tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách quy hoạch phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung tỉnh hà tĩnh đến năm 2020 - Pdf 24

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH PHÁT
TRIỂN CHĂN NUÔI VÀ VÙNG CHĂN NUÔI TẬP TRUNG TỈNH HÀ
TĨNH ĐẾN NĂM 2020
I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Chăn nuôi giữ vai trò, vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cung cấp
thực phẩm có chất lượng cao như: thịt, trứng, sữa cho con người, nguồn sức kéo,
phân bón hữu cơ, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, góp phần rất quan trọng
trong cơ cấu thu nhập của người nông dân, cũng như giải quyết việc làm, cải thiện
đời sống, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội và ổn định tình hình ở nông thôn.
Chăn nuôi đã từng bước phát triển theo hướng hàng hoá, trang trại, tập trung và
hình thành một số mô hình chăn nuôi công nghệ cao. Giá trị sản phẩm chăn nuôi
trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 30% năm 2006 lên 42% năm 2011,
tạo được bước chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tuy vậy,
tốc độ phát triển chăn nuôi còn chậm, năng suất, chất lượng, số lượng và giá trị sản
phẩm còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của tỉnh. Sản xuất chăn nuôi
mang tính truyền thống, quy mô nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ khá lớn (70%), trang trại chăn
nuôi tập trung công nghiệp, bán công nghiệp chưa nhiều, dịch bệnh vẫn xảy ra trên
đàn gia súc, gia cầm ảnh hưởng đến phát triển ngành chăn nuôi. Để ngành chăn
nuôi phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn. Từng bước hình thành vùng chăn nuôi hàng hoá, tập trung quy mô lớn,
an toàn dịch bệnh tách khỏi khu vực dân cư, đảm bảo vệ sinh môi trường, hoàn
thành các chỉ tiêu của quyết định số: 1303/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch
phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 là yêu
cầu cần thiết.
Hà Tĩnh có tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội để
phát triển chăn nuôi: Diện tích đất nông nghiệp 461.883 ha, chiếm 77%; cư dân
nông thôn chiếm 85%; lao động trong nông nghiệp chiếm 62%; giá trị sản xuất
nông nghiệp chiếm 35%, tỷ trọng chăn nuôi chiếm 42% trong tổng giá trị sản xuất
nông nghiệp. Những năm gần đây, các giống vật nuôi có năng suất và chất lượng
cao được đưa vào sản xuất, cùng với áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong

chế thực hiện chính sách quy hoạch phát triển chăn nuôi tập trung và vùng nuôi tập
trung.
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại tỉnh Hà Tĩnh
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến
năm 2020.
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: Phương pháp thứ cấp và phương pháp sơ cấp.
- Phương pháp so sánh, kết hợp với phương pháp dự báo kinh tế, đánh giá khả
năng thực hiện
- Phương pháp thống kê miêu tả
2.4 Một số lí luận cơ bản của chính sách
Chăn nuôi tập trung là hình thức chăn nuôi trang trại quy mô lớn, áp dụng
phương thức sản xuất công nghiệp tiên tiến thay thế cho chăn nuôi nông hộ, quy
mô nhỏ lẻ.
Phát triển chăn nuôi tập trung là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá
nông nghiệp, trên cơ sở tăng quy mô, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, gắn
với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; khống chế dịch bệnh và ô nhiễm môi trường để
bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và an toàn dịch bệnh cho người và gia súc, nâng cao
hiệu quả sản xuất ngành chăn nuôi; tạo việc làm, tăng thu nhập và khuyến khích
nông dân làm giàu.
Quy hoạch là để đầu tư cơ sở hạ tầng, thực hiện biện pháp xử lý môi
trường ở các khu chăn nuôi tập trung tại vùng quy hoạch.
Quy hoạch phát triển chăn nuôi: là các huyện đều phải xây dựng khu chăn
nuôi tập trung, các xã đều có chăn nuôi tập trung gắn với phát triển nông thôn mới,
ưu tiên các xã có chăn nuôi lớn. Mỗi xã, thị trấn quy hoạch vùng chăn nuôi ít nhất
từ 5 - 10ha để xây dựng khu chăn nuôi tập trung xa dân cư.
II. HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN
- Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 12/12/1999 về

tư, rà soát, xây dựng các chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển; định kỳ
tổng hợp báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện.
- Chỉ đạo Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư thực hiện các chức năng chuyển
giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công tác tuyên truyền, tập huấn. Thành lập hệ
thống thông tin về giống, giá cả vật tư đầu vào, thị trường tiêu thụ và giá cả sản
phẩm… Phối hợp với UBND các huyện tổ chức các mô hình, điểm mẫu chăn nuôi
điển hình.
- Chỉ đạo các phòng ban chuyên môn, Chi cục Thú y quản lý nhà nước về thú y và
an toàn vệ sinh thực phẩm. Kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm dịch, kiểm soát giết
mổ. Hàng năm tổ chức tiêm phòng định kỳ, tiêm bổ sung hoặc đột xuất khi có dịch.
Củng cố hoạt động mạng lưới thú y cơ sở. Tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt các văn
bản của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT về công tác phòng, chống dịch,
công tác kiểm tra, giám sát điều kiện chăn nuôi gia súc gia cầm tập trung trên địa
bàn. Xây dựng vùng an toàn dịch bệnh động vật.
3.1.2. Các sở, ngành, cơ quan liên quan:
- Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, các ngành liên quan và các địa phương trong việc quy hoạch vùng chăn nuôi
tập trung, cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung; hướng dẫn thủ tục, hồ
sơ và thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi, xây dựng cơ sở giết mổ, chế
biến tập trung theo quy định; hướng dẫn việc đánh giá tác động môi trường.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư: Căn cứ Quy hoạch được duyệt, phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện
Quy hoạch hàng năm; thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án ưu tiên để
thực hiện Quy hoạch đúng tiến độ.
- Sở Tài chính: Chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các
sở, ngành liên quan rà soát, xây dựng chính sách, bố trí nguồn kinh phì ngân sách
hàng năm; ban hành các văn bản hướng dẫn, kiểm tra, nghiệm thu, thanh quyết
toán nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện Quy hoạch có hiệu quả.
- Sở Công thương: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng các chính

điều kiện tự nhiên:
- Vùng rất thích hợp sẽ chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung, xây dựng
với quy mô lớn. Đó là những vùng miền núi, vùng trà sơn, vùng trung du chủ yếu ở
các huyện Hương Sơn, Hương Khê Nghi Xuân Can Lộc, Vũ Quang, Thạch Hà
- Vùng thích hợp thì sẽ bố trí chăn nuôi theo hướng trang trại thâm canh,
chuyên canh, bán thâm canh ở các vùng gò đồi thuộc các huyện Đức Thọ, Can
Lộc, Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà.
- Vùng khá thích hợp thì bố trí ở vùng đồng bằng, có điều kiện quy hoạch
của các huyện Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ
* Đối với các cơ quan ban ngành có liên quan cũng được phân cấp theo trình tự từ
cao đến thấp, từ xa đến gần với các công việc nhiệm vụ cụ thể:
- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp và
chỉ đạo các phòng ban liên quan.
- Các sở, ngành, cơ quan liên quan
- Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã.
3.3. Huy động nguồn lực như thế nào
3.3.1. Về đất đai
- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh cần triển khai
quy hoạch ổn định, lâu dài các vùng chăn nuôi trang trại tập trung đến các huyện,
xã. Khuyến khích chuyển đổi, chuyển nhượng, dồn điền, đổi thửa… tạo quỹ đất để
giao, cho thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khả thi được các cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt. Tiến hành quy hoạch 33 vùng chăn nuôi tập trung,
tổng diện tích 1.509 ha tại 10 huyện trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các xã đã quy hoạch 389 vùng chăn nuôi tập
trung, với tổng diện tích 2.941 ha trên địa bàn 12 huyện, thành phố, thị xã.
- Chuyển đổi diện tích canh tác kém hiệu quả, nhất là tại các vùng trung du, gò
đồi… sang phát triển chăn nuôi trang trại.
3.3.2.Về huy động vốn đầu tư
- Vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào như đường giao
thông, hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước… tới các khu chăn nuôi, trang trại

- Vốn tự có của dân, doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh khác: Đầu
tư vào xây dựng các trang trại chăn nuôi của hộ gia đình và các doanh nghiệp…
3.3.3. Về con giống
Tập trung huy động toàn bộ nguồn giống con vật để đạt được kết quả mong đợi
bao gồm các loại gia súc, gia cầm hiện có phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu,
vùng
3.3.4. Về lao động
Huy động nguồn lực trong và ngoài tỉnh đến để thực hiện việc chăn nuôi tập
trung đạt hiệu quả cao. Ưu tiên những người dân có nhiều kinh nghiệm trong vấn
đề chăn nuôi gia súc gia cầm.
Cần tổ chức các lớp tập huấn cho người dân nâng cao nghiệp vụ, đi tham
quan học tập các mô hình tổ chức sản xuất để có được một bộ phận lực lượng lao
động có tay nghề và kinh nghiệm cao hơn.
3.4. Nội dung triển khai chính sách.
Sau khi quyết định được ban hành thì chính sách được triển khai thực hiện với từng
bước cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra.
3.4.1. Quy hoạch tổng đàn
Trước tiên cần thực hiện quy hoạch tổng đàn bao gồm các loại gia súc gia
cầm như: trâu, bò, lợn, gia cầm, hươu và dê với số lượng cụ thể.
- Đến năm 2015: Quy hoạch phát triển số lượng đàn trâu đạt 112.000 con; đàn bò
234.700 con, trong đó bò lai Zêbu 105.615 con; đàn lợn 524.200 con; tổng đàn lợi
nái 80.000 con, trong đó lợn nái ngoại 20.000 con; đàn gia cầm 6,4 triệu con; đàn
hươu 58.100 con; đàn dê 17.000 con.
- Đến năm 2020: Quy hoạch phát triển số lượng đàn trâu đạt 121.000 con; đàn bò
278.000 con, trong đó bò lai Zêbu 139.000 con; đàn lợn 707.000 con; tổng đàn lợi
nái 104.000 con, trong đó lợn nái ngoại 31.500 con; đàn gia cầm 7,9 triệu con; đàn
hươu 102.300 con; đàn dê 20.000 con.
3.4.2. Quy hoạch phát triển chăn nuôi theo vùng sinh thái
Quy hoạch phát triển chăn nuôi Hà Tĩnh được thực hiện đồng thời giữa phát
triển chăn nuôi ở các vùng sinh thái, phù hợp với từng đối tượng, phương thức sản

vùng đồng bằng của Thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và các huyện Kỳ Anh,
Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, Lộc Hà.
e) Vùng chăn nuôi vịt: Bố trí các trang trại chăn nuôi vịt ở các xã vùng trũng, vùng
lúa trọng điểm của các huyện Lộc Hà, Thạch Hà, Nghi Xuân, Can Lộc, Đức Thọ,
Cẩm Xuyên.
d) Vùng chăn nuôi Hươu tập trung:
- Vùng 1 (vùng rất thích hợp): Bố trí trang trại chăn nuôi hươu ở các huyện miền
núi bao gồm các xã của các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang.
- Vùng 2 (vùng thích hợp): Mở rộng phát triển địa bàn một số xã vùng trà sơn của
huyện Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ.
e) Vùng nuôi Ong tập trung: phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi Hương Sơn,
Hương Khê và Vũ Quang.
f) Vùng nuôi Dê tập trung: Phân bố chủ yếu ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê,
Vũ Quang, Đức Thọ và vùng đồi hoặc vùng núi ven biển của các huyện Thạch Hà,
Can Lộc, Nghi Xuân.
3.4.3. Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung
- Quy hoạch vùng trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn: Trên cơ sở đặc điểm
và lợi thế của từng vùng sinh thái, để khai thác tối đa tiềm năng của từng loại vật
nuôi, đảm bảo phát triển bền vững, an toàn sinh học và bảo vệ môi trường
- Quy hoạch vùng trang trại chăn nuôi tập trung theo quy hoạch xây dựng nông
thôn mới: Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các
xã đã quy hoạch 389 vùng chăn nuôi tập trung, với tổng diện tích 2.941 ha trên địa
bàn 12 huyện, thành phố, thị xã.
3.4.4. Quy hoạch phát triển sản xuất giống
a) Giống lợn:
Tổ chức lại hệ thống sản xuất giống theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm
trên địa bàn các huyện; đến năm 2015 toàn tỉnh có 80.000 nái (15% tổng đàn)
trong đó 20.000 nái ngoại, năm 2020 có 104.000 nái trong đó có 31.500 nái ngoại.
- Đầu tư nâng cấp các trại lợn giống hiện có và xây dựng thêm một số trại tại các
huyện bằng hình thức liên kết, phấn đấu đến năm 2015 có 2.900 nái ngoại ông bà

các vùng chăn nuôi gia cầm phát triển như Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm
Xuyên, Can Lộc.
3.4.5. Quy hoạch khu nuôi cách ly các vật nuôi nhập khẩu
Để đẩy mạnh công tác kiểm dịch, kiểm tra, kiểm soát việc mua bán, vận chuyển
gia súc, gia cầm qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, định hướng trong thời gian tới
quy hoạch 1 khu cách ly vật nuôi nhập khẩu với quy mô từ 5 - 7 ha tại huyện
Hương Sơn.
3.4.6. Định hướng quy hoạch một số yếu tố phục vụ phát triển chăn nuôi
a) Cơ sở chế biến và dịch vụ thức ăn chăn nuôi
Tăng sản lượng sản xuất thức ăn của nhà máy thức ăn gia súc Thiên Lộc,
đảm bảo cung ứng trên 45% năm 2015 và 75% vào năm 2020 lượng thức ăn công
nghiệp trên địa bàn tỉnh; ký kết các hợp đồng cung ứng thức ăn từ nhà máy đến các
cơ sở chăn nuôi để giảm các chi phí vận chuyển, bao bì, đóng gói và các chi phí tại
các đại lý kinh doanh thức ăn. Tuyên truyền, khuyến cáo việc sử dụng thức ăn
công nghiệp, tăng tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp từ 37% năm 2011 lên 60%
năm 2015 và 70 - 75% năm 2020 (đối với lợn); từ 20% năm 2011 lên 50% năm
2015 và 70% năm 2020 (đối với gia cầm). Quy hoạch xây dựng thêm 01 nhà máy
sản xuất thức ăn tại khu kinh tế Vũng Áng để cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng thức
ăn chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.
b) Thức ăn thô xanh
Phát triển diện tích cây thức ăn xanh bằng các giống cỏ có năng suất cao,
ngô gieo dày… ở các vùng quy hoạch trang trại chăn nuôi trâu, bò (thịt, sữa). Diện
tích có trồng tăng từ 1.350 ha (năm 2011) lên 2.000 ha năm 2015 và 4.000 ha năm
2020.
c) Cơ sở giết mổ, chế biến sản phẩm chăn nuôi
- Cơ sở giết mổ tập trung: Quy hoạch đến năm 2015 có 17 cơ sở giết mổ gia súc,
gia cầm tập trung và năm 2020 có 33 cơ sở; đảm bảo công suất giết mổ bình quân
đạt 70 gia súc/ngày/cơ sở và 1.500 gia cầm/ngày/cơ sở, theo Quyết định số
24/2011/QĐ-UBND ngày 09/8/2011 của UBND tỉnh.
- Cơ sở chế biến tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi: Khuyến khích đầu tư xây dựng 01

đồng cỏ tự nhiên có sự quản lý trong chăn thả, thu hoạch cỏ và các loại cây làm
thức ăn cho chăn nuôi theo hộ gia đình để chủ động nguồn thức ăn xanh cho gia
súc. Diện tích cây thức ăn sẽ tăng từ 1.350 ha năm 2011 lên 2.000 ha năm 2015 và
4.000 ha năm 2020.
- Đã huy động được Tổng kinh phí thực hiện Đề án giai đoạn 2011-2015: 365,43 tỷ
đồng trong đó Vốn ngân sách nhà nước: 115,43 tỷ đồng, Vốn của các doanh
nghiệp, người chăn nuôi: 250,0 tỷ đồng.
- Ở thành phố, thị xã có từ 1 - 2 cơ sở; ở thị trấn, thị tứ và khu vực đông dân cư có
ít nhất 1 cơ sở, hình thành các cơ sở giết mổ tập trung liên xã.
- Xây dựng 01 nhà máy chế biến súc sản ở khu kinh tế Vũng Áng.
* Bên cạnh những cái đạt được còn có những tồn tại và hạn chế
- Chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán chiếm tỷ lệ cao (70% tổng đàn) nên ảnh hưởng đến
công tác phòng, chống dịch bệnh và gây ô nhiễm môi trường.
- Sản xuất, cung ứng giống vật nuôi chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, phải
nhập con giống trôi nổi trên thị trường không đảm bảo phẩm cấp và an toàn dịch
bệnh; công tác quản lý còn nhiều bất cập do sự thiếu đồng bộ về hệ thống tổ chức,
quản lý Nhà nước về giống vật nuôi.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh chuồng trại chăn nuôi chưa được đảm
bảo, các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (LMLM gia súc, tai xanh ở lợn, cúm gia
cầm) vẫn xảy ra làm giảm hiệu quả chăn nuôi.
- Sản lượng thức ăn công nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh còn ít; hệ thống cung
ứng thức ăn qua nhiều bước trung gian nên giá bị đẩy lên cao, ảnh hưởng đến sản
xuất, thu nhập của người chăn nuôi.
- Chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, chưa hình thành được các
HTX sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi.
- Việc tiếp cận với khoa học công nghệ, nguồn vốn, các cơ chế chính sách của
Trung ương, tỉnh … đối với người chăn nuôi còn hạn chế, gây khó khăn trong việc
đầu tư phát triển chăn nuôi.
V. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH
5.1. Mặt được

liên vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Một số nơi bước đầu thực hiện quy hoạch
nhưng còn gặp nhiều khó khăn lúng túng trong quá trình dồn điền đổi thửa và giải
phóng mặt bằng. Thời gian giao đất, cho thuê đất; thủ tục giao đất, cho thuê đất
còn nhiều khó khăn, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn rất chậm làm
ảnh hưởng tới quá trình đầu tư. Thực hiện việc cấp giấy chứng nhận trang trại theo
Nghị quyết 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ trong quá trình triển khai
còn gặp khó khăn; việc cấp giấy chứng nhận trang trại cũng chỉ mang tính hình
thức vì không có giá trị thế chấp.
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển tập trung rất lớn, trong khi đó khả năng tiếp cận
nguồn vốn của người dân gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do tài sản thế chấp
của các cơ sở chăn nuôi tập trung là đất đai. Giá trị đất đai ở những nơi đầu tư chăn
nuôi thường có giá trị thấp, những tài sản khác như thiết bị, con giống thường
không được ngân hàng chấp nhận nên khả năng vay bằng tài sản thế chấp bị hạn
chế rất nhiều. Thời gian vay vốn ngắn chưa phù hợp với chu kỳ chăn nuôi, gây khó
khăn cho chủ chăn nuôi khi định hướng phát triển lâu dài.
- Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm sản xuất của hầu hết các chủ chăn nuôi còn
nhiều mặt bị hạn chế. Họ phần lớn xuất thân từ nông dân, hoặc thành phần khác có
vốn nhưng chưa được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ quản lý kinh tế tập
trung nên điều hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Không những hạn chế
về mặt chuyên môn mà kể cả những thông tin thị trường ít được cập nhật.
- Hệ thống tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi tập trung mặc dù đã được hình thành
nhưng còn manh mún, chưa phát triển bền vững. Hầu hết sản phẩm chăn nuôi tập
trung được tiêu thụ thông qua thương lái, cho nên có lúc, có nơi còn bị ép cấp, ép
giá, gây thua thiệt cho người chăn nuôi. Giá cả sản phẩm chăn nuôi còn biến động
lớn, bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố về tâm lý; giá thu mua
tại trại còn có sự chênh lệch lớn so với giá bán cho người tiêu dùng.
- Do sự hình thành và phát triển tập trung chăn nuôi thiếu quy hoạch khiến một số
vùng đặc biệt ở đồng bằng bị ô nhiễm môi trường. Một số chủ trang trại chưa đầu
tư thoả đáng cho hệ thống thu gom xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng mà thải trực
tiếp ra ao, hồ, đồng ruộng, gây ô nhiễm nặng môi trường xung quanh. Một số trang

Zêbu (hiện có 7.000 con), trên 50% máu Zêbu để phối giống trực tiếp cho vùng
sâu, vùng xa chưa triển khai được công tác TTNT.
c) Giống trâu:
- Chọn lọc, cải tạo nâng cao chất lượng, số lượng đàn trâu địa phương:
Bình tuyển, chọn đực giống tốt ở các vùng có truyền thống nuôi trâu như Kỳ Anh,
Can Lộc, Cẩm Xuyên… Chọn 1.500 trâu đực có khối lượng từ 450 kg trở lên, xếp
cấp tổng hợp đạt cấp 1 trở lên, phấn đấu đưa tỷ lệ đực giống chiếm 10% tổng đàn.
Thực hiện luân chuyển trâu đực giữa các địa phương trong tỉnh để tránh hiện tượng
đồng huyết.
Chọn trâu cái có khối lượng từ 300 kg trở lên, xếp cấp tổng hợp đạt từ cấp 2 trở
lên, tạo đàn cái nền phục vụ công tác cải tạo đàn trâu.
- Xây dựng các vùng giống trâu để cung cấp những con giống tốt cho người chăn
nuôi; có chính sách hỗ trợ đối với người nuôi giữ trâu đực. Đầu tư mua trâu đực
giống tốt từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An để nâng cao năng suất, tầm vóc đàn trâu
địa phương.
- Thụ tinh nhân tạo trâu: Mỗi năm chọn 1.000 - 2.000 trâu cái để làm trâu cái nền,
phát hiện động dục và TTNT với tinh trâu Murrah, tạo đàn trâu lai 50% máu
Murrah tầm vóc lớn (tăng 20% so với trâu địa phương), sinh trưởng, phát triển tốt.
- Thực hiện Dự án Phát triển giống trâu giai đoạn 2011 - 2015 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn.
d) Giống gia cầm:
- Chọn lọc, cải tạo các giống gia cầm địa phương chất lượng cao như gà ri, vịt cỏ…
nhằm giải quyết một phần nhu cầu con giống tại chỗ phục vụ chăn nuôi gia cầm
bán chăn thả.
- Sử dụng các giống gia cầm chuyên trứng, chuyên thịt như gà Ai cập, gà Lorgh,
vịt Kakicapbell, vịt Super Meat, vịt CV 2000… để phát triển chăn nuôi theo hướng
công nghiệp. Khuyến khích xây dựng các cơ sở sản xuất giống gia cầm an toàn
sinh học với quy mô vừa và lớn trong vùng quy hoạch trang trại tập trung.
đ) Giống hươu: Tiến hành bình tuyển, chọn lọc để từng bước nâng cao chất lượng
đàn hươu. Xây dựng vùng giống nhân dân để sản xuất giống hươu tốt phục vụ nhu

cầm giống đưa về nuôi trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn nuôi cách ly và tiêm phòng bổ
sung trước khi nhập đàn.
- Tăng cường công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y ở lò, điểm giết
mổ, chợ buôn bán động vật, sản phẩm động vật;
- Giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh, phát hiện sớm, bao vây kịp thời, khống chế
có hiệu quả không để dịch lan rộng.
- Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch theo Quyết định số 66/2008/QĐ-BNN ngày
26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT tại các cơ sở sản xuất giống,
vùng tái định cư và các xã xây dựng Nông thôn mới.
- Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Pháp lệnh Thú y và các văn bản
quy định về phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm của cơ quan có thẩm
quyền, xử lý các vi phạm theo Nghị định số 129/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của
Chính phủ.
6. Xử lý chất thải và môi trường chăn nuôi
- Quy hoạch phát triển chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường, an toàn dịch bệnh,
phát triển bền vững; khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại theo mô
hình khép kín từ chuồng trại, giống, thức ăn, hệ thống xử lý chất thải, phòng chống
dịch bệnh để sản phẩm chăn nuôi đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thú y.
- Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô trên 1.000 con phải có báo cáo đánh
giá tác động môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường, các trang trại có quy
mô 100 - 1.000 con phải có cam kết bảo vệ môi trường được Phòng Tài nguyên và
Môi trường - Ủy ban nhân dân huyện xác nhận.
- Tiếp tục thực hiện Dự án “Chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt
Nam 2007 - 2011”, để người dân có thể tiếp cận tiện ích của công trình khí sinh
học. Đưa các công nghệ mới, tiên tiến về xử lý môi trường chăn nuôi như công
nghệ vi sinh, công nghệ Ion hóa, công nghệ vật liệu mới…
- Chăn nuôi trang trại quy mô vừa có thể áp dụng phương pháp xử lý bằng Biogas;
quy mô lớn cần kết hợp với phương pháp ủ sinh học và các phương pháp khác;
- Kiên quyết xử lý các trường hợp sản xuất chăn nuôi vi phạm về vệ sinh thú y và
môi trường theo quy định của Nhà nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status