tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở thành phố hà nội - Pdf 24

Chính sách nông nghiệp
I. Tính cấp thiết của đề tài.
Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương chuyển nền kinh tế từ cơ chế bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo đó phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, đa dạng hoá, đặc biệt thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự
chủ, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trước pháp luật. Việc giao
đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài, với các quyền cơ bản: chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp việc mở rộng hoạt động tín dụng
nông thôn cả về mạng lưới cùng như cơ cấu vốn, tăng cường các biện pháp khuyến
nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ nông nghiệp nông thôn đã phát huy cao tiềm
năng của đất đai, sức lao động, tiền vốn. Chủ trương và chính sách đó đã tạo ra sự đổi
mới căn bản trong sản xuất nông nghiệp, bộ mặt nông thôn ngày một khởi sắc, đời
sống nông dân ngày một nâng cao, qui mô sản xuất của từng hộ gia đình đã được mở
rộng, tính chất và mục đích sản xuất cũng đã thay đổi đã sản xuất ra khối lượng hàng
hoá lớn để bán trong nước và xuất khẩu, đó là một mô hình sản xuất mới xuất hiện
trong cơ chế thị trường ở nông thôn mà ta gọi là kinh tế trang trại.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, kinh tế trang trại luôn có
vị trí và vai trò quan trọng. Trước hết kinh tế trang trại được khẳng định là cơ sở sản
xuất, kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp, là hình thức sản xuất kinh doanh trực tiếp
tạo ra nông sản hàng hoá cho xã hội, là đối tượng để tổ chức lại nền nông nghiệp -
nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá. Mặt khác, kinh tế trang trại có vai trò quan
trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tập trung
chuyên canh, sản xuất hàng hoá, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm có giá trị cao.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn không những đem lại
hiệu quả về mặt kinh tế mà còn mang lại hiệu quả về xã hội, môi trường, tạo điều kiện
thu hút lao động dôi dư ở nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động, đồng thời cho phép sử dụng tài nguyên đất đai, điều kiện tự nhiên và nguồn lực
lao động một cách hiệu quả.
Trong thời gian qua, kinh tế trang trại ở nước ta phát triển khá mạnh và đã đạt
được những kết quả nhất định, đặc biệt từ khi có Nghị quyết 03/2000/NQ- CP của
Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại với đặc trưng là sản xuất hàng hoá quy mô

3,1 Xác định điểm nghiên cứu: Chọn địa bàn Thành phố Hà Nội là địa bàn nghiên cứu
tình hình thực hiện chính sách.
2
Chính sách nông nghiệp
3,2. Thu thập số liệu: Sử dụng số liệu thứ cấp là chủ yếu.
3,3. Sử lý số liệu: Các số liệu thu thập trên mạng, trên báo và các bảng thống kê của
việc thực hiện chính sách tại Thành phố Hà Nội.
3,4. Phương pháp phân tích:
- Phương pháp thống kê mô tả, phân tích thực trạng phát triển của việc áp dụng chính
sách này.
Phân tích các chính sách liên quan đến việc thực hiện chính sách này tại Thành phố Hà
Nội.
3
Chính sách nông nghiệp
IV. Nội dung.
IV.1 Một số lý luận về chính sách phát triển trang trại.
4.1.1. Một số khái niệm.
* Chính sách: là chủ trương và các biện pháp thực thi của một chính đảng và chính
phủ về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội.
* Chính sách phát triển nông nghiệp: là tập hợp các giải pháp cụ thể hoá chủ trương
của Đảng và nhà nước để phát triển nông nghiệp. Các chính sách phát triển nông
nghiệp gồm: Chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách giá nông sản, chính
sách bảo hiểm sản xuất nông nghiệp, chính sách hỗ trợ, chính sách ruộng đất, chính
sách phát triển KTTT, chính sách phát triển hợp tác xã, chính sách tiêu thụ nông
sản…
* Trang trại: là đơn vị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, và nuôi trồng thuỷ sản hàng
hoá tập trung có quy mô tương đối lớn hoặc lớn đem lại hiệu quả cao.
* Kinh tế trang trại : là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông
thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản
xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng gắn sản

được cấp giấy CNQSDĐ, thẩm quyền giao đất cho thuê, được áp dụng theo quy định
tại Nghị định số 85/NĐ-CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một
số quy định về giao đất nông nghiệp cho một số hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài và Nghị định số 163/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao
đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp.
Mặt khác theo điều 82 luật đất đai năm 2003( có hiệu lực từ 01/7/2004), đất sử
dụng cho KTTT còn được quy định như sau:
1. Nhà nước khuyến khích hình thức KTTT của hộ gia đình, cá nhân nhằm khai thác
có hiệu quả đất đai để phát triển sản xuất, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử
dụng đất trong sản xuất nông, lâm nghiệp ,nuôi trồng thuỷ sản, làm muối gắn với
dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Chính sách nông nghiệp
2. Đất sử dụng cho KTTT bao gồm đất được nhà nước giao không thu tiền sử dụng
đất trong hạn mức giao đất cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối quy định tại điều 70 luật đất đai, đất do
nhà nước cho thuê, đất do thuê, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế được tặng cho,
đất do nhận khoán của tổ chức, đất do hộ gia đình, cá nhận góp.
3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm KTTT được chủ động chuyển đổi mục đích
sử dụng các loại đất theo phương án sản xuất, kinh doanh đã được UBND huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt.
4. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm KTTT phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đã được xét duyệt được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là không có
tranh chấp thì được tiếp tục sử dụng theo các quy định sau đây:
a) Trường hợp đất được giao không thu tiền sử dụng đất trong hạn mức cho hộ gia
đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm
muối thì được tiếp tục sử dụng trong thời hạn còn lại.
b) Trường hợp đất được giao không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp- lâm nghiệp- nuôi trồng thuỷ sản, làm muối thì phải
chuyển sang thuê đất.

đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
- Mức cho vay, phương thức cho vay của tổ chức tín dụng đối với chủ trang trại theo
quyết định 423/ QĐ- NHNN1.
+Về phân bổ sử dụng lao động
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng
quy mô SXKD, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn. Ưu tiên sử dụng lao
động của hộ nông dân không đất. Thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu
việc làm. Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế số lượng, trả công lao
động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao
động.
Đối với những địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, Chủ
trang trại đựơc ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm
Chính sách nông nghiệp
nghèo để tạo việc làm cho lao động tại chỗ, thu hút lao động ở các vùng đông dân cư
để phát triển sản xuất. Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động làm
trong trang trại bằng nhiều hình thức tập huấn, bỗi dưỡng ngắn hạn.
- Nghị định số 39/2000/NĐ-CP. Ngày 18/4/2003. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của bộ luật lao động về việc làm.
- Thông tư 23/2000/TT-BLĐTB&XH ngày 28/9/2000 hướng dẫn một số chế độ đối
với người lao động làm việc trong các trang trại.
+Về khoa học-công nghệ
Nghị quyết 03/2000/ NQ-CP. Ngày 02/02/2000 đã thể hiện chính sách ưu đãi
trong công tác thuỷ lợi phục vụ hoạt động của trang trại. Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn cùng với các địa phương có quy hoạch, kế hoạch xây dựng các công
trình thuỷ lợi để tạo nguồn nước phát triển sản xuất. Chủ trang trại tự bỏ vốn hoặc
vay từ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước để xây dựng hệ thống dẫn
nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong trang trại.
+ Về tiêu thụ nông sản
Bộ Thương mại, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương tổ chức tốt việc cung cấp trông tin thị trường,

trại hay không cần phải có tiêu chí xác định. Tiêu chí xác định trang trại dựa trên các
đặc trưng cơ bản nhất của trang trại nhưng cần đơn giản, dễ vận dụng. Theo thông tư
Số: 27/2011/TT-BNNPTNT Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh
tế trang trại ngày 13 tháng 4 năm 2011 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
hướng dẫn tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại như sau:
Điều 2: Đối tượng áp dụng.
1. Cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản đạt tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo quy định của Thông tư này;
2. Tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy
chứng nhận kinh tế trang trại.
Điều 3. Phân loại trang trại
Chính sách nông nghiệp
1. Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau:
a) Trang trại trồng trọt;
b) Trang trại chăn nuôi;
c) Trang trại lâm nghiệp;
d) Trang trại nuôi trồng thuỷ sản;
đ) Trang trại tổng hợp.
2. Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là
trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50%
cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm. Trường hợp không có
ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại
tổng hợp.
Điều 5. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu
chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.

vật nuôi, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm.
- Hợp tác và cạnh tranh
Các trang trại muốn SXKD phát triển ổn định và đạt hiệu quả thì cùng với việc
thực hiện tích luỹ mở rộng sản xuất, chuyên môn hoá sản xuất, nâng cao kỹ thuật và
thâm canh sản xuất phải hợp tác với nhau và với các đơn vị, tổ chức kinh tế khác có
liên quan tới hoạt động SXKD của trang trại để giúp cho mỗi trang trại giải quyết tốt
hơn những vấn đề của SXKD mà mỗi trang trại nếu tách rời ra sẽ không giải quyết
được hoặc giải quyết kém hiệu quả như: Xây dựng hệ thống tưới tiêu nước, chế biến
sản phẩm, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, cung ứng vật tư sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm…
Chính sách nông nghiệp
Cùng với hợp tác SXKD, mỗi trang trại đồng thời còn phải cạnh tranh với các
trang trại, với những đơn vị, tổ chức kinh tế khác cùng SXKD những sản phẩm như của
trang trại để có thể tiêu thụ nông sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý, đảm bảo có lãi,
thực hiện tích luỹ và mở rộng sản xuất. Muốn đứng vững trong cạnh tranh, các trang
trại phải coi trọng việc nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm làm ra.
* Những điều kiện ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành và phát triển của KTTT
- Có sự tác động tích cực và phù hợp của Nhà nước: Sự tác động của Nhà nước có vai
trò to lớn đối với sự hình thành và phát triển của KTTT. Chỉ có Nhà nước với tư cách là
chủ thể quản lý nền kinh tế, chủ thể quản lý xã hội, mới có thể chủ động tạo ra môi
trường kinh tế và pháp lý cho KTTT hình thành và phát triển.
- Có hỗ trợ của công nghiệp chế biến nông sản: Mục đích trực tiếp của KTTT là sản
xuất hàng hoá. Việc tiệu thụ nông sản phẩm là điều kiện cơ bản để trang trại ra đời và
phát triển.
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là đường giao thông và các
công trình thuỷ lợi
- Có sự hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa: Sự hình thành các
vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới sự
hình thành và phát triển của các trang trại vì các vùng chuyên canh tập trung luôn gắn

đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theo pháp luật để sản
xuất kinh doanh.
- Nhà nước đặc biệt khuyến khích việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu
quả đất trống, đồi núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụng khai thác
các loại đất còn hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển, mặt nước eo
vịnh, đầm phá để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng chuyên canh với tỷ suất
hàng hoá cao. Đối với vùng đất hẹp, người đông, khuyến khích phát triển kinh tế
trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâm canh cao gắn với chế biến và thương
mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trị kinh tế lớn. Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối
Chính sách nông nghiệp
với những hộ nông dân có vốn, kinh nghiệm sản xuất, quản lý, có yêu cầu mở rộng
quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông
nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp.
- Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ
nông dân, phát triển kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mở rộng
các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh giữa các hộ nông dân,
các trang trại, các nông, lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp Nhà nước và doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho
nông nghiệp, nông thôn phát triển.
- Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học-công nghệ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm,
xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển bền
vững.
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước để các trang trại phát triển lành
mạnh, có hiệu quả.
• Về chính sách cụ thể.
a) Chính sách đất đai
- Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được
Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất được áp dụng theo quy định tại Nghị định số
85/1999/NĐ-CP, ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một

mục đích, thì được xem xét để giao hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm
chỉ đạo cơ quan địa chính khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để
các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất.
b) Chính sách thuế
- Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh
tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển,
Chính sách nông nghiệp
thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số
51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết
thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10.
Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì hộ gia đình và cá
nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao thuộc đối tượng nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp. Giao Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung
Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ về Quy định
chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng quy định đối tượng nộp
thuế là những hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định, có giá trị
hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích phát triển
kinh tế trang trại, được nhân dân đồng tình và có khả năng thực hiện.
- Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về
đất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sản xuất, trồng
cây lâu năm và khi thuê diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa có đầu tư cải tạo
vào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
c) Chính sách đầu tư, tín dụng
- Căn cứ vào quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trên các địa
bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Nhà nước có chính
sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh
hoạt, thông tin, cơ sở chế biến để khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân phát triển
trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

hoạch, kế hoạch xây dựng các công trình thuỷ lợi để tạo nguồn nước cho phát triển
sản xuất. Chủ trang trại tự bỏ vốn hoặc vay từ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước để xây dựng hệ thống dẫn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong
trang trại. Các chủ trang trại xây dựng các công trình thuỷ lợi, sử dụng nước mặt,
nước ngầm trong phạm vi trang trại theo quy hoạch không phải nộp thuế tài nguyên
nước.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp,
Chính sách nông nghiệp
cây lâm nghiệp và các cơ sở sản xuất con giống (chăn nuôi, thuỷ sản) hoặc hỗ trợ
một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để bảo đảm đủ giống tốt, giống có chất
lượng cao cung cấp cho các trang trại và cho hộ nông dân trong vùng.
- Khuyến khích chủ trang trại góp vốn vào Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học,
liên kết với cơ sở khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật áp dụng
vào trang trại và làm dịch vụ kỹ thuật cho nông dân trong vùng.
e) Chính sách thị trường.
- Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị
trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh
doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
- Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ sở
công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh; hướng dẫn việc ký kết hợp
đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản. Khuyến khích các thành phần kinh tế
tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ nông sản hàng hoá của
trang trại và nông dân trên địa bàn.
- Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch
mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được
tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và
ngoài nuớc.
Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản

- Thông tư Số: 27 /2011/TT-BNNPTNT Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy
chứng nhận kinh tế trang trại.
IV.3 Tình hình thực hiện quyết định số 05/2008/QĐ-UBND về ban hành
quy định về một số chính sách khuyến khích, phát triển kinh tế trang trại
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
IV.3.1 Nội dung triển khai chính sách.
• Chính sách về đất đai
Chính sách nông nghiệp
- Về thời gian sử dụng đất phát triển KTTT được quy định tối thiểu là 20 năm, kể từ
ngày được phê duyệt hoặc phê duyệt lại (cả trang trại sử dụng đất công ích và các
loại đất khác theo quy định của pháp luật, được UBND các huyện cho phép xây dựng
và sản xuất kinh doanh theo hình thức trang trại). Đối với diện tích đất công ích sử
dụng làm trang trại, thì cứ 5 năm UBND cấp xã ký hợp đồng lại hoặc bổ sung, điều
chỉnh mức giá thuê đất cho phù hợp với thực tế.
- Được phép xây nhà cấp 4 để làm nhà kho chứa vật tư, thức ăn chăn nuôi; nhà bảo
vệ, nhà nghỉ tạm của người lao động; chuồng trại chăn nuôi và các công trình phục
vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của
trang trại. UBND các huyện căn cứ vào nội dung hoạt động của trang trại chịu trách
nhiệm xem xét, cho phép trang trại xây dựng diện tích nhà cấp 4 phù hợp với nội
dung sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đúng quy định của pháp luật. Nghiêm cấm
biến đất trang trại làm đất ở thổ cư.
• Chính sách khoa học kỹ thuật
- Các trang trại được tham gia thực hiện các mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.
Được tập huấn về kỹ thuật, kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, bảo quản chế
biến, được cung cấp thông tin thị trường, đào tạo quản lý từ chương trình khuyến
nông và các chương trình hỗ trợ khác của nhà nước. Khuyến khích việc phát triển
trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
- Các trang trại áp dụng công nghệ mới về chế biến, bảo quản nông sản. Được ngân
sách huyện hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, tập huấn kỹ thuật mới theo dự án được
UBND huyện phê duyệt.

năm của các huyện, quận đối với các trang trại, tổng hợp, báo cáo UBND Thành phố
và hướng dẫn, đôn đốc UBND các huyện, quận, các sở, ngành liên quan tổ chức thực
hiện chính sách này.
- Tổng hợp tình hình triển khai và những khó khăn vướng mắc khi tổ chức thực hiện
chính sách, báo cáo UBND Thành phố để xem xét, kịp thời giải quyết.
Chính sách nông nghiệp
- Chỉ đạo các đơn vị trong ngành: Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Thú y, Chi cục
Thuỷ sản, Chi cục BVTV và các đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện theo chức
năng, nhiệm vụ được giao.
• Sở Kế hoạch và Đầu tư:
- Thẩm định trình UBND Thành phố phê duyệt các dự án của UBND các huyện,
quận thuộc thẩm quyền Thành phố theo quy định; Thống nhất đề xuất nguồn vốn đầu
tư hàng năm trình UBND Thành phố.
• Sở Tài chính:
- chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Kế hoạch và Đầu tư huyện,
thành phố bố trí kinh phí thực hiện hỗ trợ theo chính sách.
- Kiểm tra, hướng dẫn, quản lý nguồn vốn ngân sách theo quy định hiện hành.
• Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất:
- Đôn đốc, hướng dẫn kiểm tra các huyện thực hiện chính sách đất đai theo quy định.
• Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở Thương mại, Ngân hàng Nhà nước thành phố,
Cục Thuế Hà Nội:
- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện,
đôn đốc, kiểm tra theo thẩm quyền.
5.2.3.2 Trách nhiệm của UBND các huyện
- Hàng năm, UBND các huyện lập kế hoạch phát triển trang trại và dự kiến ngân sách
đầu tư hỗ trợ cho trang trại tại địa phương, tổng hợp, thẩm định và báo cáo cấp có
thẩm quyền xem xét, quyết định. Ban hành các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích trang trại
trên địa bàn, nhằm đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất phát triển kinh tế hàng hóa.
Tổ chức theo dõi, đánh giá kết quả hoạt động và trực tiếp tháo gỡ khó khăn trong sản
xuất kinh doanh của các trang trại. Thực hiện kịp thời việc cấp Giấy chứng nhận

đổi, chuyển nhượng có sự kiểm soát của chính quyền địa phương)
5.3.2 Lao động và vốn.
Các trang trại có tổng số 3.332 lao động, trong đó 1427 lao động là chủ trang
trại. Số lao động thuê ngoài thường xuyên trên 700 người, lao động thuê theo thời vụ
trên dưới 1.300 người. Lao động trong các trang trại Hà Nội còn quá ít, vì phần lớn
Chính sách nông nghiệp
các trang trại sử dụng lao động tại gia đình là chính và chỉ thuê rất ít lao động ngoài,
do quy mô sản xuất của trang trại còn nhỏ.
Các trang trại Hà Nội hiện có tổng vốn lưu động 139 tỷ 460,6 triệu đồng, trong
đó: lớn nhất là các trang trại nuôi trồng thuỷ sản có 45 tỷ 220 triệu đồng, trang trại
chăn nuôi có 41 tỷ 734 triệu đồng vốn lưu động, thấp nhất là trang trại lâm nghiệp
650 triệu đồng. Vốn sản xuất trung bình của 1 trang trại là 217,5 triệu đồng
Thành phố đã có chính sách về vay vốn nhưng thủ tục còn phức tạp, qua nhiều
đầu mối trung gian nên không khuyến khích được các chủ trang trại vay vốn đầu tư
cũng như việc tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi. Anh hùng Lao động thời kỳ đổi
mới Nguyễn Đắc Hải, chủ trang trại tại xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên) cho biết, trang
trại của anh sau nhiều lần mở rộng quy mô, đến nay có tổng diện tích lên đến 60 ha.
Nhu cầu vay vốn để đầu tư sản xuất của trang trại khoảng vài chục tỷ đồng, tuy nhiên
hiện mới chỉ vay được gần 2 tỷ đồng, do đó gặp khó khăn trong sản xuất.
Theo ông Hải, các trang trại phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao cần phải đầu
tư thâm canh, số tiền đầu tư cho 1 ha bình quân khoảng 500 triệu đồng. Trong khi đó,
hơn 20 năm nay, diện tích đất trang trại chỉ được ký hợp đồng 5 năm 1 lần, chính vì
vậy xây dựng được phương án vay vốn lớn là rất khó khăn.
Do mô hình trang trại mới được hình thành, phát triển trong mấy năm gần đây,
nên nhìn chung số sản phẩm hàng hoá hàng năm còn thấp, giá trị hàng hoá hàng năm
mới đạt từ 45 triệu đến 226,7 triệu đồng/trang trại. Cụ thể đối với từng loại trang trại
như sau: TT trồng cây hàng năm, đạt giá trị hàng hoá - dịch vụ 3.485,8 triệu đồng
(trung bình 99,6 triệu đồng/TT); TT trồng cây lâu năm 2.515 triệu đồng (125,8 triệu
đồng/TT); TT chăn nuôi 44.505 triệu đồng (309,1 triệu đồng/TT); TT Nuôi trồng
thuỷ sản 39.921,5 triệu đồng (221,8 triệu đồng/TT); TT Lâm nghiệp là 40 triệu đồng

dụng đất, tương đương với khoảng 30/3.207 trang trại. Do vậy, hầu như các trang trại
chưa thực sự yên tâm trong việc đầu tư mở rộng sản xuất.
Anh Nguyễn Văn Thanh, Chủ nhiệm HTX chăn nuôi Vạn Thái (Ứng Hòa) cho
biết, gia đình anh làm kinh tế trang trại từ năm 2001 nhưng thời hạn Nhà nước cho

Trích đoạn Xúc tiến thương mại, thông tin tuyên truyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status