Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 31

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
-----  -----

BÁO CÁO TÓM TẮT
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở
HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Nguyễn Thị Hóa

Nhóm sinh viên thực hiện:
Trương Văn Thủy (NT)
Nguyễn Lương Hãn
Hoàng Trọng Đức
Bùi Thị Quyên
Nguyễn Thị Quỳnh Vân

Huế, 12/2011
1


Lời Cảm Ơn
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này chúng tôi đã được sự
quan tâm giúp đỡ động viên của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường .
Trước hết, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tới khoa Kinh tế chính trò, trường
Đại học kinh tế- Đại học Huế đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá
trình thực hiện đề tài này.
Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s Nguyễn Thò Hóa
đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên

Nuôi trồng thủy sản:

CNH - HĐH:

Công nghiệp hóa-hiện đại hóa

KT - XH:

Kinh tế - xã hội:

KH - KT:

Khoa học - kỹ thuật

N-L-TS:

Nông - lâm - thủy sản
ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Phát triển kinh tế trang trại (KTTT) là bước đi phổ biến, tất yếu của nền sản
xuất nông nghiệp trên con đường xây dựng nông thôn mới, sản xuất tập trung mang
tính hàng hóa. Ở nước ta, KTTT đã và đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương trên
toàn quốc.
Phú Lộc là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Thừa Thiên Huế, là vùng có đại
hình đa dạng với tiềm năng đất đai thuận lợi cho việc hình thành và phát triển KTTT.
Từ khi có chủ trương đổi mới cơ chế quản lí trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách phát triển KTTT nên
số lượng trang trại (TT) ở Phú Lộc tăng lên, đa dạng về hình thức. Mặc dù đã mang
lại một thành quả nhất định, tăng thu nhập cho người lao động và đời sống của người

+ Khóa luận tốt nghiệp: “Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” của Trần Thị Hậu.
+ Đề tài “Mô hình kinh tế nông trại gia đình ở một số vùng sinh thái của Nam
bộ: vấn đề và giải pháp” của Tiến sĩ Phan Thị Xinh.
+ Đề tài “ Vai trò của trang trại gia đình trong quá trình phát triển một nền
nông nghiệp bền vững” của Đào Hữu Hòa, trường Đại học Kinh tế, đại học Đà Nẵng.
Nhưng trên địa bàn huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế chúng tôi nhận thấy chưa
có công trình nào nghiên cứu phát triển KTTT với tư cách là một đề tài nghiên cứu
khoa học nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm thúc
đẩy sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH).
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và phân tích
vấn đề một cách khoa học, khách quan.

5


- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp điều tra chọn mẫu
5. Ý nghĩa của đề tài.
- Đề tài này đã đánh giá được thực trạng phát triển KTTT trên địa bàn huyện
Phú Lộc.
- Qua quá trình nghiên cứu, đề tài thấy được những ưu điểm cần phát huy cũng
như những tồn tại còn mắc phải trong quá trình phát triển KTTT.
- Làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu và vận dụng đưa ra đường lối chính sách để
phát triển KTTT trên địa bàn của huyện nói riêng và của tỉnh nói chung.
- Ngoài ra đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
nghiên cứu vấn đề này.

1.1.2. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại.
Hiện nay, có nhiều nhà khoa học đưa ra định nghĩa về trang trại và KTTT ở
nhiều góc độ nhưng chủ yếu đều mang nội dung như sau:
* Khái niệm trang trại:
Các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng: TT là đơn vị cơ sở sản xuất nông
nghiệp của hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển từ khi phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Ngày nay,
TT là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các
quốc gia trên thế giới.
Ở nước ta, TT đã hình thành và phát triển từ rất sớm nhưng có những giai đoạn
phát triển loại hình kinh tế này đã không được coi trọng. Tuy nhiên từ khi có chủ
trương đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp theo nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách khuyến khích

7


phát triển nên số lượng TT tăng lên nhanh chóng, hình thức tổ chức sản xuất và cơ
cấu thành phần chủ TT cũng ngày càng đa dạng.
* Khái niệm kinh tế trang trại:
Hiện nay, quan điểm về KTTT được nhiều nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn
và các phương tiện thông tin đại chúng. Song cho tới nay khái niệm cũng như các quan
điểm về KTTT được các nhà khoa học đưa ra dưới nhiều cách hiểu khác nhau.
+ Quan điểm 1: KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động sản xuất nhất định để tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được Nhà nước
bảo hộ (GS Đào Thế Tuấn, nguyên Viện trưởng Khoa học nông nghiệp, công nghiệp).
+ Quan điểm 2: KTTT hay các TT gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất
hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để
sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận TT ngoài lao động của gia đình, có

tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Theo tư duy lí luận của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua các văn kiện đại hội:
Đại hội Đảng lần thứ VI đưa ra quan niệm: Kinh tế tư nhân là đơn vị kinh tế do
những người có vốn, có tài sản lập ra sản xuất và kinh doanh theo pháp luật. Kinh tế
tư nhân bao gồm các hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu chủ, hộ tiểu thương, các doanh
nghiệp tư nhân dưới nhiều hình thức như xí nghiệp tư doanh, công ty cổ phần,...
Đại hội Đảng lần thứ IX đã quán triệt quan điểm: Kinh tế tư nhân là một bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là vấn
đề chiến lược lâu dài trong chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định
hướng Xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng nâng cao nội lực của đất nước trong
hội nhập kinh tế quốc tế.

Mới đây nhất, tại Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, kinh
tế tư nhân lại được tái khẳng định là một thành phần kinh tế quan trọng, trong
đó nêu rõ: “ hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở
thành một trong những động lực của nền kinh tế ”
Tóm lại, Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và các
nguồn lực đầu vào khác của tư nhân, tồn tại dưới nhiều hình thức Doanh Nghiệp Tư
Nhân, Công Ty Cổ Phần, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn và các hộ kinh doanh cá thể.
1.2. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại.
Một là, mục đích sản xuất của TT là sản xuất các mặt hàng trong lĩnh vực nônglâm-thủy sản (N-L-TS) hàng hóa với quy mô lớn.
Hai là, mức độ chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so
với sản xuất nông hộ về đất đai, đầu con gia súc, gia cầm, lao động, giá trị N-L-TS
hàng hóa,…

9


Ba là, chủ TT có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết

10


1.3. Vai trò của kinh tế trang trại.
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài cho đến ngày nay,
KTTT được xác định là một bước phát triển mới và cao hơn của kinh tế hộ gắn với
mục tiêu sản xuất hàng hóa quy mô lớn, góp phần thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp,
tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ, từng bước ổn định để phát triển
kinh tế tạo ra các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, làm hậu thuẫn cho công
nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm phát triển, đồng thời đưa công nghiệp và các
nghành nghề dịch vụ vào nông thôn, đóng góp thiết thực vào quá trình xóa đói giảm
nghèo ở nông thôn, tiến hành thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng giữa
miền ngược với miền xuôi, nông thôn và thành thị... Cho phép huy động, khai thác
các nguồn lực về đất đai, vốn, sức lao động… một cách đầy đủ và hiệu quả, thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế góp phần ổn định về mặt chính trị-xã hội.
Tiếp đến, KTTT còn góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục dần
tình trạng nhỏ lẻ trong sản xuất kinh doanh nông phẩm, phân bố lại dân cư, thu hút
nguồn lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn,… thúc đẩy phát triển
công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn phát triển
trên địa bàn.
Ngoài ra, KTTT còn có vai trò khai thác lợi thế so sánh giữa các vùng , để từ đó
có thể xác định được hướng phát triển cho từng vùng cụ thể sao cho hợp lý và khai
thác được triệt để các lợi thế so sánh. Ở các vùng trung du, miền núi với đặc thù của
riêng mình, đã góp phần quan trọng vào trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đồi núi
trọc, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất, cải thiện môi trường sinh thái, ngoài ra
còn góp phần vào giảm thiểu và khắc phục những thiên tai do vấn đề hoang hóa rừng
gây ra.
1.4. Phân loại trang trại
Thứ nhất, theo loại hình KTTT gồm TT cá thể; TT tiểu chủ; TT tư bản tư nhân.

Chủ TT và gia đình không ở nông thôn, không ở TT mà ở một nơi khác nhưng
vẫn trực tiếp điều hành, quản lý TT.
Chủ TT sống ở khu vực thành thị và thuê người điều hành quản lý TT cho mình.
Thứ năm, phân loại theo cơ cấu sản xuất.
TT có cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh doanh tổng hợp nhiều sản phẩm.
TT có cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hóa một loại sản phẩm nhất định.

12


TT sản xuất để cung cấp nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến hoặc kết
hợp sản xuất với chế biến nông sản.
Thứ sáu, phân loại theo cơ cấu thu nhập:
TT thuần nông có thu nhập tất cả hoặc phần lớn từ nông nghiệp.
TT có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp
Thứ bảy, phân loại TT theo quy mô, diện tích đất đai gồm các TT có quy mô
lớn, vừa và nhỏ.
1.5. Xu hướng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam.
Trong những năm qua, KTTT đã góp phần không nhỏ vào việc tăng trưởng và
phát triển nền kinh tế. Đó là nhờ đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà
nước ta trong chiến lược phát triển nông nghiệp và sự nổ lực của người lao động
trong nông nghiệp. Song với yêu cầu của thực tiễn, KTTT ở Việt Nam sẽ phát triển
theo những xu hướng sau:
Một là, tích tụ và tập trung sản xuất.
Các TT ngày nay vẫn diễn ra quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. Tuy nhiên,
tính chất, mức độ tích tụ và tập trung lúc này không hòa toàn giống như tích tụ và tập
trung chủ yếu các yếu tố sản xuất các nông hộ để hình thành TT. Tích tụ và tập trung
trong phát triển KTTT là nhằm mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh để đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường.
Tích tụ và tập trung trong các TT chủ yếu là tích tụ vốn, ở những nơi có điều

gắn liền với việc nâng cao năng suất lao động. TT không thể mở rộng quy mô, diện
tích hàng chục ha hoặc phát triển gia súc, gia cầm lên hàng trăm, hàng ngàn con bằng
lao động thủ công với cơ sở vật chất kĩ thuật kém. Để nâng cao trình độ kĩ thuật và
thâm canh hóa sản xuất các TT phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kĩ
thuật cho sản xuất, tăng cường áp dụng tiến bộ KH-KT đặc biệt là công nghệ sinh
học. Mặt khác, phải kết hợp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật trong từng TT với phát
triển cơ sở vật chất trên địa bàn vùng. Chẳng hạn việc xây dựng kênh mương tưới
tiêu, làm đường, điện…không thể khép kín trong từng TT mà phải gắn với cả vùng
theo quy hoạch thống nhất.
Bốn là, hợp tác và cạnh tranh:
Đi đôi với hợp tác, các TT còn phải cạnh tranh với các tổ chức và đơn vị kinh tế
khác để có thể tiêu thụ nông phẩm làm ra với giá cả hợp lí để có tích lũy, tái sản xuất
mở rộng. Muốn vậy các TT phải tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy sản phẩm của TT mới có khả năng cạnh
tranh trên thị trường.

14


1.6. Tính khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại.
Cho đến nay, KTTT đã phát triển ở hầu hết các nước có nền sản xuất
nông-lâm-nghiệp hàng hóa, so với kinh tế tiểu nông thì KTTT là một bước phát
triển của nền sản xuất xã hội. Việc hình thành và phát triển KTTT là quá trình
chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu mang tính chất tự cung tự cấp sang sản
xuất hàng hóa với quy mô từ nhỏ đến lớn. Ở nước ta, cho đến nay thì KTTT cũng đã
trải qua được một thời gian phát triển tuy nhiên để đi sâu thực hiện thì mới chỉ trong
những năm gần đây. Có thể xem việc thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung
ương và nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI về phát huy vai trò tự chủ của kinh
tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của KTTT. Với những
thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển

mô hơn so với phát triển nông nghiệp nhỏ, lẻ và mang tính tự phát. Bên cạnh đó
KTTT sẽ góp phần khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, kĩ thuật và nâng cao
được kinh nghiệm quản lí, tổ chức,…người lao động sẽ chủ động hơn trong việc nắm
bắt KH-KT đưa thành tựu khoa học công nghệ ứng dụng nhanh vào nông nghiệp để
nâng cao hiệu quả sản xuất. Tác động ngược trở lại, nông nghiệp và các TT nói riêng
sẽ là động lực của các ngành công nghiệp, sản phẩm nông nghiệp sẽ là đầu vào thiết
yếu cho các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến ở Việt Nam hiện nay.
Như vậy, xét về mặt lịch sử, việc phát triển KTTT là một khách quan phù hợp
với điều kiện tự nhiên, xã hội ở Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện
nay, Việt Nam cần phải đẩy mạnh việc phát triển KTTT, làm được điều đó chúng ta
sẽ giải quyết được nhiều vấn đề về mặt KT-XH đã nêu trên.
1.7. Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại của Việt Nam và
một số nước trên Thế giới.
KTTT ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ trong những
năm trở lại đây. Có thể nói việc thực hiện chỉ thị 100 cua Ban Bí thư Trung ương
Đảng (khóa IV), Nghị quyết 10-NQ/TW Bộ Chính trị (tháng 4/1988) về phát huy vai
trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của KTTT với
những thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển
vượt bậc, nhiều hộ nông dân có tích lũy đã tạo điề kiện cho KTTT phát triển.
1.7.1 Kinh nghiệm phát triển KTTT của Nhật Bản.
Trên thế giới, KTTT không chỉ tồn tại và phát triển ở những nước như Việt
Nam mà nó đã và đang phát triển mạnh tại các nước tư bản có nền kinh tế thị trường
phát triển như Nhật Bản, Pháp,… và nhiều nước khác. Điểm chung dẫn đến thành
công trong phát triển KTTT của các nước này là phát triển các TT có quy mô lớn,
ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại dẫn đến năng suất lao động không ngừng

16


tăng lên và chất lượng sản phẩm luôn đảm bảo nhu cầu thị trường. Từ yêu cầu đó,

phương tiêu biểu như Hưng Yên, Nghệ An, Ninh Thuận, An Giang, Quảng Bình….
Ngày nay, KTTT đã tồn tại và phát triển ở hầu hết tất cả các tỉnh thành trong cả
nước nhưng chủ yếu là các TT với quy mô vừa và nhỏ. Chúng ta có lợi thế về điều

17


kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với sự đa dạng chủng loại sản
phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sở hữu lợi thế đó của mình, Việt
Nam đang phát triển nhiều mô hình TT như trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm
và đặc biệt là NTTS vơi nhiều ao đầm, phá và bờ biển dài đến 3260 km.
Dựa trên tương quan về điều kiện tự nhiên và KT-XH chúng tôi chọn cách phát
triển KTTT ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình để rút ra bài học kinh nghiệm cho
huyện Phú Lộc nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung.
Với điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, KTTT ở huyện Lệ Thủy đã và
đang phát triển khá mạnh mẽ, số lượng TT cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các TT ở huyện không ngừng tăng lên. Lệ Thủy đã tận dụng rất tốt quỹ đất nông
nghiệp của mình để xây dựng và phát triển các TT, hiện nay huyện đã có đến 164 TT
với quy mô lớn, vừa và nhỏ khác nhau. Huyện phát triển đa dạng các loại hình TT,
trong đó chiếm ưu thế nhất là TT NTTS với lợi thế có đường bờ biển kéo dài và
nhiều ao hồ, đầm phá. Các TT chăn nuôi và tổng hợp được quy hoạch tập trung, điều
đó thuận lợi cho việc mở rộng quy mô TT và ứng dụng KH-KT vào quá trình sản
xuất. Khó khăn nhất trong việc xây dựng và phát triển TT trước đây là vốn thì đến
nay việc vay vốn của các chủ TT dễ dàng và được nới lỏng hơn tạo điều kiện cho các
TT của huyện mạnh dạn mở rộng sản xuất kinh doanh. Với nguồn lao động trẻ, dồi
dào và nắm bắt KH-KT tốt nên việc phát triển KTTT của huyện cũng dễ dàng hơn
nhiều, huyện luôn mở các buổi tập huấn hướng dẫn người dân trong việc chăm sóc,
cải tạo để cây trồng, vật nuôi trong các TT phát triển tốt đem lại hiệu quả cao.
Tuy vậy, việc phát triển KTTT ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình vẫn còn tồn
tại những khó khăn và hạn chế đòi hỏi phải khắc phục và sự nỗ lực hơn nữa của các

phát triển KTTT nói riêng. Phú Lộc giáp với biển Đông về phía Đông; phía Tây giáp
huyện Nam Đông; phía Nam giáp Đà Nẵng; phía Bắc giáp thị xã Hương Thủy,
huyện Phú Vang.
Đồng bằng duyên hải huyện Phú Lộc trải dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam,
trong đó thu hẹp dần và bị các dãy núi thấp xen đồi đâm ngang ra biển phân cắt
manh mún từ phía Nam đầm Cầu Hai đến chân đèo Hải Vân. Bề rộng nơi lớn nhất
đạt 20-22 km (đồng bằng sông Ô Lâu) nơi hẹp nhất không quá 0,05-0.2km (Lăng
Cô), trung bình khoảng 14-16km. Độ nghiêng mặt đất phổ biến từ 0.0005 đến 0.001. Tuy
vậy, bề mặt nghiêng thoải về phía Đông Bắc và Đông Nam của đồng bằng đó đây
vẫn bị biến động do sự xuất hiện những trảng cát nội đồng và những đầm phá, lạch
biển, tàn dư dưới dạng trằm bàu.

19


Phú Lộc là nơi hội tụ đầy đủ các điều kiện tiềm năng, thế mạnh về biển, đầm
phá, đồng bằng, gò đồi, rừng núi. Đặc biệt là tài nguyên cảnh quan thiên nhiên phục
vụ phát triển du lịch (vườn Quốc gia Bạch Mã, bãi biển Lăng Cô, Cảnh Dương, Vinh
Hiền, đầm An Cư, Cầu Hai) và vịnh Chân Mây với cảng nước sâu Chân Mây là trung
tâm kinh tế quan trọng của tỉnh.
Với vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, lại đang được Nhà nước tập trung đầu tư xây
dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, bến, bãi, kho tàng…) tạo
môi trường thuận lợi hình thành đô thị mới, khu công nghiệp tập trung, trung tâm
thương mại, dịch vụ. Đó là những tiền đề cơ bản thúc đẩy KT-XH huyện Phú Lộc
phát triển mạnh trong những năm tới.
2.1.1.2. Khí hậu thủy văn
Về khí hậu:
Phú Lộc là nơi tiếp giáp giữa hai vùng khí hậu Bắc-Nam, chịu ảnh hưởng của
khí hậu ven biển, lại có khí hậu của vùng núi cao. Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 7. Nhiệt độ

chiếm 14.4% diện tích tự hiên của toàn tỉnh. Trong đó có 48178.27 ha đất nông
nghiệp (đất sản xuất nông nghiệp là 7970.11 ha; đất lâm nghiệp 38785.79 ha; đất
nuôi trồng thủy sản 1420.01 ha).
Đất đai của toàn huyện phong phú, bao gồm 19 loại và được chia thành 8 nhóm
chính. Trong đó có một số nhóm đất có giá trị đối với sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp như:
- Nhóm đất phù sa: do sự bồi đắp của sông chiếm 6.9% diện tích tự nhiên. Tuy
chiếm tỷ trọng không lớn nhưng đây là phần diện tích có giá trị nhất, đang được sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng chính là lúa và các loại hoa
màu khác.
- Nhóm đất cát và cồn cát ven biển: chiếm 18.8% tập trung ở vùng ven biển và
các cửa sông. Loại đất này rất thích hợp cho trồng các loại hoa màu, cây công nghiệp
ngắn ngày, cây ăn quả như khoai, lạc, đậu đổ, cam,… Hiện nay nhóm đất này đang
được sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp trong đó chủ yếu là trồng rừng phòng
hộ, rừng sản xuất.
- Nhóm đất mặn và phèn mặn: chiếm 5% phân bố ở vùng ven biển, cửa sông,
ven đầm. Diện tích đất này đang được sử dụng vào trồng lúa và quy hoạch để chuyển
sang NTTS có giá trị kinh tế cao như tôm, cá,…
- Nhóm đất đỏ vàng: chiếm 60.3%. Diện tích này rất thích hợp với việc trồng
cây ăn quả, sản xuất lâm nghiệp. Hiện nay nhóm đất này chủ yếu được sử dụng vào
việc sản xuất lâm nghiệp.
2.1.1.4. Tài nguyên rừng
Phú Lộc là một huyện có tài nguyên rừng lớn với diện tích rừng là 38785.79 ha,
tỷ lệ che phủ rừng 46%. Toàn huyện có 18706.10 ha rừng sản xuất chiếm 48.2%;
10574.79 ha rừng phòng hộ chiếm 27.3%; và 9504.90 ha rừng đặc dụng chiếm
24.5%. Rừng tự nhiên phân bố ở vùng núi cao có tác dụng là rừng phòng hộ đầu
nguồn. Rừng trồng chủ yếu tập trung ở vùng ven biển và các xã vùng gò đồi và núi
thấp, khu vực gần dân cư như Lộc Bổn, Xuân Lộc…

21

3
4
5
6
7
8
9
10

Chỉ tiêu kinh tế-xã hội
Giá trị sản xuất
Các ngành dịch vụ
Các ngành công nghiệp-xây dựng
Nông-lâm-ngư nghiệp
Sản lượng lương thực có hạt
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Thu ngân sách tại địa phương
Tổng chi ngân sách Nhà nước
Tỷ lệ hộ dùng điện
Tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề

Đơn vị
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
1.000 tấn

2.050
Trong đó xuất khẩu lao động
300
12
Tỷ lệ số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh
%
90.4
13
Tỷ lệ che phủ rừng
%
46.0
( Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm
2010 và nhiệm vụ, kế hoạch năm 2011 của UBND huyện Phú Lộc).
2.1.2.1. Tình hình sử dụng đất đai
Đến cuối năm 2010, Phú Lộc cấp được 26073 giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ở, đạt 96.29%, trong đó, đất ở nông thôn đạt 98.09% kế hoạch, đất ở đô thị đạt
85.28% kế hoạch; đã cấp được 5181 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp,
với diện tích 5441 ha, đạt 75% kế hoạch; có 36/56 cơ sở tôn giáo được đo đạc, hiện
có 29 cơ sở được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [7,8].
2.1.2.2. Tình hình dân số và lao động của huyện
- Dân số:
Bảng 2.2: Dân số trung bình năm 2006-2010 phân theo giới tính, thành thị,
nông thôn.
Toàn huyện có 18 đơn vị hành chính, bao gồm 16 xã và 2 thị trấn.
(ĐVT: Người)
Năm

Tổng số

Phân theo giới tính


2008

151636

75404

76232

23573

128063

2009

135005

67451

67554

21101

113904

2010

135517
67763
67754

2010

75584

74928

75312

75095

73958

73272

73649

1957

1626

1656

1663

6674

7826

8185


4320

4099

Trong đó:
-

Có khả năng lao động
- Mất khả năng lao động

74957
1867

2. Số người ngoài độ tuổi thực tế có
tham gia lao động

6594

3. Nguồn lao động

81551

Phân phối nguồn lao động
1. Lao động đang làm việc trong 70512
các ngành kinh tế
2. Số người trong độ tuổi có khả 6425
năng lao động đang đi học
3. Số người trong độ tuổi có khả
năng LĐ làm nội trợ và chưa tham 4614
gia LĐ

phân bố dân cư không đều giữa các vùng đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát
triển KT-XH trên địa bàn huyện, đặc biệt trên các lĩnh vực: đầu tư cho sản xuất và
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển y tế, giáo dục, xây dựng các công trình phúc lợi
công cộng cho vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn.
2.1.2.3. Tình hình giao thông vận tải và thủy lợi
- Thủy lợi.
Hiện nay toàn huyện có 25 đập kiên cố, 5 đập bán kiên cố, 10 đập tạm, 7 km đê
bao được lát đá, 11 km đê bằng đất để ngăn mặn. Đê khoanh nội đồng, ven sông
khoảng 80 km. Hệ thống kênh mương dẫn nước khoảng 120 km, đi qua các vùng địa
chất phức tạp: cát, sình lầy, dễ bị thấm nước, các công trình như công tiêu, cầu máng,
xi phông,… bị tàn phá do lũ lụt gây nên. Các tiêu chuẩn kĩ thuật hầu hết không đảm
bảo. Do đó kiên cố hóa kênh mương là mục tiêu cấp bách và lâu dài của huyện nhằm
đảm bảo tưới, tiêu thủy lợi cho sản xuất và cung cấp nước cho sinh hoạt đời sống.
- Giao thông.
Phú Lộc là một huyện có giao thông rất thuận lợi, đặc biệt là đường bộ; đường
sắt; đường thủy.
Là một huyện có Quốc lộ 1A chạy qua trên 65 km, tạo thành trục xương sống
của huyện. Ngoài ra còn có tuyến quốc lộ 49B chạy dọc các xã ven biển, tuyến tỉnh
lộ 14B nối La Sơn-Nam Đông. Các tuyến đường liên huyện và đường giao thông
nông thôn đan xen tạo nên mạng lưới giao thông toàn huyện tương đối thuận tiện.
Đường bê tông đã về hết tất cả các xã trong huyện đảm bảo giao thông thông suốt,

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status