Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế và nhập thế trong đời sống con người hiện nay - Pdf 31

Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

MỤC LỤC
PHẦN 1: TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.............................................................................2

I. Thế giới quan Phật giáo........................................................................................2
1. Thuyết vô thường.................................................................................................................2
2. Thuyết vô ngã......................................................................................................................3
3. Thuyết Lý nhân duyên sinh.................................................................................................4
4. Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả................................................................5

II. Nhận thức luận Phật giáo...................................................................................7
1. Bản chất, đối tượng của nhận thức luận...............................................................................7
2. Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức...............................................................7

III. Nhân sinh quan Phật giáo.................................................................................8
1. Tứ diệu đế:...........................................................................................................................9
2. Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo.................................................................13

PHẦN 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI................................................15
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM..................................................15

I. ĐẠO PHẬT VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT
NAM........................................................................................................................ 15
II. ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM....16
III. ĐẠO PHẬT VỚI CHIẾN TRANH VÀ HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM...............16
IV. ĐẠO PHẬT VỚI VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ.........................................................17
V. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ........................................................................................18
VI. KẾT LUẬN:...................................................................................................... 18


luật vô thường, không phải khi sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà
từng phút, từng dây, từng Satna, vạn vật sống để mà chết và chết để mà sống. Sống, chết tiếp
diễn liên tục với nhau bất tận như một vòng tròn.
Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng không ngừng chuyển
biến. Như dòng nước thác, như bọt bể, trong Satna này, trong tâm ta nổi lên một ý niệm
thiện, chỉ trong Satna sau, trong tâm ta đã có thể khơi lên một ý niệm ác. Tâm ta luôn luôn
chuyển biến như thế Phật gọi là tâm phan duyên. Trong kinh Thủ năng Nghiệm quyển một
Phật gọi cái tâm phan duyên ấy là cái tâm biết cái này, nghĩ cái khác, cái tâm vọng động do
duyên với tiền trần mà có, theo cách trần mà luôn luôn thay đổi, chuyển biến mà không Satna
nào ngừng.
Không những tâm, thân ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thời gian cũng chuyển
biến: Xã hội công xã nguyên thuỷ --> Xã hội chiếm hữu nô lệ --> Xã hội phong kiến --> Xã
hội tư bản --> Xã hội XHCN. Đó là quy luật xã hội và cũng không phù hợp với thuyết vô
thường của Đạo Phật.

Trang 2


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý
luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý
phật.
Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, có những nhận thức sai
lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến. Nhận thức sai lầm như
thế phật giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác. Vì nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo
giác muốn kéo dài sự sống để hưởng thụ, để thoả mãn mọi dục vọng. Khi luật vô thường tác
động đến bản thân thì sinh ra phiền não đau khổ.
Ngược lại, nếu thấu lý vô thường một cách nông cạn, cho chết là hết, đời người ngắn ngủi,

Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: Hỷ, nộ,
ai, lạc, ái , nỗ, dục.
Trang 3


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh cửu, tồn tại kiếp
này sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Sự tin có một linh hồn dẫn dắt đến sự cúng tế linh
hồn là hành động của sự mê tín.
Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình
cảm, những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi
nghĩa để làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là thường còn, bất biến. Còn đối với
những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng tiêu cực,
chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau.
Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật. Chấp ngã chấp có
cái ta thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử sinh
ra đau khổ cho con người. Căn cứ trên hai thuyết vô thường và vô ngã Phật đã xây dựng cho
đệ tử một phương thức sống, một triết lý sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống
của mình, hay nói một cách khác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi người vì một
người.
3. Thuyết Lý nhân duyên sinh.
Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý. Theo định lý ấy sự vật vạn vật phát
triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi
nhân duyên tan rã.
Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh. Như cây lúa thì hạt lúa
là nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên. Nhân duyên đó hội họp
sinh ra cây lúa. Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động. Nói nương nhau có
nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành. Đó là nhân duyên.

Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoà hợp, sự vật là hư
giả, là giả hợp không có tính tồn tại. Như vậy con người làm chủ đời mình, làm chủ vận
mệnh của mình.
Cuộc sống của con người có tươi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều do nhân
duyên mà con người tạo ra. Với nhận thức như vậy, con người tìm được một phương thức
sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi người, sống an lạc, tự tại, giải
thoát.
4. Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả.
Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong những thuyết cơ bản của
giáo lý Phật. Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có, mà sinh ra và cũng cho rằng
không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào tạo ra sự vật. Sự vật sinh ra là có
nhân nguyên nhân. Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ
duyên thì mới tạo ra quả được.
Người ta nói rằng: Trồng đậu được đậu.
Trồng dưa được dưa.
Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân sinh ra nó. Quả có thể hơn nhân nếu gặp
đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu. Nhân gặp đủ duyên thì sẽ biến
thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biến thành nhân rồi để sinh ra quả khác.
Sự vật là một chuỗi nhân quả, là một tràng nhân quả nối tiếp nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng.
Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhưng quả không nhất định phải đúng như
nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết “Bất định pháp” trong luật
nhân quả.
Sự vật là bất định, người tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dưỡng và tiến tới trên con
đường giải thoát về nhân. Suy rộng ra theo giáo lý Phật thì mỗi ý nghĩ của tâm ta, mỗi hành
động của thân ta, mỗi lời nói của chúng ta cũng là những hạt nhân của chúng ta gieo hàng
ngày. Những hạt nhân khi gặp đủ duyên sẽ nảy nở thành quả.
Theo danh từ Phật học, những hạt nhân này gọi là nghiệp. Gieo nhân tức là gây nghiệp: Ý
nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp. Kết quả đền đáp những hành động nói trên phật gọi là
nghiệp báo. Thời gian giữa gieo nhân và hái quả có thể dài ngắn khác nhau. Vì vậy có nhân

tướng, có thể nhận thức được, ý niệm được. Cảm giác được hay dùng ngôn ngữ luận bàn,
được đều được Phật gọi là pháp. Các pháp đều thuộc một giới gọi là Pháp giới. Bản tính của
pháp giới là các pháp duyên khởi ra nhau. Tính ấy là tính của pháp giới nên gọi là pháp giới
tính. Do pháp giới tính là bản tính của các pháp nên gọi là chân, vì vậy pháp giới tính còn gọi
là chân như tính.
Giác ngộ được chân như tính thì gọi là tự giác, nhưng thế thì chưa nhận thức đầy đủ, sâu
sắc về pháp giới tính vì vậy các nhà tu hành giác ngộ được bản lai tự tính còn phải vận dụng
pháp giới tính vào nhiều trường hợp khác để thấy được cái dụng to lớn của pháp giới tính.
Như vậy, người tu hành chỉ khi nào công hạnh giác tha được viên mãn lúc đó mới chứng
thực được toàn thể, toàn dụng của pháp giới tính. Nói một cách khác là chứng được toàn thể
của sự vật gồm cả ba vẻ: thể, tưởng, dụng, chứng được pháp thân.

Trang 6


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

II. Nhận thức luận Phật giáo.
1. Bản chất, đối tượng của nhận thức luận
Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ. Còn đối tượng của
nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tượng, là cả vũ trụ.
Vạn vật là vô thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật cuối cùng. Mọi
vật đều liên quan mật thiết đến nhau. Toàn thể dù lớn đến đâu nếu không có quan hệ với hạt
bụi thì cũng không thành lập được. Để diễn đạt ý trên, một thiền sư đã dùng hai câu thơ:
Càn khôn tận thị mao đầu thượng.
Nhật nguyệt bao hàm giới trí trung.
Có nghĩa là:
Trời đất rút lại đầu lông nhỏ xíu.
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng.


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

đây là những khả năng nhận thức của các giác quan. Trần là loại kích thích từ thế giới bên
ngoài. Nếu kích thích tương ứng với các căn thì con người có cảm giác. Sáu căn là : nhăn,
nhỉ, tù, thiệt, thân, ý. Sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. “ Thọ”, cho chúng ta nhận
biết được những hiện tượng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫu nhiên. Trong một số trường
hợp khác gọi đó là kinh nghiệm. Từ những tri thức cảm tính kinh nghiệm nêu trên, con người
sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sự vật để biết được cái bên trong, bản chất đó là tri thức
định lý.
Giai đoạn hai sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến cái tâm siêu thể. Từ kết quả của giai đoạn
trước , con người bắt được cái tâm tính của những sự vật hữu hình tái thế và đặc biệt là cái
tâm ở trong mỗi con người và nâng lên để nắm được cái tâm siêu thoát, cái tâm trung.
Để đạt được sự nhận thức đó thì có nhiều phương pháp song hai phương pháp sau: Tam
học và Tam huệ là chủ yếu.
Tam học là giới, định, tuệ.
 Giới: Gồm có nhứng phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt hàng ngày
của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện.
 Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung tư tưởng suy nghĩ
để làm mọi việc yên lành.
 Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ đến làm
việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
 Tam huệ: là văn, tu, tư.
Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanh tịnh, sáng suốt
của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp.
Tư : là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ bản lai tư tính
của mình.
Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụ tập gột rửa
những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp giới tính.

Nói như thế có người hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là khổ, và
đạo Phật là đạo yếm thế. Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không ru
người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người ta sợ hãi, chán
nản bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời
theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.
Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hết nghĩa nên mới dẫn
đến những hiểu lầm trên.
Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ. Như vậy
không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra khổ thụ nhưng đối
với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho người ta vui hoặc khổ hoặc không
vui, không khổ. Đạo phật không phủ nhận những cảm giác vui (lạc thú ) của cuộc đời mà còn
phân tích ra nhiều hình thức vui. Nhưng những cái vui ấy, cũng như những cái khổ ấy đều
bao gồm trong danh từ Dukkha, vì những cái vui, cũng như những cái khổ ấy đều là vô
thường hư giả.
Dù người tu hành chứng được những trạng thái thiền định cao siêu thì những lạc thú siêu
thoát ấy vẫn là Dukkha vì những người tu hành ấy chưa thoát khỏi tam giới vô thường, hư
giả.
Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái Dukkha ấy chứ
không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu, thường lầm.
Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối
nên khổ.
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến. Cái già
vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo,
xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy
nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì
gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.
5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết

Ái dục: là tham ái, yêu thích do cảm thụ đi đến suy đắm trước những cảnh yêu thích, vừa
lòng, chán ghét cảnh trái ý. Vì say đắm với những cảnh nên rong ruổi theo cảnh, bám lấy
cảnh hình thành nên tham vọng và ước muốn.
Vô minh: là mê lầm, không sáng suốt. Đối với những hiện tượng trụ không nhận rõ chân
tướng, thực tướng của nó là sự chuyển biến không ngừng, là vô thường mà lại lầm tưởng các
hiện tượng đó là thực có, là thường còn. Vô minh che lấp ta không nhận thấy được chân tâm
mà luôn luôn chạy theo vọng tâm, làm ta thấy có thân, có cảnh, có ta, có người của ta và thấy
quý thân ta, không quan tâm đến người sống quanh ta.
Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp.
Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo. Không phải hoạt động nào của ta cũng gây
nghiệp báo. Những việc như : đi, đứng, nhìn, ngồi,... thì không gây nghiệp báo.
Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác.
Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho người và đem lại quả báo tốt cho mình.
Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngươi và đem lại quả báo xấu cho mình.
Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ. Tự con người đã gây nên
nỗi khổ cho mình. Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhân duyên để thấy được nguồn gốc
của sự vật trong thế gian. 12 nhân duyên là sợi dây liên tục nối tiếp con người trong vòng
sinh tử luân hồi đó là:
1. Vô minh
5. Lục nhập
9. Thù
2. Hành
6. Xác
10. Hữu
Trang 10


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

cõi đời hiện tại.
d. Đạo đế:
Đạo đế là con đường, là môn pháp hướng dẫn cho chúng sinh đạt được đến quả giải thoát,
ra khỏi luân hồi sinh tử.
Pháp môn tu dưỡng ra khỏi luân hồi sinh tư rất nhiều, nhưng thường được đề cao là
phương pháp 37 đạo phẩm.
Phương pháp này gồm có:
1.
Tứ niệm xứ: 4.
2.
Tứ chính cần: 4.
3.
Tứ như ý túc: 4.
4.
Ngũ cân:
5.
5.
Ngũ lực:
5.
6.
Bát chính đạo: 8.
7.
Thất giác :
7.
Trong 37 đạo phẩm, bát chính đạo là quan trọng nhất. Nó là con đường giúp người ta
thoát khỏi phiền não, đau khổ đi tới cảnh giới Niết Bàn tự tại, an lạc. Bát chính đạo gồm có:
1. Chính ngữ : là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
Trang 11



Với pháp tứ diệu đế Phật muốn cho chúng sinh thấy 2 cảnh giới khác nhau là Niết Bàn và
Thân Lụy: một con đường giác ngộ, an lạc và một con đường mê lầm tội lỗi. Và cùng
phương pháp tứ diệu đế, bây giờ chúng ta có thể trả lời được các câu hỏi đã đặt ra ở trên.

Trang 12


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

2. Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo
a. Con người:
Con người là sự kết hợp của ngũ uẩn( sắc, thụ, tưởng, hành, thức) gồm hai yếu tố chính:
yếu tố sinh lý( sắc) và yếu tố tinh thần ( thụ, tưởng, hành, thức).
Yếu tố tinh thần chỉ phát huy tác dụng khi nó được gắn với một thân thể. Sắc thân chỉ tồn
tại trong một thời gian rồi bị huỷ diệt.
Như vậy, con người chỉ là một giả hợp sinh lý tuân theo quy luật: sinh, tục, dị, diệt.Con
người là do nhân duyên hoà hợp, không có một đấng tối thượng siêu nhiên tạo ra con người
cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra. Khi nhân duyên hoà hợp thì con người
sinh, khi nhân duyên tan rã thì con người chết. Song chết chưa phải là hết, linh hồn cũng
không bất tử chuyển từ kiếp này sang kiếp khác. Con người ở kiếp này sinh ra thì con người
ở kiếp trước diệt, nhưng con người ở kiếp sau không phải là con người ở kiếp trước nhưng
cũng không khác với con người ở kiếp trước. Con người không phải là một thực thể trường
tồn mà chỉ là một giả hợp của ngũ uẩn. Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp, các việc thiện, ác
được thực hiện. Con người gây nghiệp và tạo ra một động lực làm xuất hiện nghiệp báo ở
kiếp sau.
Từ nhận thức trên, con người tu Phật lúc nào cũng phải cẩn thận trong một ý nghĩ, lời nói
việc làm.
b. Nhân vị trong đạo Phật.
Đạo Phật là đạo chủ trương tự do, bình đẳng, từ bi, bác ái. Ở một thời đại cổ xưa cách

thái độ tiêu cực, thụ động trước mọi sự bất công, áp bức, tham nhũng. Có sức mạnh hung bạo
thì phải có sức mạnh của từ bi để chống lại. Sức mạnh đó thể hiện bằng sự giáo hoá và bằng
cả bạo lực, bạo lực từ bi.
Hai chữ từ bi càng đẹp biết bao nhiêu đối với những con người thực tâm tu luyện thì càng
xấu xa bao nhiêu đối với những kẻ lợi dụng đạo để mưu cầu lợi ích cho mình. Vấn đề giải
thoát là vấn đề cơ bản trong đạo Phật vì mục đích cuối cùng của đạo Phật là giải thoát con
người khỏi cuộc sống đau khổ trong vô minh.
Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội về kinh tế như lịch
sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tận gốc mọi đau khổ là tham lam
và dục vọng. Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có thể làm
thay được và mỗi người phải coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời.
Như vậy, Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý. Hạnh
phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo lý Phật, con
người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống
vì lợi ích của nhau, của tập thể.
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái
gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy là
xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.

Trang 14


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

PHẦN 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I sau công nguyên kết hợp với phong tục, tập
quán truyền thống dân tộc Việt Nam hình thành nên Phật giáo Việt Nam. Trải qua một
khoảng thời gian dài, Phật giáo ở Việt Nam không ngừng phát triển, lớn mạnh và đã tạo nên

là có hiện tượng mê tín dị đoan như: Lên đồng, đốt vàng mã, những đồ dùng bằng giấy.
Những tư tưởng mê lầm đó vừa phung phí tiền bạc, thời gian lại làm xuất hiện trong xã hội
những loại người chỉ dựa vào những nghề nghiệp ấy mà kiếm sống gây ra một sự bất công
trong xã hội.
Trang 15


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế
và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

Tuy nhiên, nhân cách con người Phật giáo có những điều phù hợp với xã hội hiện nay.
Nhưng những điều đó chỉ giới hạn trong những trường hợp nhất định và chúng ta phải phát
huy những mặt đó. Vượt qua những giới hạn đó, nó sẽ có những mâu thuẫn với giáo lý và trở
nên lạc lõng, mất hiệu quả. Vậy con người am hiểu đạo lý, mến đạo, mộ đạo không phải chỉ
là con người tu hành một cách cần mẫn mà phải có cả phần trí tuệ để biết vận dụng giáo lý
vào cuộc sống một cách hữu ích. Hiểu được và làm được như thế, con người sẽ thấy đạo đức
Phật đẹp đẽ và cao thượng biết bao.
II. ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM.
Nhìn vào đời sống văn hoá, tinh thần của xã hội Việt Nam trong những năm qua, ta thấy
hiện tượng Phật giáo đang được phục hồi và phát triển. Bên cạnh sự phát triển ngày một lớn
mạnh của kiến trúc hiện đại, Việt Nam vẫn phục hồi kiến trúc cổ xưa qua việc tu sửa lại
những đền chùa, miếu mạo, những danh lam thắng cảnh. Đó là những nơi mà dấu ấn của đạo
phật thể hiện rõ nhất.
Ở thời nhà Lý, nghệ thuật kiến trúc đã đạt tới đỉnh cao với những công trình mang tính
quy mô to lớn, vượt hẳn thời trước và cả những thời sau đó. Như nền chùa Quế Giạm ( Quế
Võ- Hà Bắc) trải rộng trên một diện tích với những vết tích còn lại gồm ba cấp trải rộng trên
một diện tích gần 120 mét, rộng 70 mét. Các ngôi tháp đời lý gồm nhiều tầng, cao chót vót:
Tháp Bảo - thiên cao vài mươi trượng ( khoảng trên 60 mét) gồm 12 tầng, tháp Sùng-thiệndiên- linh ( chùa Đọi, Duy Tiên, Nam Hà) cao 13 tầng, tượng Phật Di-lặc chùa Quỳnh
Lâm( Đông Chiều, Quảng Ninh) cao 6 trượng, khoảng 20 m. Chùa Một Cột là một sách tạo
về nghệ thuật, tượng trưng cho 1 toà sen nở trên mặt nước. Những kiến trúc đó thường hoà

Đạo Phật không làm rơ một giọt máu nào.
– Trong giáo lý Phật, ở phần giới luật, giới thứ nhất là giới sát: với giới luật này, chúng
ta càng thấy rõ đạo Phật chủ trương ôn hoà, hoà bình và hoà hợp giữa các dân tộc, không
muốn cho chúng sinh nói chung, loài người nói riêng tàn sát lẫn nhau. Nhưng ở đây chúng ta
phải hiểu giới sát với đúng tinh thần trong giáo Phật.
Giới sát có nghĩa là giới bất tàn sát.
Tàn sát có nghĩa là giết hại chúng sinh một cách hung ác, tàn bạo. Giáo lý Phật căn cứ vào
tâm ý để phân biệt thiện ác mà không căn cứ vào hành động. Nói thế có nghĩa là một hành
động chỉ được coi là thiện, ác khi căn cứ vào hành động ấy mà mưu đồ làm hại cho người
khác hay cứu giúp người khác. Trong kinh có câu: “ Nhất niệm khởi, thiện ác dĩ nhân. Muốn
cho tâm niệm mỗi khi khởi lên là một tâm niệm thiện thì Phật dạy đệ tử luôn phải giữ tâm
trong chính niệm “.
Như vậy, chúng ta phải hiểu giới sát đúng với thần trong giáo lý Phật và áp dụng cho
đúng. Nếu ta giết người với mục đích để diệt trừ quân xâm lăng hung ác để bảo vệ dân nước
thì việc làm đó là việc thiện vì hành động của ta xuất phát từ một ý niệm thiện. Chiến tranh
giải phóng dân tộc của các nước chống xâm lược để mang lại hoà bình, hạnh phúc cho nhân
dân, mang lại độc lập, tự do cho dân tộc là một cuộc phóng sinh vĩ đại, là một việc thiện, một
việc chính nghĩa.
Trái lại, nếu chúng ta giết người để thỏa lòng tham ác, để mưu lợi ích kỷ cho bản thân ta
thì việc chém giết ấy là một việc ác, hành động ấy xuất phát từ một ý niệm ác.
Chiến tranh xâm lược do đế quốc tiến hành chống các nước yếu hơn, phá hoại độc lập,
hoà bình, an ninh của các dân tộc, hủy diệt môi trường sống là một tội ác. Vấn đề căn cứ vào
tâm, niệm để phân biệt thiện, ác là rất quan trọng. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh những
điều nói trên bằng các gương người thực việc thực.
Dưới triều Lý và Trần, giặc Nguyên kéo đại quân gồm 30 vạn rồi 50 vạn quân sang xâm
lược nước ta tiến hành một cuộc chiến tranh đại dã man. Để chống quân xâm lược, Lý Thái
Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, những ông vua rất sùng đạo, yêu nước này lại trở
về sống tu hành ăn chay niệm Phật.
Trong những năm gần đây, dân tộc Việt Nam đã liên tiếp tiến hành hai cuộc chiến tranh
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thấm nhuần giáo lý Phật nói chung và luật giới sát nói

chính trị cũng sẽ bị xử phạt như bất kỳ một công dân Việt Nam nào khác. Bởi lẽ bất kỳ một
sư sãi của tổ chức nào thì trước hết cũng là công dân của nhà nước Việt Nam. Việt Nam là
một quốc gia có nhiều tôn giáo, những người theo đạo là một bộ phận khăngkhít của khối đại
đoàn kết dân tộc đã có những đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Do đó, đối với Phật giáo, chính phủ Việt Nam là không có lý do gì để phân biệt đối xử
Phật tử Việt Nam là những người yêu nước, luôn gắn bó với dân tộc qua mọi bước thăng
trầm của lịch sử, luôn đứng về phía Tổ quốc đấu tranh chống ngoại xâm. Đạo Phật đối với
Việt Nam không chỉ là một tôn giáo mà còn là một bộ phận của nền văn hoá dân tộc truyền
thống.
V. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.
Đạo Phật là một đạo không chỉ để người ta học mà chủ yếu cho người ta hành. Thực ra,
những cái mà ta học được trong kinh điển mới chỉ là một kiến thức lỏng lẻo có tính chất lý
thuyết. Ta mới chỉ nghe thấy nói đến những thuyêt vô thường, vô ngã, sắc không... mà thôi.
Còn tu hành là phải gắng sức thực nghiệm những chân lý đó. Hiểu đạo không phải chỉ là
nghiệm đạo qua kinh điển mà phải trải qua học đạo, tu đạo, chứng đạo. Thời đại ngày nay là
thời đại của phát triển, của khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Để phù hợp với sự phát
triển đó, con người cần phải có tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm
sáng tạo. Nhưng không vì thế mà con người ngày nay xa rời với con người của Phật giáo: từ,
bi, hỷ, xả. Con người có tham vọng nhưng không tham nhũng cái do người khác làm ra,
không vun vén lợi ích cho riêng mình biết kết hợp những phẩm chất đạo đức của con người
Phật giáo với tư cách, trí tuệ của con người hiện đại là chúng ta tự hoàn thiện mình, cùng
nhau xây dựng một xã hội văn minh, hạnh phúc.
VI. KẾT LUẬN:
Qua những vấn đề cơ bản trong Phật học, ta thấy Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng thống
nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con
người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người
Trang 18


Tiểu luận môn Triết Học: “Tư tưởng xuất thế của Phật Giáo và vấn đề kết hợp giữa xuất thế

và nhập thế trong đời sống con người hiện nay”

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Duy Cần - Tinh hoa Phật giáo ( NXB thành phố HCM) - 1997
2. Thích Nữ Trí Hải dịch - Đức Phật đã dạy những gì ( con đường thoát khổ) ( NNXB Tôn
giáo - 2000 )
3. PGS Nguyễn Tài Thư - Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt
Nam hiện nay ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia - 1997).- Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1 (
NXB quốc gia - 1993)
4.Thích thiện Siêu dịch - Lời Phật dạy ( NXB Tôn giáo - 2000)
5. PTS. Phương Kỳ Sơn - Lịch sử Triết học ( NXB chính trị quốc gia - 1999)
6. Lý Khôi Việt - Hai nghìn năm Việt Nam và Phật giáo.
7. Viện triết học - Lịch sử Phật giáo Việt Nam ( NXB khoa học xã hội Hà Nội - 1988 )
8. Nhiều tác giả - Mười tôn giáo lớn trên thế giới ( 1999)

Trang 20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status