tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở huyện vĩnh bảo – thành phố hải phòng - Pdf 24

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trên thế giới đều hình thành và phát triển
trên nền tảng quan trọng nhất đó là đất đai. Ngay từ khi mới xuất hiện, con
người đã lấy đất đai làm nơi cư ngụ, sinh tồn và phát triển. Bất kì một quốc
gia nào cũng có một quỹ đất đai nhất định, và được giới hạn bởi ranh giới
quốc gia.
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn để
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội…. Đất
đai là nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng, cố định về vị trí, mọi hoạt
động của con người đều cần tới đất đai, điều này cho thấy trong việc sử dụng
đất đai phải có sự quy hoạch cụ thể và có sự quản lí phù hợp.
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu : “ Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân. Do nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch
và theo pháp luật”.
Theo điều 6 Luật đất đai 2003, quy hoạch sử dụng đất là 1 trong 13
nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Nó là cơ sở để quản lý nhà nước về
đất đai.
Quy hoạch sử dụng đất đai là công tác có ý nghĩa quan trọng trong
việc quản lí và sử dụng đất đai, góp phần tích cực trong việc điều hòa các
mâu thuẫn phát sinh. Chất lượng của hệ thống quy hoạch sử dụng đất có ảnh
hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội và tới sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc định hướng, lập kế hoạch sử dụng đất
đai là nội dung quan trọng được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia.
Hiện nay, Việt nam là một nền kinh tế trẻ giàu tiềm năng. Tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua diễn ra với tốc độ nhanh, cùng
1
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, càng làm gia tăng áp lực đối với
tài nguyên đất đai. Một yêu cầu khách quan đặt ra là cần nghiên cứu để có
những thay đổi trong quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra một hành lang pháp

hảo – thành phố hải phòng
- Nghiên cứu thực trạng và đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử
dụng đất của huyện Vĩnh Bảo – thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao khả năng thực hiện phương án quy
hoạch sử dụng đất trong tương lai của huyện, thực hiện đúng chính sách của
chính phủ, và chính sách được phê duyệt.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
* khách thể: các văn bản chính sách, công văn đi kèm hướng dẫn về việc
sử dụng và quy hoạch đât ở huyện vĩnh hảo – thành phố hải phòng
* chủ thể: các đối tượng thừa hưởng chính sách
- Toàn bộ đất trong phạm vi ranh giới hành chính của huyện Vĩnh Bảo.
- Các chỉ tiêu sử dụng đất theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010.
- Tình hình thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất của huyện Vĩnh Bảo năm
2010.
1.4. Pham vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: từ khi có chính sách đầu tiên của chính phủ về quy
hoạch sử dụng đất đai cho đến năm 2010.
- Phạm vi về không gian: tại huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng
- Phạm vi về nội dung: chính sách về quy hoạch, sử dụng đất đai trong
thực hiện luật đất đai.
PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3
- Cách thức thu thập số liệu
+ Phương pháp kế thừa và chọn lọc tài liệu
+ Phương pháp phân tích số liệu
Để xây dựng bài tiểu luận này lượng số liệu chính xác là rất cần thiêt, tài
liệu phục vụ cho việc nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu về địa phương.
Chủ yêu là số liệu thứ cấp được lấy từ internet, từ những nghiên cứu cùng đề
tài của các tác giả đi trước, được thực hiện ở các địa phương khác

đất đai. Theo tổ chức nông lương thế giới ( FAO – Food and Agriculture
Organization) đã khẳng định : Quy hoạch sử dụng đất đôi khi bị hiểu lầm là
một quá trình mà trong đó các nhà quy hoạch đưa ra một nội dung cụ thể về
việc mọi người phải làm, như một kiểu hành động từ trên xuống. Đó là cách
hiểu sai lầm. Ngược lại, các nhà nghiên cứu của FAO đã chỉ rõ Quy hoạch
sử dụng đất đai thực chất phải là hệ thống đánh giá các yếu tố tự nhiên, xã
hội và kinh tế theo cách để giúp đỡ và động viên người sử dụng đất lựa chọn
phương án sử dụng đất làm tăng năng suất, sử dụng bền vững đồng thời đáp
ứng được nhu cầu của xã hội. Người nông dân và những người sử dụng đất
khác nên tham gia vào các hoạt động trong quy hoạch sử dụng đất, vì họ có
kiến thức thực tế, có sự kiểm nghiệm so sánh giữa nhu cầu phát triển thực tế
với lí thuyết phát triển bền vững”.
3.2. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất có một số đặc điểm sau:
- Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử
phát triển của Quy hoạch sử dụng đất. Trong quy hoạch sử dụng đất luôn
nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai, cũng như quan hệ giữa người với
người. Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát
5
triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất,
nên nó luôn là bộ phận của phương thức sản xuất xã hội.
Ở nước ta, quy hoạch sủ dụng đất phục vụ nhu cầu của người sử dụng
đất và quyền lợi của toàn xã hội, góp phần tích cực phát triển quan hệ sản
xuất ở nông thôn, nhằm sử dụng bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã
hội. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quy hoạch sử dụng đất
góp phần nào giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế cũng
như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau
- Tính tổng hợp: Đất đai có vai trò quan trọng đối với đời sống con
người và các hoạt động xã hội. Cho nên quy hoạch dử dụng đất đai mang
tính tổng hợp rất cao. Chủ yếu biểu hiện ở hai mặt. Thứ nhất, đối tượng của

việc phát triển kinh tế trong một thời kì nhất định. Khi xã hội phát triển,
khao học kĩ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi,
các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp, việc chỉnh sửa
bổ sung và hoàn thiện quy hoạch là rất cần thiết, điều này thể hiện tính khả
biến của quy hoạch
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cs quy hoạch sử dụng đất
Có thể nói việc thực hiện chính sách và sử dụng đất còn rất nhiều bất cập
những bất cập nhày do nhiều yếu tố tác động lên từ những đơn vị, cá nhân
thực hiện chính sách đến những đối tượng thừa hưởng chính sách, những
yếu tố cơ bản có thể kể đến như sau
Sự thiếu phù hợp và nhất quán giữa qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội và thời hạn giao đất cho người sử dụng dẫn tới những mâu thuẫn phát sinh
7
và gây ra những khó khăn cho các doanh nghiệp. Theo như qui định tại Điều
25 Luật Đất đai thì qui hoạch tổng thể là 10 năm và có thể được xem xét sửa
đổi 5 năm 1 lần, trong khi thời hạn giao đất cho các dự án đầu tư của doanh
nghiệp là 50 năm. Với thời gian thay đổi qui hoạch như vậy thì đã có rất nhiều
doanh nghiệp phải di dời do thay đổi qui hoạch. Điều này thường gây ra các
thiệt hại và rủi ro cho các doanh nghiệp do đền bù thường không đủ bù đắp
chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Quan trọng hơn, nó làm mất cơ hội
kinh doanh vì doanh nghiệp sẽ phải mất một thời gian dài để xây dựng cũng
như ổn định sản xuất kinh doanh. Những thay đổi như vậy sẽ làm cho các
doanh nghiệp có tâm lý lo ngại và sẽ phải lựa chọn phương án đầu tư ngắn
hạn, dẫ tới tình trạng sử dụng đất thiếu hiệu quả.
Sự mâu thuẫn giữa các qui định trong Luật Đất đai với các luật khác gây ra
nhiều khó khăn và phiền toái cho các nhà đầu tư và người sử dụng đất. Ví dụ,
mâu thuẫn giữa Luật Đất đai với Luật Xây dựng đó là: theo Điều 122 Luật
Đất đai năm 2003, yêu cầu hồ sơ xin cấp đất của nhà đầu tư phải có đơn xin
cấp đất, giấy phép đầu tư ( quyết định đầu tư), và hồ sơ dự án mới được giao
đất. Nhưng theo Điều 37 Luật Xây dựng thì nhà đầu tư lại phải có các văn

giá thị trường và giá đền bù của Nhà nước đã tạo cơ hội cho những ai nắm
quyền chi phối đất đai tham nhũng. Hình thức tham nhũng thường là lợi dụng
quyền hạn, chức vụ của mình để chiếm ruộng đất, thông đồng chia chác đất
đai của nhiều cán bộ (từ các chương trình trọng điểm có sử dụng đất như:
chương trình phát triển rừng, xây dựng nhà phát triển khu dân cư nông thôn,
dự án nhà ở tái định cư cho người bị thu hồi đất), giao đất trái thẩm quyền,
không đúng đối tượng, không đúng với qui hoạch phát triển. Điển hình là
quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về giá thu tiền sử dụng đất
giai đoạn 2 khu đô thị Nam Thăng Long không phù hợp với quy định của
pháp luật đã gây thiệt hại cho ngân sách khoảng 4000 tỷ đồng. Vụ tham
nhũng đất đai của nguyên Bí thư và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Đồ Sơn -
Hải Phòng và nhiều quan chức khác thông qua giao đất tái định cư không
đúng đối tượng, không đủ tiêu chuẩn cho nhiều người thân của mình.
Do đất đai ngày càng khan hiếm và cơ hội nhận được những khoản lợi lớn
trong tay những người có quyền cáp phát cũng đã tạo ra sự “thừa thiếu” đáng
tiếc. Có thể những chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ hướng nông nghiệp
sang phục vụ sản xuất công nghiệp phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa đất
nước là rất tốt, nhưng do những mâu thuẫn giữa các luật và do sai phạm của
một số cán bộ quản lý đất đai đã gây ra những tranh chấp và khó khăn cho
doanh nghiệp nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù đất cho doanh nghiệp vẫn
thiếu nhưng đất không đưa vào sử dụng, đất nông nghiệp chuyển sang công
nghiệp còn bỏ trống lại khá lớn. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước
hiện có 1.649 khu vực qui hoạch “treo” với tổng diện tích 244.665 ha, 1.288
dự án “treo” với tổng diện tích 31.650 ha do chậm giải tỏa mặt bằng. Nhiều
doanh nghiệp năm 2000 ra đời) có nhu cầu sử dụng đất lại phải đi thuê của
các cá nhân, hộ gia đình với giá cao vẫn không thể tiếp cận với những quĩ đất
bị “bỏ hoang”, những người nông dân thì thất nghiệp do mất đất và ít cơ hội
chuyển nghề khác bởi hạn chế về khả năng và trình độ.
9
Có thể nói, hệ thống chính sách pháp luật về đất đai đã có nhiều thay đổi

10
f, Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
Như vây, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất đai là : Phân
phối hợp lí đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hình thành hệ
thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng đất
đai và sử dụng đất đúng mục đích, hình thành, và phân bổ hợp lí các tổ hợp
không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả bền vững
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp, ngoài lợi ích
chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích
của mình. Vì vậy, để đảm bảo thống nhất khi xây dựng, triển khai quy hoạch
sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước.
3.5. Những căn cứ pháp lí của quy hoạch sử dụng đất đai
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự chuyển
dịch cơ cấu từ Nông Nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ sang Công nghiệp –
Dịch vụ - Nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai.
Việc sử dụng hợp lí đất đai liên quan chặt chẽ đến mọi hoạt động của
từng ngành và từng lĩnh vực, quyết đinh đến hiệu quả sản xuất và sự sống
còn của từng người dân cũng như vận mệnh của cả quốc gia. Do đó Đảng và
Nhà nước ta luôn coi đây là vấn dề rất bức xúc, cần được quan tâm hàng
đầu.
Hệ thống các văn bản như : hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật
đã tạo ra cơ sở vững chắc cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
giúp giải quyết về mặt nguyên tắc những vấn đề đặt ra:
- Sự cần thiết về mặt pháp lí phải lập quy hoạch sử dụng đất?
- Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất?
- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất?
• Sự cần thiết về mặt pháp lí phải lập quy hoạch đất
- Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1992 đã
khẳng định : “ Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân”, “ Nhà nước thống
11

trong lãnh thổ. Tùy thuộc vào từng cấp lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử
12
dụng đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thự
hiện theo nguyên tắc : từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận,
….
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất các cấp lãnh thổ hành
chính bao gồm: đáp ứng nhu cầu đất đai ( tiết kiệm, khoa học, hợp lí và hiệu
quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân, cụ
thể hóa một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và các đơn vị
hành chính cấp cao hơn, làm căn cứ, cơ sở để các ngành và các đơn vị hành
chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của ngành mình và địa
phương mình, làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm,
phục vụ cho công tác thống nhất quản lí Nhà nước về đất đai.
Quy hoạch sử dụng đất được phân kì theo kế hoạch 5 năm. Kế hoạch
sử dụng đất cũng được lập theo cấp lãnh thổ hành chính nhưng phải đáp ứng
được các yêu cầu sau:
- Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân
- Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên một địa bàn nhất
định
- Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất hợp lí trên địa bàn cả nước, trong
các ngành và trên từng đơn vị lãnh thổ
- Đạt hiệu quả đồng bộ cả ba lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường
Kế hoạch sử dụng đất theo ngành và cả nước phải đảm bảo thực hiện
được các mục tiêu vĩ mô như: an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, công
bằng xã hội….Còn kế hoạch theo lãnh thổ hành chính phải cụ thể hóa các
mục tiêu vĩ mô, cùng với việc xử lí các mục tiêu cụ thể của địa phương và
các vấn đề cụ thể của từng chủ sử dụng đất khác nhau trên địa bàn.
Kế hoạch sử dụng đất phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, dựa trên mục đích chung vì lợi ích lâu dài phát triển kinh tế - xã hội
nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhân dân về tinh thần và vật chất. Tuy nhiên cần

khoa học, sau khi được phê duyệt sẽ mang tính chiến lược chỉ đạo sự phát
triển kinh tế xã hội, được luận chứng bằng nhiều phương án kinh tế - xã hội
về phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo không gian có tính đến
chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp sản xuất của các vùng và các đơn vị
cấp dưới.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là một trong những tài
liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở
mức đọ phương hướng với một nhiệm vụ chủ yếu. còn đối tượng của quy
hoạch sử dụng đất đai là tài nguyên đất. Nhiệm vụ của nó là căn cứ yêu cầu
của phát triển kinh tế và cá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh cơ
cấu và phương hướng sử dụng đất đai thống nhất và hợp lý.
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch tổng hợp chuên
ngành, cụ thể hóa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, nhưng nội
dung của nó phải được điều hòa thống nhất với tổng thể phát triển kinh tế xã
hội.
3.8.2. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch phát triển
nông nghiệp.
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu của phát triển
kinh tế - xã hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện
pháp, bước đi về nhân tài, vật lực đảm bảo cho các ngành trong nông nghiệp
phát triển đạt tới quy mô các chỉ tiêu về đất đai, lao động, sản phẩm hàng
hóa, giá trị sản phẩm trong một thời gian dài với tốc độ và tỉ lệ nhất định.
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu
của quy hoạch sử dụng đất đai. Quy hoạch sử dụng đất đai tuy dụa trên quy
hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng của các ngành trong nông nghiệp nhưng có
15
tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế và điều hòa quy hoạch phát triển nông
nghiệp. Hai loại quy hoạch này có mối quan hệ qua lại vô cùng cần thiết và
không thể thay thế lẫn nhau.

hoạch theo không gian ở cùng một khu vựa cụ thể. Tuy nhiên chúng có sự
khác nhau rõ rệt về tư tưởng chỉ đạo và nội dung : một bên là sự sắp xếp
chiến thuật, cụ thể, cục bộ ( qui hoạch ngành ) ; một bên là sự định hướng
chiến lược có tính toàn diện và toàn cục ( qui hoạch sử dụng đất ).
3.9. Ý nghĩa và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất
3.9.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất nói chung
Quy hoạch sử dụng đất là một công tác có ý nghĩa quan trọng trong
việc quản lí và sử dụng đất đai. Đây là công cụ hữu hiệu tạo ra những điều
kiện lãnh thổ cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao. Ở Việt Nam,
Quy hoạch sử dụng đất được hiểu là hệ thống các biện pháp của nhà nước về
tổ chức, quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả tối đa tài nguyên đất trong mối
tương quan với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác gắn với bảo vệ môi
trường để phát triển bền vững trên cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích
sử dụng đất ở nhiều phạm vi khác nhau. Quy hoạch sử dụng đất mang tính
dự báo, phải thể hiện được những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã
hội. Sau khi được phê duyệt, quy hoạch sử dụng đất trở thành công cụ quản
lí nhà nước về đất đai phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển, xử
lí các vấn đề còn bất cập và các vi phạm pháp luật về quản lí và sử dụng đất
phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển, xử lí các vấn đề còn bất
cập và các vi phạm pháp luật về quản lí và sử dụng đất đai.
17
3.9.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp
huyện
Trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo 4 cấp hành chính của
nước ta, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện là hai bộ phận quan
trọng:
- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có vị trí trung tâm, tạo khung sườn
trung gian giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trung Ương và địa phương. Nó có
tác động trực tiếp tới việc sử dụng đất của các Bộ, ngành, vùng, các huyện,
các dự án, đồng thời cũng có vai trò cụ thể hóa, bổ sung, hoàn thiện quy

sinh thái đảm bảo để phát triển bền vững.
- Trong từng thời kỳ nếu có sự thay đổi về mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội thì điều chỉnh việc khoanh định các loại đất cho phù hợp.
- Các giải pháp để tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai.
4.2.3. Nội dung kế hoạch sử dụng đất
Xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm và hàng năm
- Việc khoanh định các loại đất trong kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm và
hàng năm được thực hiện như sau :
+ Xác định nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chuyên dùng, đất ở, trong đó
phải nêu rõ danh mục các công trình trọng điểm, các dự án sử dụng qũy đất
để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Dự kiến diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng sử dụng vào
mục đích khác.
+ Dự kiến diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất trồng lúa nước
chuyển sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâu năm; diện tích đất trồng cây
lâu năm chuyển sang trồng cây hàng năm.
19
+ Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và mục đích khác.
- Kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm phải được cụ thể hoá đến từng năm.
- Việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm phải phù hợp với quy
hoạch sử dụng đất đai; việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm
phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm.
- Các giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất đai
4.2.4. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2001, mọi quy
định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ. Thay mặt Chính Phủ thủ
tướng Phan Văn Khải dã ký
PHẦN V. TÌM HIỂU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
5.1. Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở một số nước trên

• Thời kì trước Luật đất đai năm 1993
Quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của ngành Quản
lý đất đai mà chỉ thực hiện như một phần của quy hoạch phát triển ngành
nông lâm nghiệp. Các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp đã đề
cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có tính toán đến qũy đất
nông nghiệp và coi đây là phần quan trọng.
Từ năm 1981 đến 1986. Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng
quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện
trong cả nước.
Từ năm 1987 đến 1993. Công tác quy hoạch sử dung đất đai đã có cơ
sở pháp lý quan trọng, thời kỳ nà công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu
sắc, quy hoạch đất đai cấp xã nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất,
cấp đât.
• Giai đoạn từ khi có luật đất đai năm 1993 đến năm 2003
21
Luật Đất đai năm 1993 ra đời tạo cơ sở pháp lý cho công tác quy
hoạch sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn. Công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai đã góp phần đẩm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai. Thông qua quy hoạch sử dụng đất, nhà nước thực hiện
quyền định đoạt về đất đai, nắm dược quỹ đất đai đến từng loại, đảm bảo cơ
sở pháp lý cho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội.
• Giai đoạn năm 2003 đến nay
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổ mới xã hội nói chung và đòi hỏi về công
tác quản lý đất đai nói riêng. Luật đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước
Cộng hòa XHCN Viêt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
26/11/2003, có hiệu lưc từ ngày 01/07/2004.
Theo kết quả báo cáo của bộ tài nguyên và môi trường đén hết năm
2007, cùng với quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đên nay đã có 63 tỉnh,
thành phố trực thuộc TƯ xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử

đai trong quy hoạch chung của quận. Ở 169 đơn vị xã, thị trấn thuộc các
huyện ngoại thành, công tác lập kế hoạch sử dụng đất còn chậm, chưa đáp
ứng được yêu cầu. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, trong giai
đoạn 2003 – 2009 thành phố có 49/169 xã lập xong quy hoạch sử dụng đất
đai ( đạt 29%). Từ tháng 7/2004 đến nay có 17 xã lập xong quy hoạch sử
dụng đất. Việc lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm được triển khai
thực hiện thường xuyên thông qua Hội đồng nhân dân xã trình UBND phê
duyệt để thực hiện.
Nhìn chung, QHSDĐ thành phố Hải Phòng điều chỉnh đến năm 2010
là KHSDĐ 2006 -2010 được phê duyệt đã góp phần tích cực vào việc định
23
hướng và thực hiện các chỉ tiêu hinh tế - xã hội, tạo điều kiện phát triển cơ
sở hạ tầng kĩ thuật, xã hội, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phương án
này góp phần tạo quỹ đất cho việc xây dựng và cải tạo, chỉnh trang đô thị.
Bên cạnh đó, phương án cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính
quyền thực hiện quản lí nhà nước về đất đai trên địa bàn đi vào kỉ cương
pháp luật, nề nếp, hiệu quả. Tuy nhiên công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của thành phố còn nhiều bất cập. Huyện Cát Hải, huyện Bạch Long Vĩ
và thị xã Đồ Sơn chưa hoàn thành việc lập QHSDĐ. Việc lập QHSDĐ cấp
xã còn hạn chế. Mặt khác các khu công nghiệp lớn tốc độ đầu tư lấp đầy
diện tích cồn chậm. Tốc độ đầu tưu cơ sở hạ tầng kĩ thuật, xây dựng nhà còn
chưa nhanh. Quỹ đất giao để phát triển các khu tái định cư khi thu hồi đất,
đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng
được yêu cầu của thành phố. Cụ thể theo kết quả rà soát chỉ tiêu QHSDĐ
đến năm 2010 giữa cấp tỉnh và cấp huyện, chỉ tính riêng một số loại đất
chính ( đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng lúa, đất chuyên trồng lúa
nước ), tổng diện tích chênh lệch của thành phố Hải Phòng là 7.123 ha.
Toàn thành phố có 5 đơn vị cấp huyện chênh lệch. Bên cạnh đó, theo kết quả
rà soát chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất
2006-2010 giữa cấp huyện và cấp tỉnh, cả 15 quận, huyện của thành phố đều

của huyện.
Địa hình, địa mạo: Vĩnh Bảo là huyện đông bằng không có đồi núi, có
địa hình tương đối bảng phẳng. Huyện năm trong vùng có nền địa chất công
trình thuộc loại yếu. Cấu tạo địa chất điển hình là lớp trầm tích biển vf sông
lắng đọng. Cơ cấu của đất trẻ, chủ yếu là sét, bùn, cát, cường đọ chịu tải
kém.
Khí hậu: Khí hậu nhiệt đói gió mùa, chịu ảnh hưởng của biển, hình
thành â mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh khô hanh từ tháng 11 đến tháng 3, cuối
đông ẩm ướt, nhiệt độ 9-12
0
C tháng 12 và tháng 1. Mùa hè nống mưa nhiều,
nhiệt độ cao nhất từ tháng 6-7, có thể lên đên 30-32
0
C. Có bão tháng 4 đến
10.
Chế độ thủy văn: Toàn huyện có ba con sông lớn là sông Hóa, sông
Thái Bình, sông Luộc chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều. Trong lãnh
thổ có ba hệ thống kênh chính giữ vai trò thủy nông quan trọng là kênh:
25

Trích đoạn xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của phương án
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status