1
VIỆN DINH DƯỠNG
KHOA DINH DƯỠNG ỨNG DỤNG VÀ GIÁM SÁT DINH DƯỠNG
*************
BÁO CÁO ĐỀ TÀI
THỰC HÀNH ĂN BỔ SUNG VÀ CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG
Ở TRẺ 6-23 THÁNG TẠI 3 XÃ NÔNG THÔN
HUYỆN CẨM KHÊ - PHÚ THỌ
Dinh dng t 1994 n 2004 Vit Nam cho thy sau 6 thỏng tui t l suy dinh
dng tng nhanh chúng v t cao nht vo khong 13
n 24 thỏng tui (t l nh
cõn 30.6% nm 2004 so vi t l suy dinh dng chung ca tr di 5 tui l 26.6%)
(2). T l thiu Vitamin A tin lõm sng v thiu mỏu cao (n 60%) thng do thiu
tớch ly t thi k bo thai kt hp vi ch n nghốo nn (3).
Nguyờn nhõn ca t l suy dinh dng cao nhúm tui ny cú liờn quan n c
hnh vi v ngun lc. Vic nuụi con bng sa m v n b sung ch
a hp lý, kt hp
vi t l mc bnh nhim khun cao l nhng nguyờn nhõn trc tip. úi nghốo h
gia ỡnh, iu kin v sinh v chm súc sc khe l cỏc nguyờn nhõn tim tng (1, 4).
Nhm tỡm hiu nguyờn nhõn dn n tỡnh trng suy dinh dng cao nhúm
tui n b sung (6 n 23 thỏng), nhiu nghiờn cu trong v ngoi nc ó c tin
hnh, cỏc cụng trỡnh tng quan v tng kt ó c th
c hin. Cỏc ch tiờu quan tõm
thng cú liờn quan n lng giỏ ngun lc (s sn cú v kh nng tip cn lng
thc thc phm, iu kin v sinh, úi nghốo ) v hnh vi (kin thc, thỏi v thc
hnh chm súc tr).
im li cỏc nghiờn cu trờn th gii v ch n ung tr em, hu ht tp
trung vo tỡm hiu cỏc yu t liờn quan
n thc hnh n b sung tr nh (thi im,
nng lng tiờu th, cỏc yu t nh hng n cung cp, phõn b v a khu phn
n cho tr). T l tr c bỳ sa m thay i theo khu vc, quc gia v theo thi
gian. ụng Nam , t l ny cao n 73- 94%. nụng thụn nhỡn chung cao hn
thnh th (5). Ti Indonesia, 85% tr c bỳ sa non, 75-85% tr c bỳ kộo di
n
3
18 tháng nhưng chỉ 27-42% trẻ dưới 2 tháng được bú mẹ hoàn toàn (6). Theo một tổng
kết của WHO năm 1996 thì tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu biến
mẹ là khá tốt, ít nh
ất là trong giai đoạn trẻ mới chào đời. Cụ thế có 75.2% bà mẹ cho
trẻ bú sớm, 82% bà mẹ cho trẻ bú sữa non, chỉ có 7% cai sữa khi trẻ dưới 12 tháng
tuổi. Tuy nhiên việc duy trì nguồn sữa mẹ cần lưu ý khi tỷ lệ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn
đến hết tháng thứ 4 và thứ 6 tương ứng chỉ có 18.9% và 12.4%. Thực tế đó đồng nghĩa
với việc bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung sớm, nhi
ều nhất là từ tháng thứ 4 (33.6%), từ 4 đến
6 tháng tuổi chiếm 74.3%. Chất lượng bữa ăn bổ sung còn kém với bột gạo là thức ăn
chính (69.4%). Các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng chỉ được coi là cho thêm vào bột
4
(như thức ăn động vật và rau) với tỷ lệ 22.3% bà mẹ có thực hành như vậy. Tần suất
ăn của trẻ tương đối thấp (trung bình 3 bữa/ngày) (2).
Số liệu thống kê trên được thu thập từ hệ thống giám sát của toàn quốc. Trên
các địa bàn cụ thể, các chỉ tiêu tuy có biến thiên nhưng vẫn mô tả một khuynh hướng
chung của việc thực hành ăn bổ sung còn chưa hợp lý về
cả thời điểm, số lượng và
chất lượng mặc dù đã có cải thiện so với trước như tỷ lệ bú mẹ cao hơn, thực hành bú
sớm và bú sữa non tốt, thời điểm ăn bổ sung cũng muộn hơn (3, 9, 10, 11, 12, 13, 14) .
Những cải thiện đó là do kết quả của công tác phòng chống suy dinh dưỡng được triển
khai trên toàn quốc, cụ thể tác động vào nâng cao kiến thứ
c của người dân trong chăm
sóc trẻ. Tuy nhiên, xét một cách toàn diện thì nâng cao kiến thức không đồng nghĩa là
thay đổi được hành vi. Những hành vi thay đổi được là do sự tập trung đầu tư của các
can thiệp và đơn giản là những hành vi dễ thực hiện trên cộng đồng thì dễ có thể cải
thiện hơn.
Tổng kết lại các nghiên cứu có liên quan đến chế độ ăn của trẻ nhỏ, hầu hết là
nghiên c
ứu rộng hơn về tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan (nguy cơ) trong
đó có chế độ ăn (bú mẹ, ăn bổ sung) mà ít có nghiên cứu tập trung phân tích thực hành
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
•
Thiết kế nghiên cứu: điều tra cắt ngang mô tả kết hợp với hồi cứu trên quần thể
trẻ em 6-23 tháng
• Địa điểm: 3 xã thuộc huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ
• Chọn mẫu:
•
Cỡ mẫu:
Dựa vào công thức chọn mẫu mô tả để ước lượng trung bình khẩu phần
của trẻ 6 – 23 tháng (độ chính xác 95%, x là giá trị trung bình của khẩu
phần = 800 Kcal và độ lệch chuẩn s = 250 Kcal từ các nghiên cứu
trước)
Z
2
1-α/2
. s
2
(1,96)
2
x 250
2
N =
(0,05. x )
2
=
(0,05 x 800)
2
gỡ băng thành văn bản. Phân tích tay, mã hóa theo chủ đề đã xây dựng.
Minh họa và làm rõ những kết quả định lượng.
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Mô tả mẫu nghiên cứu
Bảng 1. Mẫu nghiên cứu
Lớp tuổi Nhân trắc Phỏng vấn
0-5 tháng 34
6-11 tháng 63 46
12-23 tháng 107 104
Tổng số 204 150
7
Toàn bộ trẻ em từ 0 đến 23 tháng tuổi tại 3 xã điều tra được thu thập số liệu
nhân trắc, cụ thể là 93 trẻ trai và 111 trẻ gái. Có 150 trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi được
chọn để phỏng vấn mẹ hoặc người chăm sóc chính, trong đó có 75 trẻ trai và 75 trẻ
gái.
2. Tình trạng dinh dưỡng
TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM
0 0
7.9
9.5
0
27.1
24.4
20.6
2.4
i biểu
hiện có ho sốt – và có đến 84,2% trẻ ốm thì đều ăn ít hơn so với bình thường)
Xem xét các số liệu về chỉ số chiều dài nằm theo tuổi, suy dinh dưỡng thể còi
cọc đã thấy xuất hiện từ lớp tuổi 0 đến 5 tháng tuổi với tỷ lệ 8.6% (thời kỳ này chưa
thấy xuất hiện suy dinh dưỡng thể nhẹ cân), rất dễ có thể suy luận đây là nh
ững trường
hợp suy dinh dưỡng từ thời kỳ bào thai, vì vậy muốn cải thiện tình trạng dinh dưỡng
trẻ em (lấy chỉ tiêu H/A) cần có những biện pháp can thiệp dinh dưỡng sớm thông qua
chăm sóc nữ vị thành niên và thai sản. Số liệu này cũng gợi ý rằng theo dõi tỷ lệ sơ
sinh nhẹ cân (lấy chỉ số là cân nặng của trẻ) vẫn chưa đủ để đánh giá toàn diện kết quả
8
của thai nghén và dự đoán tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong tương lai, chiều dài của
trẻ khi sinh có thể là chỉ số chính xác hơn. Suy dinh dưỡng thể còi cọc này duy trì ở
mức 9,5% ở lớp tuổi 6 đến 11 tháng và tăng lên đến 27,1% ở lớp tuổi 12 đến 23 tháng.
Bảng 2. So sánh kết quả điều tra với số liệu của hệ thống giám sát VDD 2005
Lớp tuổi Cân nặng theo tuổi
(%)
Chiều cao theo tu
ổi
(%)
Cân nặng theo
chiều cao (%)
Điều tra Giám sát Điều tra Giám sát Điều tra Giám sát
PT TQ PT TQ PT TQ
0 – 5 tháng 0 4,4 4,6 8,6 6,0 6,3 0 3,7 2,9
6 – 11 tháng 7,9 23,2 25,9 9,5 35,4 32,7 0 11,4 6,9
không phải bà mẹ nào cũng biết. Trong thảo lu
ận nhóm, các bà mẹ mô tả thường cho
con bú cả hai bên để cho cân và sữa về đều (chứ không phải bú hết một bên rồi
chuyển), do đó trẻ thường không được bú sữa cuối là thứ sữa giàu chất béo và giúp trẻ
tăng cân.
Các bà mẹ có xu hướng cho con cai sữa vào khoảng 18 tháng tuổi để tập cho trẻ
ăn cơm, khi đó ông bà có thể thay thể mẹ trong việc cho trẻ ăn để mẹ bắt đầu đi làm
xa. Đây cũng là thời điểm phổ biến xuất hiện dấu hiệu lười ăn của trẻ nên theo các bà
mẹ “phải cai sữa thì nó mới chịu ăn” và “nếu mẹ cứ ở nhà thì con dính lấy mẹ, chỉ bú
chứ không ăn. Mẹ đi làm vắng thì nó ở nhà mới ăn”.
Thực hành ăn bổ sung
Đến tháng thứ 4, đã có 73,3% trẻ được cho ăn bổ sung, và đến 6 tháng tuổ
i thì
hầu hết trẻ đã ăn bổ sung (98,7%). Trên thực tế, đa số các bà mẹ đều cho rằng thời
điểm cho ăn bổ sung như vậy theo họ là sớm (73,3%), chỉ có 24,3% cho là đúng thời
gian và 2% cho là muộn. Phân tích kỹ hơn thì những bà mẹ cho rằng trẻ đã ăn bổ sung
sớm thì thời điểm trung bình là 3,25 tháng; đúng thời gian khi độ tuổi trung bình là
5,05 tháng và muộn là 6 tháng; tính chung thì trung bình, trẻ bắt đầu ăn b
ổ sung khi
được 3,75 tháng tuổi (±1,4) và các bà mẹ có nhận biết tương đối đúng về thời điểm ăn
bổ sung, chỉ là họ không thực hiện được.
Sở dĩ các bà mẹ quyết định thời điểm cho ăn bổ sung của trẻ như vậy là do một
số lý do sau: mẹ phải đi làm (63,1%), trẻ khóc/đói/mẹ không đủ sữa (63,8%), đúng
thời điểm (19,5%) và mộ
t số ít là theo lời khuyên của họ hàng/hàng xóm (2,6%).
Trong số 95 bà mẹ phải đi làm sớm nên phải cho trẻ ăn bổ sung sớm thì có 29% phải
cho trẻ ăn từ tháng thứ 2 và 78% phải cho trẻ ăn trước 4 tháng. Thực tế ở nông thôn bà
mẹ phải trở lại công việc đồng áng sớm sau khi sinh là một trở ngại chính khiến trẻ
không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 (6) tháng đầu. Việc cho bú bị gián đoạn do công
việc của mẹ
thực hành ăn bổ sung từ trước đến nay quá chú trọng vào nấu bột cho trẻ mà quên rằng
giai đoạn ăn bột của trẻ không phải kéo dài hết 24 tháng mà trên thực tế ở nông thôn,
trẻ nhanh chóng được chuyển sang chế
độ ăn cháo rồi ăn cơm. Vì vậy, thực hành chế
biến thức ăn cho trẻ nhỏ dưới những dạng khác như cháo và cơm cần được giáo dục
cho cộng đồng để mặc dù trẻ phải ăn sớm những dạng thức ăn này thì chúng cũng
được chế biến phù hợp để đảm bảo đủ chất dinh dưỡng và trẻ tiêu hóa được.
Trong số 152 trẻ của 3 xã t
ừ 6 đến 23 tháng tuổi, đã có 66 trẻ ăn cơm (43,4%)
và được gia đình cho ăn bắt đầu trung bình từ tháng thứ 14 (± 4,1). Độ tuổi bắt đầu ăn
cơm của trẻ là quá sớm, khi răng và hệ tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh để thích
11
nghi với một chế độ ăn của người lớn, điều đó ảnh hưởng đến mức tiêu thụ lương thực
thực phẩm của trẻ và do đó, ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đó là chưa
kể đến khả năng thực phẩm không phù hợp có khả năng gây rối loạn tiêu hóa và hấp
thu cho trẻ.
Khẩu phần thực t
ế
Bảng 4. Mức tiêu thụ LTTP bình quân (g/trẻ/ngày)
TT Tên nhóm LTTP Trẻ 6 đến 11 tháng
(n=46)
Trẻ 12 – 23 tháng
(n=104)
TB ± SD TB ± SD
1 Gạo 56,14 25,54 72,67 41,38
2 Lương thực khác 2,88 10,53
3 Đậu đỗ 0,97 3,84 0,67 2,69
4 Đậu phụ 0,72 5,16
5 Vừng lạc 0,46 1,86
5,15
9,09
7,86
2,68
22,03
14,65
7,37
12,03
11,13
3,99
Lipid (gam)
ĐV
TV
18,11
17,45
0,65
5,26
5,35
1,24
15,39
14,39
1,00
11,98
12,16
1,16
Glucid (gam) 81,04 22,68 87,14 36,65
Năng lượng (Kcal) 580,65 135,49 592,1 263,97
Muối khoáng (mg)
Ca
P
43,34
0,13
0,14
0,06
0,13
0,79
34,06
0,32
0,31
0,16
0,23
1,41
48,01
0,89
0,3
0,1
0,2
1,25
54,75
13
Lượng Protein chỉ đáp ứng được 80% so với khuyến nghị. Lượng Canxi đạt
50% và lượng sắt trong khẩu phần chỉ đạt 10 đến 30% so với khuyến nghị cho trẻ độ
tuổi này.
Bảng 6. Đặc điểm cân đối của khẩu phần
Trẻ 6 đến 11 tháng Trẻ 12 – 23 tháng
Lipid TS (g) 18,11 21,9
Glucid (g) 81,04 72,5
P:L:G 13,6 : 29,1 : 57,3 10,5: 36,2: 52,9
Mức tiêu thụ LTTP (g)
•
Gạo
• Dầu mỡ
•
Thịt
• Thủy
sản
• Rau quả
56,14
2,21
19,66
5,75
12,34
30,1
2,8
3,3
0,3
16,9
Bảng 8. Tần suất tiêu thụ một số thực phẩm chính
TT Tên thực phẩm Tần suất tiêu thụ trong tuần qua (%)
Không ăn Dưới 3 lần3 đến 5 lần Trên 5 lần
1 Thịt các loại 1,3 31,3 54,0 13,3
2 Cá các loại 12,7 59,3 19,3 8,7
3 Trứng 4,7 59,3 26,7 9,3
Quả chín (g) 35,25 60 43,2 36,92
16
Bảng 10. Tần suất tiêu thu thực phẩm của trẻ SDD và BT
TT Tên TP TTDD trẻ Tần suất tiêu thụ trong tuần qua (%)
Không
ăn
Dưới 3
lần
3 đến 5 lần Trên 5 lần
BT
0.9
31.6 53
14.5
1
Thịt các loại
SDD
3
30.3 57.6
BT 34.2 20.5 19.7 25.6 10 Sữa các loại
SDD 51.5 24.2 9.1 15.2
BT 29.9 30.8 29.1 10.3 11 Bánh kẹo
SDD 6.1 39.4 36.4 18.2
17
Trong các cuộc thảo luận nhóm, các bà mẹ chọn những thực phẩm sẵn có ở địa
phương thường sử dụng cho ăn bổ sung của trẻ. Họ xếp những thực phẩm này theo các
nhóm: chất bột (bột gạo, bột nếp, bột dinh dưỡng, cháo, cơm, bánh chưng…); đạm
động vật (trên cạn: thịt lợn, xương, thịt gà, trứng…; dưới nước: tôm, cá, cua, trai…);
đạm thực vật (đậu ph
ụ, đậu tương, đâu xanh, đỗ đen, sữa đậu nành…); chất béo (mỡ,
dầu); gia vị (muối, mì chính). Phân loại theo một số tiêu chí có sẵn về giá trị của các
thực phẩm thông thường, các bà mẹ xếp thứ tự (ranking) các thực phẩm như sau:
Bảng 11. Xếp thứ tự các thực phẩm thông dụng
Thực phẩm Ngon Bổ Rẻ Dễ mua Dễ nấuDễ bảo quản TS
Quả chín
1 1 3 1 1 4 11
Sữa tươi 2 2 7 3 1 3 11
Đường 3 7 11 3 1 1 28
Đậu tương 4 2 8 5 6 1 26
Trứng 5 3 6 2 2 3 21
Cua
6 4 4 4 5 5 28
Mỡ dầu 8 3 12 3 2 2 30
Bột gạo 6 6 5 1 3 1 22
Cá
7 4 10 4 5 6 36
Rau xanh 8 5 2 1 4 4 24
•
Tổng thu nhập gia đình trung bình 795 660 đồng/ tháng (± 800 870). Có đến
46,7% số hộ được hỏi tự đánh giá mình thuộc hộ gia đình nghèo so với mặt bằng ở
địa phương.
• Tài sản gia đình: có 57% hộ gia đình có tivi, 37,1% có đài/cát sét, 31,8% có xe
máy, 96,7% có xe đạp.
• Có đến 42,1% số hộ gia đình ghi nhận là có thiếu ăn trong năm qua và 95,3% đối
phó bằng cách giảm số lượng bữa ăn trong ngày. Ở cả 3 xã điều tra, thiếu ăn xuất
hiện nhiều nhất vào các tháng 2 (61,9%), tháng 3(95,2%) và tháng 4 (39,7%) là
những tháng giáp hạt trước khi thu hoạch.
• Nhiều hộ gia đình phải vay nợ của Ngân hàng (46,7%), tư nhân (34,9%), vay họ
hàng (17,1%)
Những cản trở
Bảng 12. Những cản trở chính làm cho thực hành ăn bổ sung chưa tốt
TT Nguyên nhân Tỷ lệ (%)
1 Thiều tiền 70,0
19
2 Thiếu thời gian 50,0
3 Do kiến thức nuôi con của mẹ kém 38,3
4 Do trẻ ổm, lười ăn 35,0
5 Thiếu nhân lực 1,7
6 Thiếu sự hỗ trợ 1,7
7 Chất lượng thực phẩm địa phương kém 1,7
Có đến 67,8% và 7,9% các bà mẹ được phỏng vấn cho rằng chế độ ăn của con
mình chưa được tốt và thậm chí là kém, chỉ có 23,7% cho là đạt yêu cầu và duy nhất
có 1 trường hợp (0,7%) cho rằng rất tốt.
Từ những số liệu của Bảng 12, ta thấy rằng theo các bà mẹ, nguyên nhân chính
của việc chế độ ăn của trẻ chưa tốt là do thiếu tiền. Với một điều kiện kinh t
ế còn
Gia đình thuộc hộ nghèo 41,9% 64,7% 0,39 (0,16 – 0,91)
Gia đình có vay nợ 70% 88,2% 0,32 (0,09 – 1,04)
Tài sản gia đình có tivi 57,2% 54,5% 1,04 (0,45 – 2,39)
Tài sản gia đình có xe máy 37,9% 15,2% 3,21 (1,07 – 10,24)
Ở Bảng 13, các yếu tố kinh tế xã hội đều có phần tốt hơn ở nhóm trẻ bình
thường so với nhóm trẻ còi cọc nhưng do cỡ mẫu nhỏ nên chưa có ý nghĩa thống kê
(trừ biến “tài sản gia đình có xe máy”).
Thiếu tiền cũng kéo theo các nguyên nhân khác như thiếu thời gian, thiếu nhân
lực và hỗ trợ chăm sóc trẻ, trẻ ốm và lười ăn. Điều đó được minh họa rõ h
ơn khi ta
thấy rằng trẻ chỉ được ăn trung bình 2,94 bữa/ngày với thời gian trung bình cho việc
chuẩn bị bữa ăn cho trẻ một ngày là 77,4 phút (± 40,34), và thời gian cho trẻ ăn trung
bình một ngày là 77,91 phút (± 44,78). Trung bình, trẻ chỉ ăn hết 85% lượng thức ăn
được gia đình chuẩn bị, trong đó trẻ suy dinh dưỡng ăn hết 82% còn trẻ bình thường
ăn hết 86%. Thời gian chuẩn bị thức ăn và cho ăn của trẻ suy dinh d
ưỡng cũng dài hơn
so với trẻ bình thường (cụ thể là 90,4 phút so với 73,6 phút, và 87,9 phút so 75,1 phút).
Mẹ vẫn là người chăm sóc trẻ (82,9%) và cho trẻ ăn (90%) chủ yếu trong gia đình.
Ông bà cũng góp phần chăm sóc cháu (12,5%) và cho cháu ăn (7,2%) nhưng vai trò
của người bố thì hầu như là không có. Tuy nhiên những người người mẹ lại không
than phiền hay chọn lí do thiếu nhân lực trong gia đình là nguyên nhân dẫn đến chế độ
ăn của trẻ chưa t
ốt, điều đó được làm rõ trong thảo luận nhóm, khi các bà mẹ cho rằng
việc chăm sóc và cho trẻ ăn được “mặc nhiên” coi là công việc của một người mẹ, nên
việc chia xẻ công việc đó với các thành viên khác trong gia đình là không phổ biến.
Mặc dù chất lượng thức ăn tại nông thôn không được các bà mẹ để ý đến trong
điều tra theo bộ câu hỏi, bằng phương pháp định tính, các bà mẹ đều nhận ra vấn
đề
này khi liên hệ với điều kiện ở thành phố: “Việc cho trẻ ăn ở như vậy đã coi là tạm
tạm, tuy chưa đầy đủ nhưng so với nhà quê thì thế cũng là được rồi. Làm sao so được
Điều kiện kinh tế
• Sữa mẹ (chất lượng, số lượng)
• Trẻ chịu ăn
•
Chăm sóc y tế
• Tình thương và sự chăm sóc của mẹ và các thành viên khác trong gia đình
• Kiến thức nuôi con
Ở nhóm mẹ có con bình thường và mẹ có con suy dinh dưỡng, họ đều chọn yếu
tố chế độ ăn của con và kiến thức nuôi con là quan trọng hơn cả. Tuy nhiên giữa hai
nhóm cũng có sự khác biệt khi những bà mẹ có con suy dinh dưỡng thường nghiêng về
những yếu tố ngoại cảnh, những tác động từ bên ngoài, còn những bà mẹ có con khỏe
mạnh lại nhấn mạnh những yếu tố n
ội (ví dụ như trẻ có sức đề kháng tốt, trẻ chịu ăn,
sữa mẹ tốt…) 22
III. KẾT LUẬN
Thời điểm cho ăn bổ sung trung bình là từ 3,75 tháng tuổi. Đến 6 tháng tuổi, đã
có 98,7% bà mẹ cho con ăn bổ sung. Có 73.3% bà mẹ nhận thức được thời điểm cho
ăn như vậy là sớm. Nguyên nhân chính dẫn đến việc ăn sớm là do mẹ phải đi làm, trẻ
khóc đói và mẹ không đủ sữa. Kỹ thuật và phương thức cho bú của các bà mẹ còn
nhiều sai sót dẫn đế
n khó duy trì được nguồn sữa mẹ.Độ tuổi trung bình của trẻ ăn bột
là 9,7 tháng, ăn cháo là 12 tháng, ăn cơm là 18,5 tháng.
Năng lượng khẩu phần của trẻ 6 - 11 tháng là 580,65 Kcal, đạt 70,8% so với
khuyến nghị.Tỷ lệ các chất sinh nhiệt là P: L : G = 13,6 : 29,1 : 57,3. Tỷ lệ protid động
vật trên protid tổng số cũng đạt được 73,1%. Ở trẻ 12 - 23 tháng tuổi, năng lượng đạt
Cần xây dựng các chương trình vận động xã hội để các thành viên khác trong gia
đình, đặc biệt là người chồng chia xẻ bớt công việc chăm sóc con cái với người
phụ nữ và ít nhất cũng tạo điều kiện ủng hộ giúp đỡ người phụ nữ để họ dành được
nhiều thời gian chuẩn bị và cho con ăn.
Nhìn chung, hiểu biết của bà mẹ về các vấn đề dinh dưỡng có liên quan đế
n sữa
mẹ và ăn bổ sung có nhiều tiến bộ nhưng các yếu tố để giúp hiểu biết đó chuyển thành
hành vi còn khá nhiều hạn chế, họ chưa có sự tin tưởng vào hành vi đúng, chưa có sự
hỗ trợ của cộng đồng, không có điều kiện thuận lợi (kinh tế, trang bị bếp núc, thời
gian…). Vì vậy các can thiệp trên cộng đồng cần chú trọng đến những yếu t
ố này hơn
nữa trong việc thiết kế thông điệp truyền thông phù hợp, thực hiện truyền thông tư vấn
trực tiếp, vận động gia đình và cộng đồng ủng hộ và hỗ trợ người phụ nữ chăm sóc con
cái, tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và thời gian cho họ.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
huyện Tiên Yên, Mai Sơn, Mỹ Tú." Y học dự phòng (phụ bản)
2(36).
25
11. Phạm Văn Hoan và cs (1998). "An ninh thực phẩm hộ gia đình và tình trạng dinh
dưỡng của bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Tam Cường, Phú Thọ, 12/1997." Y
học thực hành 4(38).
12. NIN-UNICEF (2003). Maternal and child nutrition situation in 2002
. Hanoi,
Medical Publishing House.
13. Đặng Oanh - Đặng Tuấn Đạt (2004). "Tình hình suy dinh dưỡng và một số yếu tố
liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Krong Pach, tỉnh Đắc Lắc, năm 2003."
Y học thực hành
496.
14. Trần Thị Minh Hạnh - Nguyễn Thị Kim Hưng (2004). "Kết quả điểu tra tình trạng
dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Đông Phó và xã Tân Hưng, tỉnh Bình
Phước năm 2003." Y học thực hành
496.
15. WHO (2003). Global Strategy for Infant and Young Child Feeding
. Geneva,
World Health Organization.
16. VDD -TCTK (2006). Tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ năm 2005. Báo cáo
hàng năm. Hà Nội, Nhà xuất bản Y học.
17. VDD -LCMSWM (2003). Báo cáo kết quả Dự án cải thiện thực hành ăn bổ sung
và duy trì các hoạt động cải thiện tình trạng dinh dưỡng. Hà Nội.
Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Khoa/phòng Chủ nhiệm đề tài