Khoá luận tốt nghiệp đại học
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học phát triển đã chứng minh được vai trò quan trọng
của dinh dưỡng đối với cơ thể của con người. Con người muốn sinh trưởng và
phát triển tốt thì nhất thiết phải được cung cấp một chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Dinh dưỡng không hợp lý sẽ gây ra những hậu quả xấu về mặt thể lực, ảnh
hưởng đến khả năng học tập và làm việc của con người đặc biệt là đối với trẻ
em. Vì cơ thể trẻ đang phát triển và hoàn thiện, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến quá trình phát triển của trẻ, trong đó yếu tố quan trọng nhất là dinh
dưỡng. Một chế độ dinh dưỡng cân đối và hợp lý sẽ tạo điều kiện cho cơ thể
trẻ được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực.
Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tương lai. Việc chăm sóc, bảo vệ và
giáo dục trẻ em ngày càng được toàn cộng đồng quan tâm. Trẻ em bị bệnh
không những ảnh hưởng tới tính mạng, tới sự phát triển về thể chất mà còn
ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần và trí tuệ của trẻ [14].
Khi trẻ có một cơ thể khỏe mạnh trẻ sẽ có điều kiện tìm hiểu, khám phá
thế giới xung quanh một cách hoàn toàn tự nhiên và hứng thú. Ngược lại nếu
chế độ dinh dưỡng của trẻ không cân đối và hợp lý trẻ sẽ không có cơ hội
được phát triển một cách bình thường. Trẻ sẽ bị mắc một số bệnh do dinh
dưỡng không hợp lý sau: suy dinh dưỡng, còi xương, tiêu chảy [3].
Hiện nay, ở nước ta tỷ lệ trẻ em bị mắc bệnh suy dinh dưỡng còn khá
cao so với các nước đang phát triển khác. Một trong những nguyên nhân
chính tạo ra tình trạng này là vấn đề thiếu kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ của
gia đình, do điều kiện chăm sóc ở mức chưa cao, hoặc do các bậc phụ huynh
cho trẻ ăn thức ăn chưa đủ, chưa đúng thành phần dinh dưỡng. Những nguyên
Lê Thị Lan Anh
1
Lê Thị Lan Anh
2
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
do điều kiện sống của trẻ: vệ sinh môi trường sống, điều kiện nuôi dưỡng cho
trẻ, hiểu biết của bà mẹ tới bệnh SDD của trẻ em.
- Định hướng chương trình giáo dục và đào tạo, đặc biệt có kế hoạch
trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ em tránh được tình trạng SDD ở trẻ. Qua đó
tìm ra chế độ dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ.
Lê Thị Lan Anh
3
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình SDD ở trẻ em trên Thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình SDD ở trẻ em trên Thế giới
Theo ước tính của tổ chức y tế Thế giới (WHO), có trên 500 triệu trẻ
em thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển, làm 10 triệu trẻ em tử vong
Ở Việt Nam, các điều tra dịch y tế học của Viện Dinh Dưỡng, Bộ Y tế
cho thấy 51,5% trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu dinh dưỡng, trong đó có 10,9% ở thể
nặng và 1,6% ở thể rất nặng .
Năm 1999, Viện Dinh Dưỡng điều tra trên 52 tỉnh thành đã cho kết quả
ở trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ SDD như sau: SDD cân nặng/ tuổi là 36% trong
đó thể nặng 6,7% và thể rất nặng 0,6%. SDD chiều cao/tuổi là 37,2% và SDD
cân nặng, chiều cao là 9,8%.
Theo thống kê của Viện Dinh Dưỡng Quốc gia, mức độ SDD ở trẻ em
Việt Nam hiện nay rất cao, với tỷ lệ 31,9% (tương đương cứ 3 bé thì có một
em bé bị thấp còi).
Tại hội thảo sữa học đường Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Việt
Nam (trong 2 ngày 25 - 26/11), bà Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh
Dưỡng Quốc gia Việt Nam cho biết, tỷ lệ SDD ở nước ta đứng thứ 20 trên
Thế giới - mức rất cao.
1.2. Dinh dưỡng là gì?
Dinh dưỡng là một quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể
những thức ăn cần thiết qua quá trình tiêu hoá và hấp thụ để bù đắp hao phí
năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể và tạo ra sự đổi mới các
tế bào và mô cũng như điều tiết các chức năng sống của cơ thể.
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hằng ngày của con người, trẻ em cần dinh
dưỡng để phát triển thể lực và trí lực, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự
sống và làm việc hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát
triển của cơ thể. Đặc trưng cơ bản của sự sống là sinh trưởng, phát triển, sinh
sản, cảm ứng, vận động, trao đổi chất và năng lượng. Trong các đặc trưng đó,
đặc trưng quan trọng nhất là trao đổi chất và năng lượng vì nó chi phối tất cả
các đặc trưng khác và là điều kiện tồn tại và phát triển của cơ thể sống.
Lê Thị Lan Anh
5
bổ sung hợp lý.
Lê Thị Lan Anh
6
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
- Sự cung cấp thức ăn cho trẻ bao gồm số lượng, chất lượng để đáp ứng
nhu cầu cơ bản về dinh dưỡng của trẻ em.
1.4.. Dinh dưỡng đối với cơ thể trẻ
1.4.1. Protein
Protein là yếu tố tạo hình chính, tham gia vào thành phần các cơ bắp,
máu, bạch huyết, hoocmon, men, kháng thể, các tuyến bài tiết và nội tiết. Do
vai trò này, protein có liên quan đến mọi chức năng sống của cơ thể (tuần
hoàn, hô hấp, sinh dục, tiêu hóa, bài tiết hoạt động thần kinh và tinh thần...).
Protein cần thiết cho chuyển hóa bình thường các chất dinh dưỡng
khác, đặc biệt là các vitamin và chất khoáng. Khi thiếu protein, nhiều vitamin
không phát huy đầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng.
Protein còn là nguồn năng lượng cho cơ thể, thường cung cấp 10% 15% năng lượng của khẩu phần, 1g protein đốt cháy trong cơ thể cho 4 Kcal,
nhưng về mặt tạo hình không có chất dinh dưỡng nào có thể thay thế protein.
Protein kích thích sự thèm ăn và vì thế nó giữ vai trò chính tiếp nhận
các chế độ ăn khác nhau. Thiếu protein gây ra các rối loạn quan trọng trong
cơ thể như ngừng lớn hoặc chậm phát triển, mỡ hóa gan, rối loạn hoạt động
nhiều tuyến nội tiết (giáp trạng, sinh dục), thay đổi thành phần protein máu,
giảm khả năng miễn dịch sinh học của cơ thể và tăng tính cảm thụ của cơ thể
với các bệnh nhiễm khuẩn.
cấu tạo xương, răng, đặc biệt cần thiết. Khi thiếu canxi, xương trở nên xốp,
mô liên kết biến đổi. Quá trình này xảy ra ở trẻ em làm xương bị mềm, biến
dạng (còi xương). Những thay đổi này trở nên nghiêm trọng khi kèm theo
thiếu vitamin D. Ngoài ra, canxi còn tham gia điều hòa quá trình đông máu và
giảm tính kích thích thần kinh cơ. Chuyển hóa canxi liên quan chặt chẽ với
chuyển hóa photpho, ngoài việc tạo xương, photpho còn tham gia tạo các tổ
chức mềm (não, cơ).
1.4.6. Nước
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn
ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước.
Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ,
50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước
trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước ngoài tế bào có trong huyết tương
Lê Thị Lan Anh
8
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch
ngoài tế bào của cơ thể (3 - 4 lít). Nước là chất quan trọng để các phản ứng
hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là một
dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó
được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước.
Nước là thành phần cơ bản của tất cả các tổ chức và dịch thể. Mọi quá
trình chuyển hóa trong tế bào và mô chỉ xảy ra bình thường khi đủ nước.
Người ta có thể nhịn ăn để sống 3 - 4 tuần nếu mỗi ngày tiêu thụ 300 - 400ml
năng lượng, còn trong SDD do thiếu đạm chủ yếu thì lớp mỡ lại ít mất hơn
[11].
1.5.2.2. Vòng cánh tay (VCT)
- Vòng cánh tay bình thường phát triển nhanh trong năm đầu. Từ 1 - 5
tuổi hầu như không thay đổi và trên 13,5 cm. Chỉ áp dụng đo VCT cho trẻ 1 5 tuổi.
- Trong khám sức khỏe hàng loạt, người ta làm sẵn những bản đo VCT
với 3 khoảng nhuộm màu: xanh >13,5 cm, vàng: 13,5 - 12.5 cm, đỏ < 12,5
cm.
- Vì số đo VCT phụ thuộc khối cơ và độ dày lớp mỡ dưới da nên tiêu
chuẩn này cũng có mặt hạn chế như tiêu chuẩn trên, nó có giá trị trong cộng
đồng hơn là dùng để đánh giá SDD một cách chính xác [11].
1.5.2.3. Theo Wellcome (1969)
Cách đánh giá trên tuy dễ thực hiện nhưng có mặt hạn chế nhất là khi
trẻ bị phù do thiếu đạm vì cân nặng không thực. Do đó Wellcome đã đề nghị
kết hợp 2 tiêu chuẩn giảm cân nặng và phù để đánh giá SDD [11].
Bảng 1.1: Bảng đánh giá tình trạng SDD theo Wellcome (1969)
% CN /T
PHÙ
KHÔNG PHÙ
60 - 80 %
Kwashiorkor
SDD nhẹ, trung bình
< 60 %
Trẻ bình thường
SDD cấp (Thiếu dinh dưỡng,
gầy còm)
Thiếu dinh dưỡng, SDD
Thiếu dinh dưỡng nặng, kéo
mạn, dị chứng, còi cọc
dài
- Còi cọc: khi CC giảm > 10% so với chiều cao chuẩn theo tuổi. Biểu
hiện SDD đã lâu hoặc xảy ra trong quá khứ với một thời gian dài nhất là vào
năm đầu của đời sống. Đây là thể SDD kéo dài, hiện tại chỉ là di chứng, thể
này đã được điều chỉnh về chế độ ăn. CN/CC >80%, cân nặng đã phụ hồi
phần nào nhưng chiều cao thì không, trẻ bị lùn so với chuẩn. Thể này có tỷ lệ
cao ở các nước đang phát triển, tăng theo tuổi, nhất là khu lao động nghèo,
các trại mồ côi. Ở nước ta trong thập kỉ 90, tỉ lệ này ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm
đi 19,8%. Trong thập kỉ 90, bình quân hằng năm tỉ lệ thấp còi trẻ em nước ta
giảm 1,9% (từ 56,7% năm 1990 xuống còn 36,7% năm 2000).
- Gầy còm: Khi cân nặng hiện tại giảm >20% so với cân nặng chuẩn
ứng với chiều cao hiện có. Biểu hiện SDD cấp tính thường do nhiễm trùng
cấp. Nếu được nhanh chóng điều chỉnh về chế độ ăn trẻ sẽ phục hồi hoàn
toàn. Ở nước ta trong 10 năm nay tỉ lệ mắc bệnh vẫn còn cao.
- Thể còi cọc - gầy còm: Biểu hiện tình trạng SDD mạn tiến triển. Trẻ
có chế độ ăn thiếu nhiều, ngày càng sụt cân và giảm chiều cao: CN/CC
này ổn định.
- Thể gầy còm (CC/CN): Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh một
tình trạng thiếu ăn gần đây nhưng cũng có thể lâu hơn. Ở các nước nghèo nếu
không do khan hiếm thực phẩm tỷ lệ này thường dưới 5%, tỷ lệ này từ 10 14% là cao và trên 15% là rất cao. Thường tỷ lệ này cao nhất ở lứa tuổi 2 tuổi.
Lê Thị Lan Anh
12
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra bảng phân loại sau đây để nhận định ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng của vấn đề thiếu dinh dưỡng trẻ em.
Bảng 1.3: Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở
cộng đồng [3]
Mức độ thiếu dinh dưỡng ( tỷ lệ %)
Chỉ tiêu
Thấp
Trung bình
Cao
Rất cao
Nhẹ cân (CN/T)
Năm 1998, UNICEF đã xây dựng mô hình nguyên nhân SDD. Một số tổ
chức khác cũng có nhứng mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc
phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF. Mô hình nguyên nhân
SDD cho thấy nguyên nhân của SDD khá phức tạp, đa dạng, có mối quan hệ
chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại
hộ gia đình. Mô hình chỉ ra nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: Nguyên
nhân trực tiếp, nguyên nhân tiềm tàng, nguyên nhân cơ bản. Các yếu tố ở cấp
độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác [15].
- Nguyên nhân trực tiếp: Hai yếu tố phải kể đến là khẩu phần ăn thiếu
và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Khẩu phần ăn thiếu về số lượng hoặc kém về
chất lượng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới SDD: Trẻ không được
bú sữa mẹ đầy đủ, cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá
muộn, số lượng không đủ và năng lượng, protein trong khẩu phần ăn cũng
thấp cũng dễ dẫn đến SDD [15].
- Nguyên nhân tiềm tàng: Đó là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc bà
mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình,
Lê Thị Lan Anh
13
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo,
mất vệ sinh , tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao
gồm cả mất bình đẳng về kinh tế. Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến
SDD là an ninh thực phẩm, thiếu sự chăm sóc và bệnh tật, và các yếu tố này
chịu ảnh hưởng lướn của đói nghèo [15].
Các chỉ số này sẽ được so sánh với bảng đánh giá tình trạng dinh dưỡng
được Tổ chức Thế giới khuyên cáo năm 2006. Ngoài ra còn có thể dựa vào
các chỉ số khác như: Đo vòng cánh tay (VCT) để xác định khối cơ bắp và lớp
mỡ dưới da, đo nếp xếp da xác định độ dày lớp mỡ dưới da…[13].
1.5.5. Triệu chứng SDD
1.5.5.1. Giai đoạn sớm
Thường chỉ có biểu hiện đứng cân kéo dài hay sụt cân.
1.5.5.2. Giai đoạn toàn phát
Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh,
chậm biết bò trườn, đi dứng, chậm mọc răng. Khi thăm khám thấy cơ thể có
biểu hiện của thể phù, thể teo đét hay hỗn hợp.
1.5.6. Hậu quả của SDD ở trẻ em
- Tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi.
- Tăng các nguy cơ bệnh lý: Nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy...
- Chậm phát triển thể chất: Ảnh hưởng trên tầm vóc. Thiếu dinh dưỡng
là nguyên nhân trực tiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát
triển, bao gồm của cả hệ cơ xương, nhất là khi tình trạng thiếu dinh dưỡng
diễn ra sớm như suy dinh dưỡng trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm
trước khi trẻ được 2 tuổi. Nếu tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài đến thời gian
dậy thì, chiều cao của trẻ sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn. Chiều cao của
trẻ được quy định bởi di truyền, nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần
thiết để trẻ đạt tối đa tiềm năng di truyền của mình.
1.5.7. Điều trị SDD
1.5.7.1. Điều trị SDD bào thai
Trẻ bị SDD bào thai dễ bị 3 nguy cơ sau:
- Hạ đường máu
- Hạ thân nhiệt
Lê Thị Lan Anh
sữa mẹ có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, đường, mỡ,
vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thụ và phát triển cơ thể
trẻ. Trẻ nên được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu như vậy trẻ sẽ lớn
nhanh, phòng được suy dinh dưỡng.
Lê Thị Lan Anh
16
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
1.6.2. Đảm bảo cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, đủ chất
Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất đối với trẻ trong 6 tháng đầu,
nhưng sau 6 tháng do trẻ phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng đòi hỏi cao
hơn vì thế để đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng, ngoài sữa mẹ, trẻ cần được
bổ sung (ăn sam hay ăn dặm).
1.6.3. Đảm bảo vệ sinh cá nhân vệ sinh môi trường sạch sẽ
Ở độ tuổi từ 0 - 5 tuổi trẻ rất nhạy cảm với môi trường cũng như thời
tiết nên gia đình đặc biệt là các bà mẹ cần phải nắm được những đặc điểm đó
để chăm sóc con em mình.
Các bà mẹ phải chú ý đến vệ sinh cá nhân của trẻ, luôn luôn để trẻ sạch
sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, thức ăn cho trẻ phải tươi, đạt
vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra trước khi cho trẻ ăn các bà mẹ phải rửa
tay cho trẻ sạch sẽ nhằm hạn chế lượng vi khuẩn xâm nhập qua đường ăn
uống.
Khi nuôi trẻ nhỏ các bà mẹ nên chú ý đến vệ sinh môi trường bởi môi
trường bị ô nhiễm cũng là một nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh nguy
hiểm. Môi trường trẻ sống cần được phải luôn sạch sẽ. thoáng mát, không có
theo dõi của trạm y tế, tổng số có 320 trẻ. Tôi đã tiến hành điều tra dựa theo
danh sách trên, kết quả thu được 296 trẻ vào diện nghiên cứu (chiếm 92,5%
theo danh sách), những trường hợp còn lại không điều tra được do vắng mặt
hoặc sai lệch thông tin theo danh sách.
2.2.2. Chỉ số nghiên cứu
Chỉ tiêu nhân trắc: Cân nặng, chiều cao.
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đành giá theo 3 chỉ số: Cân
nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/ tuổi (CC/T), cân nặng/chiều cao (CN/CC) dựa
theo thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO - 1985).
* Chỉ số thông tin chung về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của các
hộ gia đình.
- Tỷ lệ (%) các bà mẹ phân theo trình độ học vấn.
- Tỷ lệ (%) các bà mẹ phân theo nhóm tuổi.
- Tỷ lệ (%) các bà mẹ phân theo nhóm nghề nghiệp.
* Chỉ số về SDD của trẻ dưới 5 tuổi
- Tỷ lệ (%) SDD chung ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Lê Thị Lan Anh
18
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
- Tỷ lệ (%) SDD trẻ em theo giới.
- Tỷ lệ (%) SDD theo học vấn của mẹ.
- Tỷ lệ (%) SDD theo nghề nghiệp của mẹ .
- Tỷ lệ (%) SDD theo tình hình vệ sinh nhà ở tại gia đình.
- Tỷ lệ (%) SDD theo số lượng bữa ăn trong ngày của trẻ.
224
75,7 %
Trẻ không bị SDD
72
24,3 %
Nội dung
24.30%
Trẻ bị SDD
Trẻ không bị SDD
75.70%
Hình 3.1: Phân bố tỷ lệ trẻ em mắc SDD dưới 5 tuổi
Trong tổng số 296 trẻ thì có 224 trẻ bị SDD chiếm 75,5% và chỉ có 72
trẻ không bị SDD chiếm tỷ lệ 24,3%. Như vậy qua kết quả trên cho thấy tỷ lệ
mắc SDD của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ngọc Thanh là khá cao.
Lê Thị Lan Anh
20
Lớp K35 B - SP Sinh
39
25,5
48
31,4
37
24,2
Nữ
143
30
21
56
39,2
14
9,8
80
SDD gầy còm
Hình 3.2: Phân bố tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi theo giới tính
Qua biểu đồ cho thấy, tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi có sự chênh lệch
về giới tính. Ở SDD nhẹ cân và SDD gầy mòn thì tỷ lệ SDD ở Nam luôn cao
hơn, ở SDD thấp còi thì tỷ lệ SDD ở Nữ lại cao hơn.
Lê Thị Lan Anh
21
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Bảng 3.3: Tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi theo nhóm tuổi
SDD nhẹ
Tình trạng
dinh dưỡng
n
Nhóm tuổi
SDD thấp còi SDD gầy còm
cân
26,5
81,6
7 - 12 tháng
75
23
30,7
21
28
7
9,3
68
13 - 24 tháng
64
17
26,6
43
13
30,2
17
39,5
8
18,6
88,3
37
2
5,4
17
45,9
11
29,7
7.8
28.7
18.6
SDD nhẹ cân
SDD thấp còi
SDD gầy còm
10.7
5.4
0
CN
CC
SDD
SDD
SDD
(Kg)
(cm)
nhẹ
thấp
gầy
cân
còi
còm
Đặng Thị Vui
15
14.9.2008
Lưu Thị Thúy
12,1
91
6
Lê Thu Hằng
19.10.2008
Trần Thị Bình
16
98
7
Diệp Lê Anh Duy
Lê Thị Huyền
14
92,3
10
Chu Văn Chương
31.12.2008
Lý Thị Thủy
11,7
94
+
11
Lý Bảo Khanh
02.6.2009
Lý Thị Kim
11
92
+
12
3
Lý Hồng Quyết
4
Nguyễn Thị Thơm
5
Lê Thị Lan Anh
29.5.2008
07.6.2008
26.6.2008
12.10.2008
23
+
+
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
14
14
96
17
Lý Anh Đạt
10.10.2009
Trần Thị Anh
12
93
+
18
Linh Hoàng Long
11.10.2009
Lê Thị Thủy
12,1
90
31.10.2009
Trần Thị Thanh
10
90
+
22
Nguyễn Đức Long
21.01.2010
Lộc Thị Đào
13
89
+
23
Maio Đức Minh
13.4.2010
10.7
90
26
Diệp Như Thế
02.8.2010
Dương Thị Chĩ
11
80
+
27
Linh Dương Anh Tuấn
14.8.2010
Dương Thị Tư
13
80
Hoàng Đình Lộc
22.9.2010
Phùng Thị Nụ
9
85
+
31
Hoàng Minh Đạt
Trần Thị Liên
8,7
88
+
32
Diệp Thế Thảo
Tòng Thị Tương
+
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
34
Diệp thị Minh Nguyệt
35
Phạm Văn Nam
36
Hoàng Kiều Nhung
37
Vũ Thị Hương
38
Hoàng Văn Việt
39
19.10.2011
Trần Thị Ba
7
73
+
Lê Ngọc Hải
11.10.2011
La Thị Phượng
7,5
75
+
40
Nguyễn Văn Sơn
01.12.2011
Đặng Thị Thân
+
43
Nguyễn Thị Phương
10.02.2012
Đặng Thị Mùi
6
65
+
44
Linh Thị Ngọc
16.3.2012
Lý Thị Thành
5,5
60
+
Dương Thị Lan
7
68
48
Chu Thị Thanh Tâm
Lê Thị Hoa
4,5
57
49
Diệp Ngọc Tuấn Duy
01.5.2012
Diệp Thị Út
6
55
+
06.8.2011
21.6.2011
19.5.2012
25
+
+
+
+
Lớp K35 B - SP Sinh