờ tài nguyên sẵn có mà họ giàu lên. Song “chơi đùa” với thiên nhiên sẽ
nhận được những hậu quả khôn lường.
Nền kinh tế “vàng son” khiến giới tư bản giàu lên nhanh chóng đã
kéo theo sự mở rộng của khoảng cách xã hội, sự phân biệt giàu nghèo
ngày càng lớn, những vấn đề mới nảy sinh khiến nhân loại đáng lưu tâm.
Những mâu thuẫn trong lòng Chủ nghĩa tư bản vẫn không thể giải quyết
được mặc dù giới tư bản đã có nhiều biện pháp nhằm xoa dịu mâu thuẫn
xã hội. Công nhân Phill Stallings – thợ hàn hãng Ford nói: “Tôi đứng một
chỗ trên một diện tích một mét nhân một mét. Chúng tôi chỉ ngừng đứng
vào khi dây chuyền ngừng lại và sản phẩm, tức là một chiếc xe, chúng tôi
phải làm gần ba mươi thao tác như vậy… Tiếng ồn thật khủng khiếp. Nếu
anh mở dây chuyền ra sẽ bị rất nhiều tia lửa từ bên trong bắn vào mình.
Đó là một vết bỏng, không thể nào chống lại tiếng ồn”.
[1]

Có thể thấy dù phát triển phồn vinh đến thần kỳ thì trong lòng Chủ

cũng không phải mô hình lý tưởng mà loài người hướng đến bởi trong
lòng nó còn chứa đựng nhiều bất công trong xã hội.
Sau khoảng hơn 50 năm, Việt Nam hiện nay có lẽ đang trải qua
những gì mà Chủ nghĩa tư bản đã trải qua trong những năm 50 của thế kỉ
trước. Thời hoàng kim của Chủ nghĩa tư bản cho chúng ta không ít những
bài học. Chỉ có điều chúng ta có nắm bắt được hay không. Nếu hiểu được
những nét đặc trưng của thời kỳ này, Việt Nam có thể có những bước tiến
vững chắc hơn. Việt Nam hiện nay đang có mức tăng trưởng khá cao và
được đánh giá là một trong số ít những nước ở châu Á sẽ có mức tăng
trưởng 2011 cao hơn năm ngoái. Các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam cũng yên tâm với nền kinh tế hiện giờ, chỉ số kinh doanh đo mức độ
hài lòng tăng từ 75 điểm lên 79 điểm.
[8]
Song điều đáng quan tâm là các
nước tư bản thời Hoàng kim cũng phát triển như vậy thậm chí mạnh mẽ
hơn nhưng hậu quả lớn nhất của sự tăng trưởng là việc khai thác tài
nguyên quá bừa bãi, nguồn tài nguyên nhanh chóng cạn kiệt, môi trường
ngày càng ô nhiễm. Việt Nam cần rút ra cho mình những bài học kinh
nghiệm giá trị từ những hậu quả mà Chủ nghĩa tư bản gặp phải năm 1973
sau một thời kỳ phát triển theo bề rộng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Michel Beand, (Người dịch: Hương Giang), Lịch sử chủ nghĩa
tư bản từ 1500 đến 2002, NXB Thế giới, 2002.
2. Tiêu Phong, (Người dịch: Nguyễn Vinh Quang, Hoàng Văn
Tuấn; Nguyễn Vinh Quang), Hai chủ nghĩa một trăm năm, NXB Chính
trị Quốc gia, 2004.
3. Đỗ Thanh Bình (cb), Nguyễn Công Khanh, Ngô Minh Oanh,
Đặng Thanh Toán, Lịch sử thế giới hiện đại, quyển 1, NXB Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2008.
4. Nguyễn Anh Thái (cb), Đỗ Thanh Bình, Đặng Thanh Toán,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status