tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020 - Pdf 11


Trang 1 / 16

Tiểu luận

Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách đầu tư
phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020

Trang 2 / 16 Phần mở đầu


khác nhìeu nơi sử dụng rừng đặc dụng chưa mang lại hiệu quả .
Xuất phát từ thực tiễn đó,trong những năm gần đây chính phủ nước ta đã đề ra
nhiều chính sách nhằm giải quyết các vấn đề trên.
Để hiểu rõ hơn về các chính sách của chính phủ,tình hình và kết quả thực hiện các
chính sách,nhóm em tiến hành nghiên cứu đề tài: Tim hiểu việc thực hiện chính
sách:chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020.

Trang 3 / 16
Kết quả nghiên cứu của đề tài hi vọng sẽ giúp được mọi người có cái nhìn tổng
quát hơn về tình hình va các chính sách cho rừng đặc dụng của nước ta.

2. Mục tiêu của chính sách

a. Mục tiêu chung:
Tăng tính chủ động của các Ban quản lý, gắn trách nhiệm của người sử dụng lợi
ích với việc đầu tư phát triển và bảo vệ rừng, giảm biên chế Nhà nước, huy động các
thành phần kinh tế đầu tư bảo vệ phát triển rừng và khuyến khích vai trò của cộng
đồng. Tăng diện tích rừng và hiệu quả sử dụng rừng đặc dụng nhằm phát triển môi
trường bền vững.
b. Mục tiêu cụ thể
Việc ban hành chính sách đầu tư, cơ chế phát triển rừng đặc dụng nhằm tăng
hiệu quả đầu tư. Đảm bảo việc giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý các cấp đối với
rừng đặc dụng, đồng thời tăng tính chủ động của Ban quản lý rừng đặc dụng trong
hoạt động quản lý, kinh doanh các dịch vụ trong rừng đặc dụng nhằm gia tăng nguồn
thu tại các khu rừng đặc dụng trên nguyên tắc bảo tồn kết hợp với phát triển.
Bên cạnh đó, huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư bảo vệ,
phát triển rừng đặc dụng. Hướng giảm dần biên chế nhà nước bảo vệ rừng đặc dụng,
tăng dần sử dụng cộng đồng địa phương để bảo vệ rừng đặc dụng.
Đồng thời, đầu tư phát triển rừng đặc dụng nhằm bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ
sinh thái rừng, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử,

gồm:
 Khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo.Khu vực có di
tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng.
d. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Văn bản chính sách về quyết định số 24/2012/QDD-TTg của thủ tướng chính
phủ:Về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Bài tiểu luận nghiên cứu vè chính sách và tình hình thực hiện
chính sách sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020.
Về thời gian: Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập năm 2011, số liệu về diện tích
,kết quả thực hiện trong giai đoạn 2010-2012, các kiến nghị đưa ra có thể áp dụng từ
năm 2011-2020. Trang 5 / 16 II.Nội Dung
1. Hệ thống các văn bản chính sách liên quan
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật ngân sách nhà nước năm 2002;
Căn cứ Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004;
Căn cứ Luật đầu tư năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ
về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng;
Căn cứ Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính

dụng sở hữu cổ phần chi phối, tối thiểu 51% vốn điều lệ của công ty cổ phần.
Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư, kinh doanh đối với rừng đặc dụng
sẽ được phân bổ 25% để thay thế vốn ngân sách cho phần kinh phí sự nghiệp, quản lý
rừng. 75% nguồn thu còn lại Ban quản lý rừng đặc dụng sử dụng để tăng lương cho
cán bộ, nhân viên, hỗ trợ hoạt động phát triển cộng đồng tại vùng đệm, đầu tư, hoạt
động kinh doanh du lịch sinh thái và trích lập các quỹ theo quy định.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và
Đầu tư lựa chọn một vườn quốc gia trực thuộc Bộ và một vườn quốc gia trực thuộc
địa phương để chỉ đạo thực hiện thí điểm, lập công ty cổ phần.
Quyết định cũng nêu rõ, kinh doanh dịch vụ và đầu tư trong rừng đặc dụng
được áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập doạnh nghiệp. Ngoài ra, các dự án đầu tư phát
triển rừng đặc dụng theo quy hoạch được duyệt được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo
quy định hiện hành của Nhà nước
C,Nguồn vốn đầu tư rừng đặc dụng
Ngân sách trung ương đầu tư cho các khu rừng đặc dụng do bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn quản lý
Ngân sách địa phương đầu tư cho các khu rừng đặc dụng do địa phương quản
lý.Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư có mục tiêu cho các vườn quốc gia của các địa
phương và rừng đặc dụng nằm ở huyện biên giới,hải đảo của các địa phương khó khăn
Nguồn vốn thu từ hoạt động dịch vụ,hoạt động liên doanh ,liên kết ,bộ phận
kinh doanh quản lý…và các dịch vụ khác của ban quản lý rừng đặc dụng, cho thuê
môi trường rừng, thu phí dịch vụ môi trường rừng và các dịch vụ khác của Ban quản
lý rừng đặc dụng.
Vốn huy động hợp pháp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư phát triển rừng đặc
dụng.
. Tổng vốn đầu tư và vốn sự nghiệp từ ngân sách nhà nước cho chính sách này
khoảng 5.500 tỷ trong đó vốn đầu tư là 50%.

Một số vấn đề xoay quanh


duyệt và quy định của Luật doanh nghiệp, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Quyết định
này và quy định hiện hành khác của Nhà nước.
a) Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Được lập các tuyến đường mòn chiều rộng tối
đa không quá 1,5 m, lều trú chân, cắm biển chỉ dẫn để tuần tra kết hợp phục vụ dịch
vụ du lịch sinh thái, không được làm thay đổi
cảnh quan tự nhiên của khu rừng.

Trang 8 / 16
b) Trong phân khu phục hồi sinh thái: Được mở các đường trục chính, xây dựng công
trình để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp phục vụ các hoạt động dịch vụ - du lịch.
Mức độ tác động của các công trình hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch sinh thái
tối đa là 20% tổng diện tích quy hoạch cho hoạt động dịch vụ - du lịch. Trong đó, diện
tích xây dựng các công trình phục vụ cho hoạt động dịch vụ - du lịch tối đa không quá
5%; diện tích xây dựng đường mòn, điểm dừng chân, bãi đỗ xe không quá 15%.
c) Trong phân khu dịch vụ hành chính, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu
khoa học diện tích tối đa để xây dựng các công trình phục vụ hoạt động dịch vụ - du
lịch không quá 20% tổng diện tích của phân khu dịch vụ hành chính hoặc khu bảo vệ
cảnh quan, khu rừng nghiên cứu khoa học.
Sử dụng nguồn thu từ hoạt động du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng
Toàn bộ lợi nhuận thu được gồm: Thu từ hoạt động dịch vụ, cho thuê môi trường
rừng, thu phí dịch vụ môi trường rừng (theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP), lợi nhuận
thu từ hoạt động liên doanh liên kết, phần lợi nhuận của Ban quản lý rừng đặc dụng
trong công ty cổ phần phát triển rừng đặc dụng (nếu có) và các nguồn thu hợp pháp
khác được sử dụng như sau:
1. Sử dụng 25% nguồn thu trên để thay thế vốn ngân sách cấp cho phần kinh phí sự
nghiệp, quản lý rừng quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Quyết định này. Nếu thay thế
hết phần vốn ngân sách cấp mà còn dư thì chuyển phần dư sang chi cho nội dung quy
định tại Khoản 2 Điều này.
2. Ban quản lý rừng đặc dụng được sử dụng 75% nguồn thu còn lại cho các mục tiêu
theo thứ tự ưu tiên như sau:

a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan cân đối, bảo đảm kinh phí sự nghiệp,
kinh phí quản lý rừng cho các Bộ, ngành và địa phương; khi giao kế hoạch chi ngân
sách hàng năm ghi rõ mục chi phát triển rừng đặc dụng trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định.
b) Hướng dẫn chi tiết nội dung chi và định mức chi quy định tại Điều 7 và Điều 8 của
Quyết định này.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
a) Trong vòng 2 năm kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban quản lý
rừng đặc dụng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn.
b) Bảo đảm đủ kinh phí đầu tư và sự nghiệp quản lý rừng theo quy định tại Điều 6,
Điều 7 và Điều 8 của Quyết định này cho Ban quản lý rừng đặcdụng thuộc địa phương
quản lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
c) Chỉ đạo Ban quản lý rừng đặc dụng lập, phê duyệt quy hoạch, dự án đầu tư theo
quy định.
d) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Quyết định này
tại địa phương. Quý I hàng năm có báo cáo thực hiện Quyết định này của năm trước
gửi về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài
chính để tổng hợp.
Quản lý đầu tư và giám sát đầu tư
1. Quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ bản theo quy định hiện hành của Nhà
nước. Ban quản lý rừng đặc dụng có trách nhiệm xây dựng, trình cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch các chương trình, dự

Trang 10 / 16
án nhằm đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng; chủ đầu tư đối với các công trình
bằng vốn ngân sách nhà nước trên diện tích rừng đặc dụng được giao.
2. Ban quản lý rừng đặc dụng chịu trách nhiệm toàn diện trước cơ quan có thẩm quyền
về việc sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm
hiệu quả.


Trang 11 / 16
Vườn quốc gia được công nhận là khu di sản thiên nhiên ở khu vực và thế giới như
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Cát Tiên, Cát Bà, nơi bảo tồn nhiều hệ sinh
thái với tính đa dạng sinh học cao, đã và đang là điểm đến hấp dẫn của du khách trong
và ngoài nước.
Đến đầu háng 9 năm 2012, Việt Nam đã quy hoạch 166 khu rừng đặc dụng trên toàn
quốc với tổng diện tích quy hoạch gần 2,3 triệu ha, trong đó hơn 1,95 triệu ha là diện
tích có rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên do nhà nước quản lý.Tuy nhiên, nhiều khu rừng
đặc dụng vẫn bị đe dọa do tình trạng thác gỗ trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng
đất một phần diện tích…
Kết quả bước đầu thực hiện chính sách:
Hiện nay chúng ta đã thiết lập được hệ thống các khu rừng đặc dụng chung cho
toàn quốc, xây dựng các tiêu chí để thành các rừng đặc dụng (Vườn quốc gia, khu bảo
tồn,…), các khu rừng đặc dụng được thành lập trải dài trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam,
hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng có các loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm
đã được bảo tồn và nằm trong rừng đặc dụng.
Hệ thống các khu rừng đặc dụng đã trở thành những nơi để nghiên cứu khoa học,
thực tập, tham quan du lịch, nghỉ dưỡng, bảo vệ nguồn nước, bảo tồn những văn hóa,
kiến thực bản địa, bảo tồn đa dạng sinh học .
Các khu rừng đặc dụng đã phát huy tốt vai trò bảo vệ đa dạng sinh học, có tác động
tích cực đối với các ngành kinh tế như nông nghiệp, du lịch, thủy điện, công nghiệp,
phát triển kinh tế, xã hội ở cấp quốc gia và địa phương ngày càng được khẳng định.
Các khu rừng đặc dụng được phê duyệt quy hoạch bảo tồn đều dành diện tích cho
phát triển du lịch sinh thái, riêng 6 Vườn quốc gia thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (gồm
Bạch Mã, Cúc Phương, Ba Vì, Tam Đảo, Yokdon, Cát Tiên) đã được Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt quy hoạch với tổng diện tích là
288.791,65 ha, trong đó quy hoạch cho phát triển du lịch sinh thái với diện tích trên
14.000 ha, chiếm 5% tổng diện tích tự nhiên của 6 Vườn quốc gia. Hệ thống các khu
rừng đặc dụng đã trở thành những nơi để nghiên cứu khoa học, thực tập, tham quan du

Theo Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về
tổ chức và quản lý rừng đặc dụng thì Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tổ chức
lập quy hoạch các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh và UBND tỉnh phê duyệt quy
hoạch các khu rừng đặc dụng đó hoặc có quyền điều chỉnh, chuyển mục đích sử dụng
rừng đặc dụng đó. Đứng trên quan điểm bảo tồn và phát triển: Sở Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn sẽ lập quy hoạch cho các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh là rất
khó, bởi lập quy hoạch cho rừng đặc dụng cần phải có kiến thức sâu về bảo tồn, nó
khác với quy hoạch sử dụng đất. Việc UBND tỉnh được phê duyệt, điều chỉnh, chuyển

Trang 13 / 16
mục đích sử dụng rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh ảnh hưởng không nhỏ đến quy
hoạch rừng đặc dụng của cả nước bởi quan điểm bảo tồn chưa được chú trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế của địa phương. Không tạo ra hành lang đa dạng sinh học
đối với những vùng giáp ranh.
Hiện nay quan điểm về bảo tồn còn nhiều bất cập: Bảo tồn không có nghĩa là bảo vệ
và duy trì tự nhiên của loài, quan điểm này bị bó hẹp, sớm muộn loài sẽ bị tuyệt
chủng; cần phải có cái nhìn tích cực hơn: Bảo tồn bao gồm bảo vệ, sử dụng hợp lý và
sử dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp ví dụ như Pơ mu tái sinh chỉ gặp ở nơi có độ tàn
che phù hợp – có ánh sáng (cần phải xúc tiến tái sinh).
Kinh phí phục vụ cho rừng đặc dụng rất thấp, ngân sách có thể rót trực tiếp từ Trung
ương hoặc tỉnh nhưng kinh phí này chỉ đủ cho chi phí hoạt động bộ máy ban quản lý
hoặc nếu có đầu tư chủ yếu cho xây dựng cơ bản, còn kinh phí dành cho bảo tồn rất ít
và chưa được chú ý. Phần lớn các nguồn ngân sách này được cấp theo kế hoạch hàng
năm và dựa trên cân đối giữa ngân sách Trung ương và tỉnh, do đó nguồn tài chính
này không ổn định ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý bảo tồn rừng đặc dụng.
Một số Vườn quốc gia trực thuộc Bộ thì ngoài ngân sách Trung ương còn được tiếp
cận rất dễ các nguồn kinh phí từ các tổ chức quốc tế đầu tư; còn Vườn quốc gia, khu
bảo tồn thuộc tỉnh phụ thuộc lớn vào tiềm năng kinh tế của tỉnh, nguồn kinh phí được
tiếp cận từ các tổ chức quốc tế rất hạn chế, phụ thuộc vào cơ chế quản lý hành chính
của tỉnh. Do đó trong hệ thống quản lý rừng đặc dụng bị mất cân đối, có những rừng

nước thống nhất trong hệ thống quản lý rừng đặc dụng.
(2) Cần phải có một cơ chế, chính sách quản lý rõ ràng đối với các Vườn
quốc gia, nên tập trung vào một đơn vị quản lý trực tiếp đó là Tổng cục lâm nghiệp.
Tổng cục sẽ chỉ đạo việc lập quy hoạch các khu rừng đặc dụng trên cả nước và trình
Bộ NN & PTNT phê duyệt. Việc chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng phải được
Thủ tướng quyết định, Tổng cục sẽ điều tiết và phân bổ các nguồn vốn cho các Vườn
quốc gia. Thực tế cho thấy những Vườn quốc gia trực thuộc tỉnh quản lý thì những
nguồn vốn từ ngân sách tỉnh, nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế tiếp cận rất ít, quan hệ
với các tổ chức này cũng bị hạn chế; Còn lại nên để các khu bảo tồn thuộc Sở
NN&PTNT quản lý.
(3) Kinh phí đầu tư cho rừng đặc dụng cần được nâng lên và duy trì, nhất

Trang 15 / 16
là những nơi mà ban quản lý rừng đặc dụng chưa có nguồn thu và chưa có điều kiện
để phát triển du lịch. Kinh phí đầu tư không những cho cơ sở hạ tầng mà còn đầu tư
cho công tác bảo tồn, nghiên cứu khoa học,…Tăng cường quan hệ với các tổ chức
quốc tế, thu hút đầu tư dự án, nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vào công
tác bảo tồn. Hiện nay các khu bảo tồn của Việt Nam ít được chú trọng và quan tâm
(chủ yếu dành cho các Vườn quốc gia), diện tích rừng các khu này bị xâm hại nghiệm
trọng, vốn đầu tư ít,…do đó nếu không thay đổi cách nhìn nhận và quản lý kịp thời thì
trong thời gian tới khó có khu bảo tồn nào có thể chuyển hạng thành Vườn quốc gia.
(4) Nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn cho các cán bộ làm công
tác bảo tồn, những cán bộ làm công tác bảo tồn cần phải khuyến khích và nên có cơ
chế chính sách ưu tiên.
(5) Cần phải thay đổi quan điểm về bảo tồn theo hướng mở nghĩa là bảo tồn bao gồm:
Bảo vệ, sử dụng hợp lý và sử dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp. Trong phân khu bảo
vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, Khu bảo tồn loài và sinh
cảnh cần phải thay đổi có thể vẫn cho phép khai thác, sử dụng một số loài không phải
là đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm và sử dụng biện pháp lâm sinh phù hợp cho sự phát
triển của rừng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status