Phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở xã xuân sơn, huyện tân sơn, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
-------o0o-------

PHẠM THỊ VÂN

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI VÀ BẢO TỒN
GIỐNG GÀ NHIỀU CỰA Ở XÃ XUÂN SƠN,
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp

Người hướng dẫn khoa học

ThS. VŨ THỊ THƯƠNG

HÀ NỘI - 2013


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngành nông nghiệp nói
chung và ngành chăn nuôi nói riêng đã phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của
các giống cao sản. Tuy nhiên cùng với đó là sự mất đi nguồn gen bản địa với
các giống có khả năng thích nghi cao và mang nét văn hóa của từng vùng
miền.

địa này chủ yếu nuôi ở những vùng núi cao. Trước đây người dân chưa biết rõ
về giá trị của loài gà nhiều cựa của địa phương do đó, họ chỉ chăn nuôi tự
nhiên, không có ý thức chăm sóc đúng kỹ thuật và phòng bệnh, nên giống gà
này có nguy cơ bị tuyệt chủng. Mặt khác hiện nay có rất nhiều giống gà mới
được đưa vào sản xuất, khiến cho người chăn nuôi bị thu hút nên bỏ dần các
giống gà địa phương. Người dân thường nuôi thả với rất nhiều giống gà khác
cho nên rất dễ bị lai tạp giống. Trước thực tế đó, việc bảo tồn và phát triển
giống gà này nhằm lưu giữ nguồn gen cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế
được nhiều cấp ngành quan tâm.
Năm 2008 Viện chăn nuôi đã xây dựng mô hình “chăn nuôi bảo tồn gà
nhiều cựa” ở các xóm thuộc xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, Phú Thọ với sự hỗ
trợ của tổ chức DANIDA (Đan Mạch). Năm 2010 UBND huyện Tân Sơn đã
đầu tư, triển khai dự án “Phát triển nuôi gà nhiều cựa quy mô hộ gia đình để
xóa đói giảm nghèo” ở Xuân Sơn. Vậy tình hình phát triển chăn nuôi và bảo
tồn giống gà nhiều cựa ở địa phương hiện nay sau một số năm triển khai dự
án ra sao? Mô hình chăn nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa có những hiệu quả
gì, còn những điểm gì cần xem xét để việc phát triển và bảo tồn giống gà
nhiều cựa ở địa phương cũng như các giống bản địa khác được bền vững? Với
mục đích về những vấn đề này chúng tôi tiến hành đề tài: “Phát triển chăn
nuôi và bảo tồn giống gà nhiều cựa ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú
Thọ”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nắm được tình hình phát triển chăn nuôi và tìm hiểu mô hình chăn
nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa ở địa phương.
- Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển chăn nuôi và bảo tồn giống
gà nhiều cựa ở địa phương.

Phạm Thị Vân - K35D

3

thế giới.

Phạm Thị Vân - K35D

4


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Nước ta là một trong những trung tâm thuần hoá gà đầu tiên của vùng Đông
Nam Á, đàn gà được nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây… cách đây
chừng hơn 3.000 năm. Từ những giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của gà Ri hiện
nay, trải qua hàng ngàn năm nhân dân ta đã tạo ra các giống gà: gà Hồ, gà Đông
Tảo, gà Mía, gà Chọi…
1.2. Các tính trạng ngoại hình của gia cầm
Theo Đặng Hữu Lanh (1999) [5], màu sắc da, lông là mã hiệu của
giống, là tín hiệu để nhận dạng giống.
- Bộ lông:
Màu sắc lông da là một chỉ tiêu chọn lọc con giống, thông thường màu
sắc lông đồng nhất là giống thuần, màu không đồng nhất là giống không
thuần đã bị pha tạp (tất nhiên không phải giống nào cũng thế).
Màu sắc lông gia cầm do sắc tố melanin và xantophin. Melanin có ở da và
gốc lông không phụ thuộc vào lứa tuổi. Xantophin chỉ nằm ở da và từ thức ăn đưa
vào.
Sắc tố lông được cố định ngay từ lúc còn trong bào thai do thể nhiễm sắc
của từng tế bào hay từng mảng da có thể do những biến dị soma.
Lông gia cầm có những màu sắc khác nhau là do mức độ oxy hoá các tiền
sắc tố trong tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thì lông có màu

- Mỏ:
Mỏ phải chắc và ngắn, mỏ trên và mỏ dưới phải phù hợp với nhau. Gà
có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao.
- Chân:
Gia cầm hầu hết có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (như gà Ác). Cổ, bàn và
ngón chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da.
Chân gà phải chắc và không được thô, 2 bên to hơn có vảy bóng che phủ.
1.3. Các tính trạng sinh sản của gia cầm.
Sinh sản là tính trạng được các nhà chọn giống quan tâm. Đối với gia cầm
các tính trạng sinh sản mà các nhà chọn giống quan tâm là: tuổi đẻ quả trứng đầu
tiên, thời gian đẻ, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tuổi thành thục sinh dục.
1.3.1. Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả
năng tham gia quá trình sinh sản. Đối với cá thể là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên,

Phạm Thị Vân - K35D

6


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

còn đối với đàn gà thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tỷ lệ đẻ đạt 5% so
với toàn đàn.
Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch. Những gia
cầm tầm vóc bé, khối lượng cơ thể nhỏ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn
gia cầm có khối lượng cơ thể to hơn. Tuổi thành thục sinh dục chịu sự ảnh
hưởng của ngày, tháng nở của gà con, nói đúng hơn là độ dài ngắn của ngày


chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như chế độ nuôi dưỡng, phương thức
chăn nuôi. Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [10], gà Ri nuôi bán thâm canh có
tỷ lệ đẻ cao hơn so với gà Ri nuôi chăn thả (39,43% so với 31,45%). Chu kỳ
đẻ trứng là sản lượng trứng đẻ ra trong một thời gian liên tục không có sự
ngắt quãng.
 Bản năng đòi ấp:
Bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền. Những giống nhẹ cân ít
nhiều không đòi ấp trong khi những giống nặng cân và trung bình đòi ấp nhiều
hơn.
Bản năng đòi ấp chịu sự tác động của nhiệt độ và độ chiếu sáng, nhiệt
độ cao, độ chiếu sáng thấp thì bản năng đòi ấp tăng.
Năng suất trứng là tính trạng do nhiều gen kiểm soát. Gen quy định nó
nằm trên NST thường và bị hạn chế bởi giới tính. Hệ số di truyền của sản
lượng trứng ba tháng đẻ đầu là h2 = 0.22.
Tỷ lệ đẻ là một chỉ tiêu biểu thị khả năng đẻ trứng. Tỷ lệ đẻ trứng bình
quân toàn đàn là một chỉ tiêu phản ánh đặc tính của khả năng đẻ trứng toàn
đàn. Tỷ lệ đẻ tỷ lệ thuận với năng suất trứng.
1.3.3. Các đặc điểm của trứng
1.3.3.1. Hình dạng trứng
Hình dạng trứng là một đặc điểm của từng cá thể, vì vậy nó do nguyên
nhân di truyền ở một mức độ rõ rệt.
Trứng gia cầm có hình trứng một đầu to, một đầu nhỏ hoặc hình elip với
hai đầu trứng tròn đều. Biến dị trong hình dạng trứng ít hơn so với khối lượng.
Hình dạng trứng không bị biến dị theo mùa. Những quả trứng đầu tiên trong chu
kỳ đẻ và sau một thời gian nghỉ đẻ kéo dài hơn và nhỏ hơn một chút. Hệ số di
truyền hình dạng trứng đến nay vẫn chưa rõ. Chỉ số hình dạng trứng (dài/rộng)

Phạm Thị Vân - K35D


khi đã bóc vỏ dai. Trứng gà Mía ở 38 tuần tuổi có độ dày trung bình 0,36mm
và độ chịu lực 2,88 kg/cm2. Trứng gà Lương Phượng Hoa ở 38 tuần có độ dày
vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực 4,46 kg/cm2.
Độ dày vỏ trứng biến động 0,311 - 0,588 mm.
Vỏ trứng bình thường xốp và soi không có vết.

Phạm Thị Vân - K35D

9


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

1.3.3.4. Khả năng thụ tinh, tỷ lệ ấp nở
 Khả năng thụ tinh
Khả năng thụ tinh được đánh giá qua tỷ lệ trứng có phôi. Sự thụ tinh là
quá trình tinh trùng kết hợp với tế bào trứng tạo thành 1 hợp tử. Khả năng thụ
tinh là một chỉ tiêu để đánh giá sức sinh sản của đời bố mẹ. Tỷ lệ thụ tinh phụ
thuộc vào trạng thái dinh dưỡng, sự chênh lệch về khối lượng gia cầm bố mẹ,
sức khỏe của đàn giống, mùa vụ và nhiệt độ môi trường. Sự thích ứng cá thể
trong giao phối có ý nghĩa đặc biệt làm tăng tỷ lệ trứng có phôi. Gà trống có
tỷ lệ thụ tinh cao đối với gà mái này nhưng có thể không cao đối với gà mái
khác. Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh. Trong cùng một
giống, dòng gà khối lượng cơ thể lớn có tỷ lệ thụ tinh kém hơn so với dòng gà
có khối lượng cơ thể thấp. Sự khác nhau do tính năng đạp mái của gà trống
dòng nặng kém hơn 3 lần so với trống dòng nhẹ cân.
 Tỷ lệ ấp nở
Tỷ lệ ấp nở là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sức sinh sản của

Ngoài yêu cầu về kỹ thuật ấp trứng, tỷ lệ ấp còn phụ thuộc vào chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn bố mẹ, khả năng sinh trưởng của gia cầm.
1.4. Các tính trạng sinh trưởng của gia cầm
1.4.1. Khái niệm
Sinh trưởng là sự tăng kích thước và khối lượng của sinh vật đang ở
giai đoạn lớn lên. Trong hai chỉ tiêu tăng kích thước và tăng khối lượng, chỉ
tiêu tăng kích thước là đáng tin cậy hơn vì khối lượng sinh vật có thể tạm thời
biến động tuỳ theo chế độ dinh dưỡng.
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị
hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và
toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng
chính là quá trình tích lũy dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc
độ tích lũy của các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều
khiển sự sinh trưởng của cơ thể.
Phát triển là sự biến đổi không những về đặc điểm hình thái mà cả chức
năng sinh lý theo từng giai đoạn của cuộc đời sinh vật.
Sinh trưởng và phát triển luôn gắn liền với nhau, bổ sung cho nhau để
sinh vật lớn lên và trưởng thành. Sinh trưởng là điều kiện của phát triển và
phát triển làm thay đổi sự sinh trưởng.

Phạm Thị Vân - K35D

11


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Ở gà, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể con, người ta có thể

Phạm Thị Vân - K35D

12


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ
thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ
sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ
tuổi. Khối lượng cơ thể được tính bằng g/con hoặc kg/con. Và được biểu thị
bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy.
 Tốc độ sinh trưởng:
Tốc độ sinh trưởng là cường độ tăng các chiều cơ thể trong một
khoảng thời gian xác định. Trong chăn nuôi gia cầm, 2 chỉ số mô tả tốc độ
sinh trưởng là tốc độ sinh trưởng tương đối và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối.
Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước,
thể tích cơ thể trong một khoảng thời gian xác định. Độ sinh trưởng tuyệt đối
chính là sự gia tăng về khối lượng sống trung bình trong 1 ngày đêm.
Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích
thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát.
Tốc độ sinh trưởng tương quan dương với tốc độ mọc lông và hiệu quả
sử dụng thức ăn. Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào giống, loài,
giới tính, đặc điểm cơ thể và điều kiện môi trường.
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Các tính trạng về sinh trưởng là các tính trạng số lượng nên ngoài phần
ảnh hưởng do các yếu tố của bản thân con vật (giống, tính biệt), chúng còn
chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng,

sự khác nhau càng lớn.
+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
(1995) [11], khẳng định thức ăn và dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến sự
sinh trưởng của gia cầm. Hàm lượng các axit amin là rất quan trọng, đặc biệt
nếu thiếu Methionin trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng và hiệu số
chuyển hóa thức ăn.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường.
Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia
cầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng...Trong đó nhiệt độ và
ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc
độ sinh trưởng của gia cầm.
Nhiều nghiên cứu cho rằng khi nhiệt độ môi trường lên cao trên 36 –

Phạm Thị Vân - K35D

14


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

370C sẽ gây stress nhiệt, làm giảm quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ
thể, từ đó giảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm tốc độ sinh trưởng. Do vậy,
cần phải đảm bảo điều kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, cung cấp đủ
ôxy, đồng thời có mật độ nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích hợp để tăng
hiệu quả chăn nuôi.
Trong chăn nuôi gia cầm cần phải chú ý đến yếu tố ánh sáng, vì gia
cầm là loài rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả chăn nuôi cần chọn những giống gia cầm
có khả năng thích nghi cao, đồng thời cần có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng
hợp lý và thực hiện đúng quy trình phòng bệnh.
1.6. Tình hình bảo tồn nguồn gen vật nuôi trong và ngoài nước
1.6.1. Tình hình bảo tồn nguồn gen vật nuôi trên thế giới
Đứng trước nguy cơ mất dần tính đa dạng sinh học, từ nhiều năm gần đây
dư luận và các nhà khoa học của nhiều quốc gia đã có các hành động tích cực
nhằm bảo vệ các loài động vật qúy hiếm khỏi sự tuyệt chủng với sự ra đời của
Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (WCU) nay gọi là qũy Quốc tế về thiên
nhiên (WWF), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hiệp Quốc
(UNESCO) và chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP). Bên cạnh
đó nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã được thiết lập ở nhiều khu vực sinh thái
khác nhau, tại nhiều quốc gia khắp các châu lục, Hiệp định về cấm buôn bán
các loài thú quý hiếm đã được ký kết và thi hành có hiệu quả. Sách đỏ (Red
book) đã được Uỷ ban về các loài thú sống sót (Species Suvival Commission
của IUCN) xuất bản. Nhờ đó nhiều loài thú bị đe doạ tuyệt chủng đã được bảo
hộ, nhiều loài biến mất trong hoang dã đã được khôi phục và đưa trở lại môi
trường sống của chúng.
Nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ra đời ở các nước, các khu
vực dẫn đến sự ra đời của Tổ chức Quốc tế về các giống qúy hiếm (RBI). Các
hội thảo Quốc tế về bảo tồn giống động vật được tổ chức tại nhiều nơi trên
thế giới thống nhất chương trình hành động và đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ
bảo tồn nguồn gen động vật trên bình diện toàn cầu. Có hai phương thức bảo
tồn nguồn gen vật nuôi đó là bảo tồn in-situ và bảo tồn ex-situ.
 Bảo tồn in-situ
Là bảo tồn tại chỗ: là hình thức bảo tồn vật nuôi ngay trong môi trường
mà nó sinh ra và lớn lên, là hình thức bảo tôn đa dạng sinh học trong các hệ

Phạm Thị Vân - K35D


trung du phía bắc (27,5%), vùng đồng bằng sông Hồng (24,7%), vùng đồng
bằng sông Cửu Long (15,6%), còn lại là các vùng khác. Ngành chăn nuôi gà cho
đến nay vẫn chủ yếu là chăn nuôi các giống gà nội (75 – 80%) theo phương thức
chăn thả tự do, tận dụng các thức ăn rơi vãi từ thu hoạch lúa, ngô... Tuy nhiên, gà

Phạm Thị Vân - K35D

17


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

nội chưa được tập trung chọn lọc, bị pha tạp, nhiều các giống, dòng chưa được
xác định rõ rệt, các công trình nghiên cứu về các giống gà nội còn ít. Song mấy
năm gần đây nhà nước đã có chủ trương nghiên cứu và phát triển chăn nuôi các
giống gà địa phương để bảo tồn quỹ gen vật nuôi và đảm bảo tính đa dạng sinh
học trên toàn cầu.
Theo các tác giả Lê Viết Ly (2001) [6], thì đến nay chúng ta có kết quả
nghiên cứu về các giống gà nội như sau:
 Gà Mía: Có nguồn gốc từ tỉnh Hà Tây. Gà có dáng thô, mào đơn,
mình ngắn, chậm chạp. Gà mọc lông chậm. Thành thục muộn (7 - 8 tháng).
Gà mái lông vàng nhạt hoặc nâu xen kẽ lông đen ở cánh và đuôi, gà mái đạt
2,6 - 3,0 kg. Sức đẻ trứng đạt 70 - 80 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 50 55 g/quả.
Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen lông đen, hai hàng lông cánh chính
xanh biếc, gà trống đạt 3,0 - 3,5 kg.
 Gà Hồ: Có nguồn gốc từ tỉnh Bắc Ninh. Cả gà trống và gà mái đều
có mào xuýt, mào nụ, gà to cao trường, chân cao. Tuổi thành thục muộn (7 - 8
tháng).

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả về tỷ lệ nuôi sống của gà Ác
giai đoạn 1 - 56 ngày tuổi là 88,3%, sau đó ổn định không hao hụt. Về
sinh trưởng: Gà có khối lượng nhỏ, lúc 16 tuần tuổi con trống đạt 724,62g,
con mái 565,05g.

Phạm Thị Vân - K35D

19


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp
Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Giống gà nhiều cựa nuôi tại nông hộ ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn,
tỉnh Phú Thọ.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn,
tỉnh Phú Thọ.
2.2.2. Một số đặc điểm của giống gà nhiều cựa nuôi tại địa phương.
2.2.3. Tình hình phát triển chăn nuôi giống gà nhiều cựa ở địa phương
nghiên cứu.
2.2.4. Tìm hiểu mô hình phát triển chăn nuôi, bảo tồn giống gà nhiều cựa ở
địa phương.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Đọc tài liệu.

Trên địa bàn xã có tổng số: 274 hộ với 1095 nhân khẩu, có 4 khu hành
chính là: xóm Lạng, xóm Dù, xóm Cỏi, xóm Lấp. Đồng bào dân tộc Dao
chiếm 50,3%, Mường 49,3%, dân tộc Nùng: 0,4% dân số (2012).
Người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, phong tục tập quán lạc
hậu, nhận thức còn hạn chế, khó tiếp thu, vận dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất trồng trọt, chăn nuôi. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trên
địa bàn xã chủ yếu là chăn thả tự nhiên, đàn gia súc phần lớn là thả dông cho
nên việc chăm sóc phòng dịch bệnh chưa được kịp thời.

Phạm Thị Vân - K35D

21


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Bên cạnh đó thời tiết khí hậu những năm vừa qua diễn biến phức tạp,
hệ thống thủy lợi kém phát triển, thiếu nước tưới tiêu gây khó khăn cho hoạt
động canh tác cây trồng của người dân. Tất cả những yếu tố này ảnh hưởng
không nhỏ đến phát triển kinh tế ở xã.
Trên địa bàn xã có vườn Quốc gia Xuân Sơn, hang Lạng là những danh
lam nổi tiếng thu hút khách du lịch, tuy nhiên chính quyền và người dân nơi
đây chưa khai thác tốt thế mạnh này để tăng thêm thu nhập, chỉ là những dịch
vụ nhỏ, lẻ, tự phát, không chuyên nghiệp.
Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2012 đạt khoảng 4,5
triệu/người/năm, chủ yếu từ trồng trọt và chăn nuôi.
3.2. Một số đặc điểm của giống gà nhiều cựa nuôi tại địa phương
3.2.1 Đặc điểm ngoại hình

Chỉ tiêu

Gà con
Màu lông đa

Màu lông

Trưởng thành
Trống
Mái
Bộ lông sặc sỡ nhiều Vàng nhạt, vàng

dạng: Nâu, sọc

màu: hoa mơ pha

trắng, vàng rơm,

dưa, vàng nhạt

tím sẫm và hoa mơ

vàng nâu đen,

đen thẫm, đen đỏ,

trắng. màu pha

mận chín.


bên chân mọc

cựa; 9 cựa rất hiếm)

từ 2 đến 3 cựa.
Ngoại hình, Nhỏ, lông mượt
kiểu lông

Lông mượt, tầm vóc

Lông mượt, tầm

nhỏ, chân thấp.

vóc nhỏ

3.2.2. Một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của giống gà nhiều cựa
Chúng tôi cũng đã tìm hiểu về một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của
giống gà nhiều cựa nuôi tại Xuân Sơn, Tân Sơn, Phú Thọ. Số liệu trình bày ở
bảng 2.

Phạm Thị Vân - K35D

23


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp


3800

- Gà mái

750

350

1200

2300

- Gà trống

1960

1000

2100

4400

- Gà mái

1510

700

1800


thấp hơn so với gà ri.
- Tuổi thành thục tính của gà nhiều cựa: 4-5 tháng sớm hơn gà Hồ: 6-8
tháng.

Phạm Thị Vân - K35D

24


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

3.3. Tình hình phát triển chăn nuôi giống gà nhiều cựa ở xã Xuân Sơn,
huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Gà nhiều cựa là giống gà thích nghi với điều kiện sống ở vùng núi cao,
khí hậu mát mẻ. Tại tỉnh phú Thọ giống gà này được chăn nuôi nhiều ở huyện
Tân Sơn, trong huyện cũng chỉ một số xã phát triển chăn nuôi gà nhiều cựa
như: Xuân Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng.
Số lượng giống gà này ở huyện Tân Sơn qua những năm gần đây do
một số lý do mà có những biến động lớn. Số lượng gà nhiều cựa ở huyện Tân
Sơn qua các năm theo thống kê của huyện thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3: Số lượng gà nhiều cựa của huyện Tân Sơn qua một số năm [14]

Năm

Số lượng (con)

2007



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status