ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
Ở HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Ngô Thị Tuyết Nhung
Lớp: K44-KTCT
Niên khóa: 2010 - 2014 ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
Huế, tháng 05 năm 2014
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự
cố gắng của bản thân tôi nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ của mọi người. Đầu tiên, tôi xin chân thành
cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại Học Kinh Tế Huế,
các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa
Kinh tế Chính trị, những người đã trang bị cho tôi
những kiến thức cơ bản, những định hướng đúng đắn
trong học tập và tu dưỡng đạo đức không chỉ là nền
tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là
hành trang quý báu trong công tác.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền, người đã dành nhiều thời
gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa
luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể các anh
chị, cô chú các phòng Nông nghiệp và Phát triển
LĐTB & XH Lao động thương binh và xã hội
ND Nông dân
NTTT Nuôi trồng thủy sản
PTNT Phát triển nông thôn
PTTH Phổ thông trung học
TM - DV Thương mại - dịch vụ
TT Trang trại
Tr.đ Triệu đồng
SHV Số học viên
3
3
SL Sản lượng
4
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
5
5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
6
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động sản xuất trong nông nghiệp ở nước ta với nhiều hình thức tổ chức sản
xuất khác nhau và mỗi hình thức tổ chức sản xuất nó đã đem lại những kết quả cụ thể.
Ngày nay trong xu thế của nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế thì việc xây dựng
một mô hình sản xuất phù hợp đem lại giá trị sản xuất cao, đồng thời giải quyết được
các vấn đề chung của xã hội là một vấn đề cấp thiết. Nước ta là một nước nông nghiệp
truyền thống từ ngàn xưa, bởi vậy trong hoạt động sản xuất của người dân là luôn luôn
đi tìm phương thức sản xuất tốt nhất. Như một lẽ tất nhiên, hình thức sản xuất kinh tế
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quỳ
Hợp, tỉnh Nghệ An” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển kinh tế trang trại là một nội dung quan trọng có ý nghĩa lí luận và thực
tiễn trong phát triển kinh tế nên có nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan như:
Luận văn thạc sĩ: “Phát triển kinh tế trang trại bền vững trên địa bàn huyện Nam
Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” của Phạm Văn Tiển.
Khóa luận tốt nghiệp: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên
địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An” của Nguyễn Thị Dung.
Khóa luận tốt nghiệp: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở
huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An” của Nguyễn Thị Thu Phương.
Khóa luận tốt nghiệp: “Phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” của Trần Thị Hậu.
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu
chuyên sâu về phát triển KTTT ở huyện Quỳ Hợp nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát
triển kinh tế trang trại ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng đi sâu đánh giá phát triển kinh tế trang trại ở
huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, từ đó định hướng những giải pháp cụ thể nhằm thúc
đẩy sự phát triển KTTT của huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến kinh tế trang trại.
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
thời gian qua, từ đó đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và
8
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
nguyên nhân của hạn chế đó trong phát triển kinh tế trang trại huyện Quỳ Hợp, tỉnh
9
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
giả sử dụng phương pháp thống kê như một công cụ để thống kê, đánh giá những giá
trị gần đúng, xác thực nhất, cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.
- Phương pháp điều tra thực địa
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tương đối rộng nên cần nhiều thời gian để kết hợp
các phương pháp nghiên cứu. Việc khảo sát thực địa được thực hiện trên 37 trang trại
để phát hiện và kiểm định một số vấn đề của đề tài.
- Phương pháp xử lý thông tin số liệu
Dựa trên nhiều nguồn thông tin, tài liệu khác nhau được thu thập, tác giả đã tiến
hành phân tích, nghiên cứu, xử lý tài liệu (xử lý bảng số liệu, xây dựng biểu đồ,…bằng
excel) phục vụ cho đề tài.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Kết hợp với phương pháp thống kê số liệu để áp dụng phương pháp bản đồ, biểu
đồ, đồ thị, qua đó các kết quả nghiên cứu được thể hiện rõ ràng. Xây dựng bản đồ,
biểu đồ dựa trên các số liệu, tài liệu để phản ánh hiện trạng phát triển kinh tế trang trại
của huyện Quỳ Hợp, hướng phát triển và các mối liên hệ lãnh thổ không gian cũng
như những dự kiến phát triển.
6. Đóng góp của đề tài
- Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho địa phương nghiên cứu và vận dụng đưa
ra đường lối chính sách để phát triển KTTT trên địa bàn của huyện nói riêng và của
tỉnh nói chung.
- Ngoài ra đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
nghiên cứu vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề
tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
mang tính chất sản xuất hàng hóa và tỷ suất hàng hóa càng cao càng tốt, sản xuất gắn
với kinh doanh và hướng đến thị trường. [1]
11
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
* Khái niệm kinh tế trang trại
Hiện nay, khái niệm về KTTT được nhiều nhà khoa học nhìn nhận dưới nhiều
góc độ khác nhau thể hiện rõ:
+ Quan điểm 1: Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế - hình thức tổ
chức kinh doanh trong nông nghiệp (hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông,
lâm, ngư nghiệp) phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế hộ. Quá
trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại có gắn với sự tích tụ tập trung các yếu
tố sản xuất kinh doanh đất đai, lao động, tư liệu sản xuất – vốn, khoa học công nghệ,
để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa với năng suất,
chất lượng và hiệu quả cao. [18]
+ Quan điểm 2: KTTT hay các TT gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng
hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất
kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận TT ngoài lao động của gia đình, có thuê thêm lao
động để sản xuất, kinh doanh, quy mô diện tích đất canh tác xoay quanh mức hạn điền ở
từng vùng theo quy định của pháp luật (Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 10/11/1998 của
Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn). [12, 4]
+ Quan điểm 3: KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông
nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao
hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, trồng
rừng, gắn với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản. [11, 2]
Như vậy, từ những quan điểm của các nhà khoa học có thể thống nhất khái niệm
KTTT như sau: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa lớn trong
nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức
đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, phương
pháp tạo ra suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn; có trình độ đưa
về vốn, tư liệu sản xuất để có sức cạnh tranh với những TT có quy mô sản xuất lớn
khác, đồng thời hưởng những ưu đãi của nhà nước đối với các TT lớn nhưng vẫn giữ
nguyên quyền tự chủ điều hành sản xuất của từng TT cũ.
+ TT hợp doanh cổ phần: Là kiểu TT được tổ chức theo nguyên tắc của công ty
cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản phẩm.
Thứ ba, theo mức độ sở hữu tư liệu sản xuất
+ TT mà chủ TT sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, chuồng trại, kho bãi
đến công cụ máy móc.
+ TT mà chủ TT sở hữu một phần tư liệu sản xuất, còn một phần cho thuê.
13
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
+ TT mà chủ trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất, phải thuê toàn bộ các cơ sở
của một TT để sản xuất từ đất đai, mặt nước, rừng cây đến những chuồng trại, kho
hàng, máy móc thiết bị
Thứ tư, theo cơ cấu thu nhập
+ TT thuần nông: Thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp
+ TT thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp, ngoài trang trại: Loại này đang có xu
hướng ngày càng tăng ở nhiều nước.
Thứ năm, theo phương thức điều hành sản xuất
+ Loại TT có chủ TT và gia đình ở ngay trong TT ở nông thôn và trực tiếp điều
hành cũng như trực tiếp lao động sản xuất.
+ Loại TT có chủ TT và gia đình không ở nông thôn, không ở trang trại mà ở nơi
khác (thị trấn, thành phố) nhưng vẫn trực tiếp điều hành và quản lý TT mà không thuê
người khác.
+ Loại TT có chủ TT sống và làm việc ở thành phố, thuê người quản lý và điều
hành TT ở nông thôn.
1.1.2. Tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại
Trong quá trình nghiên cứu về KTTT ở nước ta, hệ thống tiêu chí xác định KTTT
chưa có sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương và vấn đề này đang làm chậm
hải miền Trung; Từ 5 ha trở lên đối với ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên; Trang
trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên.
Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước.
Đối với trang trại chăn nuôi
Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, v.v thì chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường
xuyên từ 10 con trở lên; Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v thì chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với
hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; Chăn nuôi lợn thịt có thường
xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên.
Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v có thường xuyên từ 2.000 con trở
lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi).
Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi
tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
15
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc
thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thuỷ đặc sản, thì
tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá [9]
1.1.2.2. Tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 13/04/2011 (Trích từ Thông tư
27/2011/TT – BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận KTTT)
Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày
13/4/2011, tiêu chí về kinh tế trang trại được xác định cơ bản bởi yếu tố diện tích và giá
trị sản lượng hàng hóa. Theo đó, cá nhân, gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
nuôi trồng thủy sản muốn đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và
Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ
rệt và tỷ suất hàng hóa cao hơn kinh tế nông hộ.
Thứ hai, các trang trại có sự tập trung tích tụ cao rõ rệt so với mức bình quân của
các hộ kinh tế gia đình trong xã hội, ở từng vùng về các điều kiện sản xuất (đất đai,
vốn, lao động); đạt khối lượng và tỷ suất sản phẩm hàng hóa lớn hơn và thu được
nhiều lợi nhuận hơn.
Thứ ba, nhìn chung chủ trang trại là những người có ý thức làm giàu, có điều
kiện làm giàu và biết làm giàu, có vốn, có trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý, có
hiểu biết nhất định về thị trường, bản thân và gia đình thường trực tiếp tham gia lao
động quản lý, sản xuất của trang trại đồng thời có thuê mướn thêm lao động để sản
xuất kinh doanh.
Thứ tư, kinh tế trang trại mang tính chất sản xuất hàng hóa, gắn liền với thị
trường, chính vì vậy có nhu cầu về các yếu tố đầu vào sản xuất (lao động, tiền vốn,
nguyên vật liệu…) cao hơn hẳn kinh tế hộ mang tính tự cấp tự túc, về tiếp thị về sự tác
động của khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, về sự phát triển của công
nghiệp, trực tiếp là công nghiệp bảo quản và chế biến nông, lâm, thủy sản, chế tạo
công cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và đáp ứng được đòi hỏi
của khách hàng về quy cách, chất lượng sản phẩm để đảm bảo tiêu thụ hàng hóa, cạnh
tranh trên thị trường.
17
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
Thứ năm, quy mô sử dụng (cũng là mức độ tích tụ) các điều kiện sản xuất (đất
đai, lao động, vốn) là những yếu tố cơ bản nhất, quyết định tính chất hàng hóa của
trang trại. Vì vậy tiêu chí để xem xét một hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp có phải là
trang trại hay không phải căn cứ vào quy mô sử dụng đất, lao động và tiền vốn.
Thứ sáu, về định lượng, quy mô cụ thể của các yếu tố này phải xem xét phù hợp
với từng loại hình kinh doanh, nhưng nói chung phải đủ lớn để phân biệt một cách rõ
rệt so với mức bình quân của kinh tế hộ trong vùng; có sự khác nhau theo vùng và thay
đổi theo thời gian (trình độ phát triển kinh tế). [18, 32 - 33]
1.2.2. Phát triển kinh tế trang trại gắn với công nghiệp chế biến, thúc đẩy hình
thành các vùng hàng hoá nguyên liệu nông sản tập trung
Việc phát triển KTTT đã tạo ra các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa, làm
tiền đề cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, tạo điều kiện thuận
lợi cho phát triển công nghiệp, dịch vụ nông thôn.
Các trang trại ngày càng giữ vị trí chủ yếu trong việc cung cấp cho thị trường
những nông sản hàng hoá phục vụ tiêu dùng nội địa, chế biến và xuất khẩu. Ở nước ta,
KTTT mới phát triển trong những năm gần đây, số lượng trang trại còn nhỏ bé so với
tổng số hộ nông dân, nhưng theo Tổng cục Hải quan Việt Nam về tình hình xuất khẩu
nhóm hàng nông sản của Việt Nam trong năm 2013 đã sản xuất ra 40% - 60% lượng
nông sản hàng hoá trong một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: gạo, cà phê, cao su,
sắn. [22]
KTTT cùng với công nghiệp chế biến bước đầu đã hình thành mối liên kết nông -
công nghiệp ở nông thôn. Nhiều vùng sản xuất hàng hoá nông sản tập trung, mà ở đó
KTTT là nòng cốt đã hình thành như: chè ở trung du, miền núi phía Bắc; cà phê, cao
su ở Tây Nguyên; lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng; cam,
mía ở các tỉnh miền Trung; thuỷ sản ở vùng ven biển.
1.2.3. Kinh tế trang trại góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực ở nông thôn
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt. Đối với người
nông dân, đất đai quý giá “tấc đất, tấc vàng”. Chỉ có KTTT mới khai thác sử dụng đất
đai có hiệu quả, xét về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Về chiều rộng, rõ ràng sự ra đời của
KTTT tận dụng tốt ruộng, đất bãi, đất rừng đồi, mặt nước trước đó bị bỏ hoang hoá.
Các trang trại không chỉ sử dụng hợp lý lao động của mình, mà còn tạo thêm việc
làm góp phần giải quyết số lao động dư thừa ở nông thôn. Theo Tạp chí Con số và Sự
19
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
kiện số 4/2013 của Tổng cục Thống kê, kết quả Tổng điều tra tại thời điểm 01/7/2011,
cả nước có 20.028 trang trại theo tiêu chí trang trại mới đã sử dụng gần 95.000 lao
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
Do gắn liền với quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh và vì lợi ích thiết thực lâu dài
của mình mà các chủ trang trại luôn ý thức khai thác hợp lý và quan tâm tới việc bảo vệ môi
trường sinh thái, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái của từng trang trại và sau đó
là trong phạm vi từng vùng.
Ở các vùng trung du, miền núi với đặc thù của riêng mình đã góp phần quan
trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đồi núi trọc, sử dụng hiệu quả nguồn
tài nguyên đất, cải thiện môi trường sinh thái, ngoài ra còn góp phần vào giảm thiểu và
khắc phục những thiên tai do vấn đề hoang hóa rừng gây ra.
1.3. Tiêu chí đánh giá và các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển
của kinh tế trang trại
Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của kinh tế trang trại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An,
tác giả đã xác định hệ thống tiêu chí sau để phản ánh và đánh giá thực trạng KTTT của
huyện trong quá trình nghiên cứu.
1.3.1. Tiêu chí đánh giá sự phát triển của kinh tế trang trại
1.3.1.1. Tiêu chí phản ánh quy mô số lượng, loại hình kinh tế trang trại
Quy mô về số lượng các trang trại: phản ánh sự tăng về mặt số lượng các trang
trại qua các năm hay hiểu một cách đơn giản đó là các cá thể hộ gia đình, cá thể kinh
doanh kinh tế trang trại ngày càng nhiều hơn. Qua đó giúp cho việc đánh giá xu hướng
và định hướng cho phát triển kinh tế trang trại nói riêng và ngành nông nghiệp nói
chung. Quy mô số lượng các TT thay đổi đồng thời cũng kéo theo các loại hình kinh tế
trang trại cũng sẽ có sự thay đổi.
Hình thành mới các cơ sở sản xuất nông nghiệp theo hình thức trang trại hoặc
chuyển hóa từ kinh tế hộ gia đình thành kinh tế trang trại là biểu hiện của việc gia tăng
số lượng các trang trại.
1.3.1.2. Tiêu chí phản ánh các yếu tố sản xuất của trang trại
- Lao động bình quân một trang trại: phản ánh số lượng và chất lượng người lao
động làm trong trang trại đó. Các TT sử dụng nhiều lao động (lao động gia đình và lao
động làm thuê) cho thấy nhu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng xu thế phát triển nhanh
chóng của kinh tế trang trại. Một khi TT sử dụng nhiều lao động sẽ đòi hỏi trình độ, kỹ
kinh doanh.
Tổng lợi nhuận = Tổng giá trị sản xuất hàng hóa – Tổng chi phí
- Tỷ suất hàng hoá của các trang trại chính là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng
hàng hoá trang trại và tổng khối lượng sản phẩm mà trang trại làm ra. Nó phản ánh
22
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
mức độ sản xuất hàng hoá nông sản của các trang trại. Một nền kinh tế trang trại phát
triển thể hiện ở một tỷ suất hàng hoá cao. Cơ sở để có tỷ suất hàng hoá cao của các trang
trại chính là sự chuyên môn hoá và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến, đảm bảo chất lượng hàng hoá trang trại tốt, phù hợp với nhu cầu của thị trường.
- Giá trị sản phẩm hàng hoá bán ra là giá trị còn lại sau khi trừ đi phần đã tiêu
dùng hay chính là phần giá trị mà trang trại đem sản phẩm của mình bán ra trên thị
trường. Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế đang chuyển sang nền kinh tế thị
trường thì chỉ tiêu giá trị hàng hoá có ý nghĩa quan trọng. Nó cho phép đánh giá
quy mô sản xuất kinh doanh của ngành chuyên môn hoá, đây cũng là một tiêu chí
bắt buộc của một loại hình trang trại, nó khác biệt so với sản xuất theo mô hình hộ
gia đình.
Tỷ suất hàng hoá thể hiện tỷ trọng sản phẩm hàng hoá đó trong giá trị sản
phẩm hàng hoá, vừa thể hiện tỷ trọng sản phẩm hàng hoá đó trong tổng giá trị
sản xuất.
1.3.2. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại được hình thành và phát triển chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều
nhân tố, trước hết phải kể đến các nhân tố sau:
1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên
* Đất đai, địa hình
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong nông nghiệp.
Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp. Đất đai là tư liệu sản xuất quan
trọng hàng đầu trong nông nghiệp nói chung và cho các trang trại nói riêng. Sự hình
thành KTTT gắn liền với việc tập trung và tích tụ ruộng đất. Đất đai là nguồn tài
cây trồng, vật nuôi, phát triển các loại ngành nghề và dịch vụ, tổ chức quản lý và phân
công hiệp tác lao động đã đem lại những thay đổi lớn lao trong trình độ sản xuất và tổ
chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của các trang trại.
Công nghệ sau thu hoạch, trình độ chế biến nông sản phẩm, khả năng nâng cao
chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa về hình thức, mẫu mã đối với các loại hàng hóa dịch
vụ trong nông nghiệp trong những năm qua là rất nhanh chóng, đó chính là nhờ những
thành tựu KHKT vừa góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh
nông nghiệp, vừa bảo đảm cho KTTT phát triển một cách nhanh chóng và bền vững.
24
SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhung
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lê Thu Hiền
Số lượng TT ngày càng tăng lên trong đó có nhiều TT đã mạnh dạn ứng dụng
KHKT vào sản xuất, kinh doanh những loại cây trồng vật nuôi, những loại sản phẩm
mới có năng suất và chất lượng cao hơn và do đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các TT một cách rõ rệt. [10, 32 - 33]
1.3.2.3. Cơ sở hạ tầng
Những loại cơ sở hạ tầng thiết yếu nhất đối với KTTT là: đường giao thông, điện,
thủy lợi, thông tin liên lạc và thương mại.
Sản xuất nông nghiệp phân bổ trên một địa bàn rất rộng lớn. Trong quá trình sản
xuất đòi hỏi phải được cung ứng một lượng rất lớn về vật tư, giống, phân bón, nhiên
liệu…và đến cuối vụ thu hoạch một khối lượng sản phẩm lớn hơn rất nhiều cần được
vận chuyển tới nơi tiêu thụ.
Nông sản hàng hóa của trang trại thường dưới dạng thô, tươi, sống, cồng kềnh dễ
bị hư hỏng, khó bảo quản, khó chuyên chở. Nếu không có hệ thống giao thông thuận
lợi (đường bộ, đường thủy, đường không) cho phép chi phí vận chuyển ở mức chấp
nhận được thì người nông dân cam chịu tồn tại nền kinh tế có tính kiên quyết của nền
nông nghiệp hàng hóa, của kinh tế trang trại.
Sự phát triển của hệ thống cung cấp điện cũng có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó là
cơ sở cho sự hình thành các xí nghiệp công nghiệp nông thôn, đặc biệt là các xí nghiệp
chế biến nông sản, một thị trường tiêu thụ rất lớn và ổn định ngay tại địa phương. Điện