1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ là siêu cƣờng duy nhất còn lại. Mỹ
muốn một mình hoạch định chính sách nhƣng vấp phải sự chống đối của các
cƣờng quốc khác. Mặc dù vậy, với ƣu thế về kinh tế và quân sự, Mỹ có vai
trò rất quan trọng trong việc định hình các mối quan hệ quốc tế. Trong xu thế
toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia, việc hoạch định chính sách và điều chỉnh chính sách
đối ngoại của Hoa Kỳ sẽ có những ảnh hƣởng to lớn đến các nƣớc khác, cũng
nhƣ đến các mối quan hệ quốc tế phức tạp hiện nay.
Tình hình quốc tế phức tạp cộng với ƣu thế vƣợt trội của Mĩ trên
trƣờng quốc tế kết hợp với tình hình chính trị – xã hội biến động trong nội bộ
nƣớc Mĩ đánh dấu bằng việc tổng thống G.W. Bush lên nắm quyền với chiến
thắng gây nhiều tranh cãi đã báo hiệu trƣớc một thời kì có nhiều chuyển biến
trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì. Đặc biệt, sự kiện khủng bố 11/9 đã
làm chính sách đối ngoại của G.W.Bush có nhiều thay đổi so với tổng thống
B.Clinton.
Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ tác động đến hầu hết các
khu vực, các quốc gia trên hành tinh chúng ta, đến chiều hƣớng phát triển của
tình hình quốc tế thập niên đầu thế kỷ XXI và cả trong những thập kỷ tới. Do
đó, việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của G.W.Bush là một điều hết sức cần
thiết.
Sự kiện 11/9 càng làm bộc lộ rõ hơn những định hình mới trong
chính sách đối ngoại đó. Các tuyên bố, văn kiện mới trong chính sách đối
ngoại của G.Bush đã làm dấy lên cuộc tranh luận sôi nổi trong giới học thuật
về những điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kì dƣới thời tổng thống
G.W. Bush.
Từ những lí do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài :"Sự điều chỉnh chính
sách đối ngoại của Hoa Kỳ dƣới thời tổng thống Geogre W.Bush so với tổng
thống Bill Clinton" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Nhà sử học David Kenedy trên tờ Atlantic (3/2005) cho rằng các
nguyên tắc chính sách đối ngoại của Bush đƣợc kế thừa từ Willson, phù hợp
với các mục tiêu đối ngoại Mỹ trong lịch sử, chỉ có hành động tấn công trƣớc
3
là chƣa từng thấy. Tuy nhiên, ông tập trung vào mục tiêu hơn là biện pháp
thực hiện của Bush và không giải thích đƣợc cả hai đặc trƣng này.
Trong cuốn Surprice, Secrity and the American Experience (2004),
Gaddis ca ngợi Chiến lƣợc an ninh quốc gia của Bush nhƣ sự tích hợp các
truyền thống đối ngoại của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Gaddis không giải thích tại
sao những đe doạ sau 11-9 quá mới tới mức tổng thống từ bỏ chiến lƣợc can
dự và kiềm chế. Ông cũng không tìm ra đƣợc luận điểm biện minh cho cuộc
chiến tranh của G.W.Bush.
Những công trình nghiên cứu trên khá toàn diện về chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ dƣới thời tổng thống G.W.Bush. Tuy nhiên, những công
trình đó mới chỉ phác thảo đƣợc những nét cơ bản trong chính sách đối ngoại
của tổng thống Bush mà chƣa nghiên cứu sâu sắc, tập trung vào vấn đề điều
chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong hai nhiệm kì của tổng thống
G.Bush, những tác động của nó đối với thế giới, khu vực và Việt Nam, đặc
biệt chƣa làm bật đƣợc những nét điều chỉnh của tổng thống G.Bush so với
tổng thống Bill Cliton.
3. Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích của Khoá luận là làm sáng tỏ tác động của tình hình quốc tế,
trong nƣớc đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dƣới thời tổng
thống G.W.Bush, điểm giống và khác so với chính quyền Bill Clinton; tác
động của của những điều chỉnh đó tới thế giới, khu vực nói chung và Việt
Nam nói riêng nhƣ thế nào.
Để đạt đƣợc mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của khoá luận
là:
cứu để thấy rõ hơn các nội dung cần trình bày.
6. Đóng góp của khóa luận
Dƣới góc độ lịch sử, khoá luận nghiên cứu một cách hệ thống sự điều
chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dƣới thời tổng thống G.W.Bush so
với tổng thống Bill Clinton, đề cập chi tiết đến những nội dung điều chỉnh với
những so sánh, đánh giá.
5
Từ việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dƣới thời tổng thống
G.W.Bush so với tổng thống Clinton, làm nổi bật lên phƣơng thức, biện pháp
thực hiện trong chính sách đối ngoại của hai tổng thống, tác giả rút ra một số
tác động đối với nƣớc Mỹ và thế giới.
7. Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khoá luận gồm 3 chƣơng chính:
Chƣơng 1: Cơ sở điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dƣới thời
tổng thống G.W.Bush.
Chƣơng 2: Nội dung điều chỉnh chính sách đối ngoại của tổng thống
G.W.Bush
Chƣơng 3: Tác động của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ dƣới thời tổng thống G.W.Bush.
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ CỦA SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI CỦA HOA KỲ DƢỚI THỜI TỔNG THỐNG W.BUSH
1.1 Bối cảnh thế giới
Tình hình kinh tế, chính trị thế giới thập niên đầu thế kỷ XXI
Kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới trong thập niên đầu thế kỷ XXI có một số đặc
giảm nguy cơ chiến tranh huỷ diệt.
Sự phát triển kinh tế là tiêu chí phấn đấu của mọi quốc gia. Cạnh tranh
kinh tế sẽ diễn ra quyết liệt trong cơn lốc toàn cầu hoá mà lực lƣợng chi phối
vẫn là ba trung tâm tƣ bản chủ nghĩa và các nƣớc lớn. Trong những năm tới,
cuộc cạnh tranh giành giật tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là năng lƣợng) và
tài nguyên chất xám sẽ diễn ra gay gắt hơn. Các nhà chiến lƣợc Mỹ đã đi
trƣớc các cƣờng quốc khác trong chiến lƣợc giành giật tài nguyên thiên nhiên
và trí tuệ con ngƣời. Ngày nay, các nƣớc lớn giàu có, nắm giữ và chi phối
nhiều tổ chức kinh tế, tài chính thế giới và khu vực, đặc biệt là WB, IMF,
WTO. Thực tế, một số nƣớc lớn đang nắm giữ sự vận hành của nền kinh tế
thế giới và chi phối việc hoạch định chính sách đối ngoại của nhiều nƣớc.
Tình hình chính trị và an ninh thế giới
Tình hình chính trị và an ninh thế giới có những nét lớn chủ yếu sau
đây:
Thứ nhất, sự so sánh lực lƣợng tiếp tục đang ở thế có lợi cho Hoa Kỳ,
nhƣng các đối tác của Mỹ (Nhật, EU, Nga, Trung Quốc...) vẫn tiếp tục gia
tăng sự cạnh tranh để vƣơn lên khẳng định vị trí của mình trên trƣờng quốc
tế. Mỹ bị EU, Nhật Bản cạnh tranh quyết liệt (các cuộc chiến tranh kinh tế
giữa ba trung tâm kinh tế TBCN diễn ra liên tục). EU không thua kém Mỹ về
GDP, chỉ số xuất nhập khẩu... nhƣng về vốn và nhiều mặt quan trọng khác,
đặc biệt về khoa học công nghệ thì vẫn thua kém Mỹ. Trung Quốc đang nổi
lên thành đối thủ đe doạ sự bá quyền của Mỹ. Nhật Bản trong vài chục năm
tới khó trở lại thời kì tăng trƣởng cao nhƣ những năm 60, 70 của thế kỉ XX,
nhƣng vẫn là " ngƣời khổng lồ" về kinh tế, vẫn là một trong ba trụ cột của
kinh tế thế giới, có vai trò đặc biệt lớn đối với khu vực châu Á- Thái Bình
Dƣơng. Nga tuy suy yếu về kinh tế nhƣng vẫn là nƣớc duy nhất có khả năng
8
cạnh tranh đƣợc với Mỹ về quân sự, do có tiềm lực to lớn về vũ khí hạt nhân
9
nhiều nền kinh tế lớn nhƣng tồn tại các điểm xung đột nóng nhƣ tại bán đảo
Triều Tiên hay eo biển Đài Loan. Sau vụ tấn công khủng bố 11/9/2011, Mỹ
càng quan tâm tới khu vực này do tồn tại các vấn đề liên quan đến ngƣời Hồi
giáo và các nhóm khủng bố đuợc cho là có quan hệ với Al Qaeda.
Tuy nhiên, thế giới đang trong quá trình chuyển hoá sang trật tự đa cực.
Trật tự này sẽ ảnh hƣởng đến chính sách đối ngoại của Mỹ. Mỹ không thể bắt
ép các nƣớc đi theo chính sách đối ngoại của mình. Bối cảnh quốc tế mới làm
cho tất cả các nƣớc tuy có lợi ích dân tộc khác nhau nhƣng muốn hay không
đều phải lệ thuộc vào nhau, phải hợp tác với nhau dù chỉ là sách lƣợc để cùng
tiến lên hoặc cùng đối phó với những vấn đề đe dọa sự sinh tồn của mỗi nƣớc
và thế giới mà không một nƣớc nào dù có sức mạnh phi thƣờng đến đâu cũng
không thể một mình đảm nhận đƣợc. Điều này là một thách thức lớn đối với
tham vọng làm bá chủ thế giới của Mỹ, khiến các nhà hoạch định của chính
quyền G.W.Bush phải tính toán kĩ lƣỡng trong việc điều chỉnh chính sách đối
ngoại của mình.
1.1.2 Các xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế
Những đặc điểm về kinh tế, chính trị, an ninh trên đã tác động đến sự
hình thành các xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh một số xu thế
chính đƣợc hình thành từ sau chiến tranh lạnh, các xu thế sau đây vẫn tiếp tục
phát triển: xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác; xu thế vừa hợp tác vừa đấu
tranh trong sự cùng tồn tại hoà bình; xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá trong
lĩnh vực kinh tế và đời sống; ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cƣờng, đấu tranh
chống lại sự áp đặt và can thiệp từ bên ngoài của các dân tộc đƣợc nâng cao.
Trong những năm đầu thế kỉ XXI, một số xu thế nổi trội trong quan hệ
quốc tế nhƣ sau:
Thứ nhất, quan hệ quốc tế tiếp tục có xu hƣớng mở rộng và ngày càng
phức tạp. Cả thế giới hiện nay đang bị cuốn vào một xu thế chung, đó là toàn
cầu hoá, khu vực hoá trên tất cả mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
lực lƣợng giữa các nƣớc lớn đang thay đổi. Mỹ tuy ở thế mạnh hơn các đối
thủ khác, nhƣng cũng khó có thể áp đặt sức mạnh của mình. Quan trọng hơn
là Mỹ chƣa chịu từ bỏ ý đồ thiết lập bá quyền lãnh đạo thế giới. Và để thực
hiện ý đồ này, Mỹ luôn thay đổi chiến lƣợc cũng nhƣ sách lƣợc... Nhiều sự
11
kiện cho thấy những bất ổn trong quan hệ Mỹ- Nga, Mỹ -Trung đều bắt
nguồn hoặc có nguyên nhân sâu xa từ sự thay đổi trong chính sách của Mỹ.
Nhiều xung đột, điểm nóng trên thế giới đều có bàn tay can thiệp hoặc dính
líu của Mỹ. Điều đó làm Nga và Trung Quốc lo ngại, phản ứng lại Mỹ.
Thứ ba, xu thế hợp tác và đấu tranh tiếp tục phát triển và thể hiện rõ
trong những vấn đề mới, đặc biệt là vấn đề chống khủng bố. Vấn đề khủng bố
phát triển mạnh trên phạm vi toàn cầu với mức độ ngày càng ác liệt, tần số
gia tăng. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa khủng bố trong những năm gần đây gây
cho thế giới nhiều bất ổn, gây thiệt hại cho nhiều quốc gia về kinh tế lẫn
chính trị... Một số nƣớc đã lợi dụng khủng bố để can thiệp bằng quân sự vào
các nƣớc có chủ quyền, hoặc đe dọa tấn công nếu các nƣớc đó không hợp tác
hay không phục tùng chiến dịch khủng bố. Nạn khủng bố là nguy cơ toàn cầu,
hầu nhƣ tất cả các quốc gia đều hợp tác chống chủ nghĩa khủng bố. Song,
việc tiến hành chiến tranh chống khủng bố theo cách mà Mỹ áp đặt không tạo
đƣợc sự đồng thuận giữa các nƣớc, ngay cả những nƣớc đồng minh truyền
thống của Mỹ cũng lên tiếng lo ngại Mỹ tấn công dân thƣờng...
Thứ tư, xu thế hoà hoãn, thoả hiệp để phát triển giữa các quốc gia trên
thế giới. Trƣớc đây, trong thế giới hai cực của Chiến tranh lạnh, mỗi nƣớc
không thuộc cực bên này thì sẽ thuộc cực bên kia. Sau khi Chiến tranh lạnh
kết thúc, xu thế hòa bình, hòa hoãn, thậm chí là cả thỏa hiệp giữa các nƣớc để
không cho chiến tranh nổ ra, tạo điều kiện để phát triển kinh tế nổi lên thay
thế cho xu thế đối đầu trong thời kì Chiến tranh lạnh. Đặc biệt, sự kiện nƣớc
Mỹ bị khủng bố ngày 11/9/2001, đã buộc các nƣớc có những điều chỉnh nhất
Trong cuộc bầu cử tổng thống đầy tranh cãi năm 2000, G.W.Bush là
ứng cử viên của Đảng Cộng hoà, Thống đốc bang Têxas và là con trai của
cựu tổng thống H.W.Bush, đã giành đƣợc thắng lợi sít sao trƣớc Phó Tổng
thống Al Gore- ứng cử viên của Đảng Dân chủ. Tổng thống G.W.Bush thắng
cử với 271 phiếu bầu đại cử tri, trong khi Al Gore đạt 266 phiếu. Tuy nhiên,
Al Gore lại đạt đƣợc số phiếu bầu phổ thông với 48,4%, cao hơn so với Bush
(47,9%) [38, 252]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nƣớc Mỹ, kể từ năm
1888, một tổng thống đắc cử nhận đƣợc số phiếu phổ thông ít hơn so với
ngƣời thất cử. Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên kể từ năm 1876, ngƣời
13
giành đƣợc số phiếu đại cử tri cao hơn phải trải qua một cuộc tranh tụng gay
gắt trƣớc khi đƣợc công nhận thắng cử bằng phán quyết đầy khó khăn của
Toà án Tối cao. G.W.Bush nhậm chức tổng thống trong bối cảnh chia rẽ, bè
phái giữa các bang ủng hộ và không ủng hộ ông trong chiến dịch tranh cử, có
nguồn gốc sâu xa từ sự khác biệt về văn hoá xã hội. Do đó, tổng thống Bush
lên nắm quyền chịu một sức ép tâm lí khá nặng nề mà theo một số chuyên gia
Mỹ cho rằng: Đây cũng là một cuộc khủng hoảng chính trị của nƣớc Mỹ và
đó cũng là điều khó khăn trƣớc hết mà tổng thống mới đƣơng đầu. Tổng
thống Bush phải cố gắng để có đƣợc sự hỗ trợ từ phía Quốc hội và dƣ luận
của dân chúng với chính sách đối ngoại.
Thêm vào đó, cuộc tấn công khủng bố vào nƣớc Mỹ ngày 11/9/2001 là
sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sử thế giới đầu thế kỷ XXI, tác động
đến sự thay đổi trong chiến lƣợc an ninh của Mỹ. Sáng ngày 11/9/2001, lực
lƣợng khủng bố tiến hành đồng loạt các vụ tấn công bằng máy bay vào tòa
Tháp Đôi của Trung tâm thƣơng mại thế giới (WTC) ở New York và Lầu
Năm Góc, trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ ở thủ đô Washington. Có thể thấy mục
tiêu của các cuộc tấn công khủng bố là nhằm vào các trung tâm đầu não của
Mỹ ở New York và Washington -biểu tƣợng sức mạnh kinh tế, chính trị, tài
thƣơng mại thế giới (WTO)...
Nền kinh tế Mỹ có sức cạnh tranh rất lớn. Đồng đô la Mỹ chiếm hơn
60% giao dịch thƣơng mại toàn cầu và cũng là đồng tiền dự trữ quốc gia chủ
yếu của hầu hết các nƣớc trên thế giới.
Thị trƣờng chứng khoán của Mỹ có vai trò trung tâm trong đời sống tài
chính, tiền tệ toàn cầu. Biến động trên thị trƣờng chứng khoán New York có
tác động rất lớn đến thị trƣờng chứng khoán ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Tuy nhiên, đến cuối năm 2000, nền kinh tế Mỹ đã có dấu hiệu suy
thoái, Hoa Kỳ buộc phải tuyên bố kinh tế suy thoái bắt đầu từ tháng 3/2001,
kết thúc giai đoạn phát triển "thần kì" của nền kinh tế lớn nhất thế giới này.
Chỉ số chứng khoán Mỹ cũng sụt giảm đáng kể, lạm phát tiếp tục tăng trong
khi thâm hụt mậu dịch không giảm, thâm hụt cán cân thƣơng mại ở mức độ
nghiêm trọng vẫn tiếp tục là một nguy cơ lớn, thất nghiệp tăng vọt [27, 103].
Thêm vào đó là những thiệt hại vật chất và nhân lực gây ra do vụ
khủng bố 11/9/2001. Sự kiện 11/9 làm sụp đổ niềm tin của giới kinh doanh và
15
ngƣời tiêu dùng, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng tới các ngành: giao dịch trên
thị trƣờng vốn gián đoạn và các chỉ số chứng khoán bị biến động mạnh,
ngành hàng không có nguy cơ phá sản hàng loạt, ngành bảo hiểm ƣớc tính chi
trả 25-30 tỷ đô la cho các nạn nhân trong vụ khủng bố.
Các đối tác thƣợng mại làm giảm khả năng tiếp cận thị trƣờng nƣớc
ngoài của Hoa Kỳ. Chẳng hạn nhiều ngƣời lo ngại rằng khi EU thành một
khối thƣơng mại thì sẽ hạn chế khả năng tiếp cận thị trƣờng của Hoa Kỳ. Một
thế giới gồm những hệ thống thƣơng mại khu vực cạnh tranh nhau sẽ làm
giảm sự phát triển và hƣng thịnh của Hoa Kỳ hơn là một nền kinh tế thế giới
mở. Khía cạnh này rất quan trọng đối với sự điều chỉnh việc lựa chọn chính
sách hay cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ.
Những thay đổi trong chính sách vĩ mô đã đƣợc dự báo trƣớc cùng với
20/29 ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn trên thế giới, đặc biệt trong
lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học...[21, 60].
Hơn 40% số vốn đầu tƣ của thế giới vào công nghệ tin học, tức là
khoảng 220 tỉ đô la là của ngƣời Mỹ. Số máy tính tính theo mỗi ngƣời lao
động ở Mỹ cao gấp 5 lần so với châu Âu và Nhật Bản cộng lại [28, 30].Năm
2000, tỉ trọng của ngành tin học trong GDP của Mỹ là hơn 80%. Công nghiệp
tin học đã trở thành ngành công nghiệp lớn nhất của Mỹ và đóng góp hơn
35% vào sự tăng trƣởng kinh tế của Mỹ [21, 65].
Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Mỹ trong
lĩnh vực công nghệ bằng 7 nƣớc giàu nhất sau Mỹ cộng lại và chiếm 40,6%
của tổng chi phí toàn cầu là 652 tỉ đô la [21, 59].
Mỹ là nƣớc đứng đầu thế giới về số lƣợng nhà khoa học đƣợc nhận
giải thƣởng Nôben; là nƣớc có nhiều thành công nhất về nghiên cứu khoa học
cơ bản và sáng chế phát minh. Bằng phát minh khoa học của Mỹ chiếm 60%
toàn bộ số bằng phát minh khoa học trên thế giới [21, 59].
Đặc biệt, Mỹ đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất vào
lĩnh vực quân sự và tạo ra những loại vũ khí tối tân nhất để có thể tham chiến.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã đƣa nƣớc Mỹ
trở thành đất nƣớc của sự hiện đại mà cả thế giới hƣớng đến. Sự phát triển đó
cũng làm tăng thêm sức mạnh cho nƣớc Mỹ dễ dàng "qua mặt" các nƣớc khác
trong cuộc chạy đua trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và quân sự.
17
1.2.4 Về quân sự
Bất kì sự đánh giá nào về bá quyền mới của Hoa Kỳ cũng cần tính tới
một công cụ quyền lực quan trọng nhất- những khả năng quân sự cần để có
thể đập tan kẻ thù, kiểm soát đồng minh, duy trì ảnh hƣởng và nếu cần chiến
thắng trong chiến tranh. Do có nguồn tài chính dồi dào để biến các ý tƣởng
quân sự thành hiện thực nên nƣớc Mỹ cho đến nay vẫn là cƣờng quốc đứng
tử và tàu sân bay ở cả ba đại dƣơng.
Sức mạnh quân sự Mỹ còn đƣợc thể hiện ở trình độ công nghệ và kĩ
thuật đƣợc ứng dụng vào quốc phòng. Mỹ là nƣớc đứng đầu trên thế giới về
việc ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông vào lĩnh vực quân sự; cũng
nhƣ việc phối hợp và xử lí thông tin trên chiến trƣờng, tiêu diệt các mục tiêu
từ xa với độ chính xác cao. Quân đội Mỹ đƣợc trang bị vũ khí hiện đại, vƣợt
xa các nƣớc khác. Mỹ cũng là nƣớc đi đầu trong lĩnh vực chiến tranh kĩ thuật
cao. Nếu nhƣ trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, số vũ khí kĩ thuật cao
nhƣ bom thông minh chỉ chiếm khoảng hơn 10%; thì trong cuộc chiến của
Mỹ ở Apganixtan năm 2001 con số đó là gần 90%[21, 134].
Chi tiêu quân sự tới mức khổng lồ, chiếm 37% chi tiêu quân sự trên
toàn cầu (năm 2000), lớn hơn ngân sách quân sự gộp chung của của 10 nƣớc
chi tiêu quân sự lớn nhất thế giới.
Khẳng định về sức mạnh quân sự của Mỹ, Phó Hiệu trƣởng trƣờng Đại
học Bruking là P.Hass đánh giá: "Hiện thực hiển nhiên là Hoa Kỳ- nước hùng
mạnh nhất không có ai bằng cả"[27, 37].
Chính nhờ sức mạnh khổng lồ về mặt quân sự đã cho phép nƣớc Mỹ
nghĩ đến nhiều điều, trong đó có việc sử dụng sử dụng sức mạnh ấy để bành
trƣớng thế lực ra toàn thế giới. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Mỹ
cũng đang ráo riết lợi dụng ƣu thế quân sự của mình để đẩy mạnh chính sách
đối ngoại, can thiệp vào nhiều khu vực, giành lấy ngôi vị bá chủ thế giới.
1.2.4 Về văn hoá-xã hội
Một làn sóng văn hoá mới từ nƣớc Mỹ đang bùng nổ mạnh mẽ và lan
tràn khắp thế giới. Văn hoá Mỹ đã trở thành "nền văn hoá có thế mạnh"[18,
3]. Ngôn ngữ, phong tục tập quán và lối sống xã hội ở nhiều quốc gia đang
dần bị thôn tính bởi làn sóng văn hoá và lối sống Mỹ. Nhiều nggƣời lo lắng
rằng văn hoá Mỹ "đang đẩy tất cả các loại hình văn hoá khác sang một bên,
19
toàn cầu mới cho nƣớc Mỹ. Tháng 7/1994, Chính phủ Clinton đƣa ra "Chiến
lƣợc cam kết và mở rộng", nhấn mạnh phải thông qua việc tích cực tham gia
vào công việc quốc tế để mở rộng lợi ích và quan niệm giá trị của Mỹ, từ đó
21
đảm bảo hơn nữa địa vị chủ đạo của Mỹ trong quan hệ quốc tế. Mục tiêu bao
trùm là Mỹ phải trở thành lãnh tụ của cả thế giới và "sự lãnh đạo của Mỹ là
không thể thay thế đƣợc".
Để thực hiện mục tiêu bao trùm đó, "Chiến lƣợc cam kết và mở rộng"
đề ra 3 mục tiêu lớn:
Thứ nhất, phục hƣng nền kinh tế của Mỹ, xây dựng kinh tế vững mạnh,
giành lại vị trí lãnh đạo của Mỹ trong nền kinh tế thế giới, coi đây là ƣu tiên
số một trong chiến lƣợc toàn cầu của Mỹ.
Thứ hai, duy trì và củng cố ƣu thế quân sự của Mỹ trên thế giới cả về
hạt nhân lẫn vũ khí thông thƣờng làm công cụ răn đe chiến lƣợc nhằm khống
chế các nƣớc đồng minh và đồng thời là đối thủ, kiềm chế các đối thủ khác,
đối phó với các cuộc xung đột khu vực. .
Thứ ba, thúc đẩy dân chủ ở nƣớc ngoài. Phát huy ƣu thế về chính trị
của Mỹ trên thế giới, thiết lập trật tự thế giới mới do Mỹ điều khiển. Chủ
trƣơng ngăn chặn bất cứ đối thủ nào xuất hiện có khả năng thách thức sự lãnh
đạo của Mỹ.
Vấn đề dân chủ, nhân quyền đƣợc nâng lên một vị trí quan trọng hơn
trƣớc, đƣợc sử dụng làm cơ sở tập hợp lực lƣợng trên thế giới trong thời kì
mới, làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các nƣớc, gây sức ép
nhằm thực hiện chiến lƣợc toàn cầu của Mỹ. Khi phát biểu tại Liên Hợp
Quốc, Tổng thống Clinton cũng tuyên bố: "Trong Chiến tranh lạnh, chúng ta
tìm cách ngăn chặn mối đe doạ đối với sự sống còn của các thể chế tự do...
Giờ đây, chúng ta tìm cách mở rộng, tập hợp các quốc gia sống dưới thể chế
tự do đó"[6]. Nhƣ vậy, Mỹ đã chuyển từ chiến lƣợc "ngăn chặn" trong chiến
những giá trị dân chủ của Mỹ và phƣơng Tây. Ủng hộ lực lƣợng cải cách ở
Nga, các nƣớc SNG và các nƣớc Đông Âu, khuyến khích quá trình dân chủ
hoá và tƣ nhân hoá, thúc đẩy chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng tự do và nền
dân chủ kiểu phƣơng Tây nhằm triệt để ngăn chặn sự phục hồi chủ nghĩa xã
hội ở các nƣớc này.
Ba là, thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ra toàn thế giới và sử dụng
chiêu bài này để mặc cả với các nƣớc muốn có đầu tƣ công nghệ và buôn bán
với Mỹ.
Đặc điểm chính sách ngoại giao Mỹ dưới thời B.Clinton:
23
Mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lƣợc đối ngoại của Mỹ là đƣa Mỹ
giữ vững vị trí lãnh đạo thế giới, nhằm thiết lập một nền hoà bình kiểu Mỹ,
xây dựng một trật tự quốc tế mới do Mỹ điều khiển. Trong trật tự mới này,
tham vọng ủa Oasinhton là thiết lập một trật tự chính trị thế giới mới, trong
đó các quốc gia, các dân tộc phải phục tùng sự lãnh đạo của Mỹ, thực hiện
dân chủ, nhân quyền theo mô hình Mỹ và phƣơng Tây. Về kinh tế, thiết lập
một trật tự kinh tế mới theo thị trƣờng tự do, trong đó Mỹ có vai trò chi phối.
Đồng thời, thiết lập một trật tự an ninh thế giới mới, trong đó lực lƣợng hùng
mạnh nhất của quân đội Mỹ đóng vai trò nòng cốt.
Chiến lƣợc ngoại giao nhằm phục vụ đầu tiên cho chiến lƣợc kinh tế để
phục hƣng nƣớc Mỹ. Tổng thống B.Clinton nêu rõ: "Lợi ích kinh tế của Hoa
Kỳ phải là trọng tâm chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Mỹ"[26, 185].
Bởi vì, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới đi vào một thời kì mới mà
nội dung chủ yếu là chạy đua về kinh tế trên qui mô toàn cầu. Để giành đƣợc
thắng lợi trong cuộc chạy đua này, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế
giới, nền kinh tế Mỹ phải đƣợc phục hƣng và phát triển mạnh mẽ, làm cơ sở
cho việc thực hiện những mƣa đồ về mặt chính trị.
Đặc điểm nổi bật trong chính sách ngoại giao Mỹ thời kì này là đề cao
của mình. Đặc biệt, Oasinhton chú trọng khai thác, phát huy vai trò của Liên
Hợp Quốc trong việc tiến hành các cuộc thƣơng lƣợng đa phƣơng nhằm sắp
xếp, giải quyết các vấn đề toàn cầu và phù hợp với ý đồ, mục tiêu của mình.
Ngoài ra, các tổ chức quốc tế và khu vực cũng đƣợc Mỹ tận dụng triệt để
trong khi thực hiện chính sách ngoại giao đa phƣơng.
Một mục tiêu khác trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ dƣới thời
tổng thống Clinton là tạo thế cân bằng chiến lƣợc mới ở các khu vực và trên
thế giới, trong đó vẫn bảo đảm ƣu thế của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách đối ngoại trên, chính
quyền Clinton gặp phải không ít khó khăn. Sự bất định của tình hình thế giới
làm cho Oasinhton phải thừa nhận rằng có rất nhiều mối đe dọa tiềm ẩn và
việc đối phó với nó là vô cùng khó khăn, phức tạp. Vì vậy, Oasinhton đã thúc
đẩy giải quyết các cuộc khủng hoảng xung đột ở các khu vực nhƣ: bán đảo
Bancăng, khu vực Trung Đông, vùng vịnh Pecxich, xung đột ở châu Phi...
25
Tuy nhiên, không phải ở đâu Mỹ cũng gặt hái đƣợc thành công mà thƣờng
xuyên phải điều chỉnh chiến lƣợc đối ngoại của mình.
Chính sách ngoại giao của Mỹ thời B.Clinton không nằm ngoài mục
tiêu là thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ đứng đầu nhƣng đã có sự điều
chỉnh nhất định về biện pháp và thủ đoạn. Đó là thủ đoạn kết hợp cả sức
mạnh cứng và sức mạnh mềm để lãnh đạo thế giới (thời Chiến tranh lạnh, Mỹ
chủ yếu sử dụng sức mạnh cứng), tức là lấy chiêu bài tự do, dân chủ, nhân
quyền, chiến tranh thông tin kết hợp với viện trợ kinh tế để truyền bá,
khuyếch trƣơng ảnh hƣởng văn hoá, chính trị Mỹ. Thực hiện âm mƣu "diễn
biến hoà bình" đƣa các nƣớc trên thế giới vận động theo quỹ đạo của Mỹ.
Các hoạt động ngoại giao của Mỹ thời kì này đƣợc đánh giá là năng
động, thực dụng và nắm bắt đƣợc những xu thế mới của thời đại. Song theo
một số ý kiến thì chính sách đối ngoại đó bị phê phán là mơ hồ, không có