Tiểu luận chính sách nông nghiệp
Phát triển chăn nuôi trang trại là nhu cầu khách quan, là con đường tất yếu để nâng
cao năng suất, chất lượng và tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, đảm bảo VSATTP,
nâng cao khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập. Trong khi đó phương thức chăn
nuôi nhỏ lẻ, phân tán như hiện nay không đáp ứng được những yêu cầu trên.
Chăn nuôi trang trại tập trung là một trong những giải pháp nhằm kiểm soát được
dịch bệnh, nhất là trong bối cảnh dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng đang diễn biến
phức tạp ở nước ta.
Chăn nuôi trang trại có quy hoạch góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhất
là tại khu vực nông thôn ở đồng bằng.
Ở Thanh Hóa, mấy năm gần đây, tốc độ đô thị hóa nhanh khiến việc phát triển
kinh tế nông nghiệp, nhất là chăn nuôi gia súc ở thành phố không còn phù hợp với xu thế
phát triển đô thị. TP Thanh Hóa đã thực hiện các chủ trương giảm dần số lượng các gia
trại đang được nuôi trong khu dân cư. định hướng của thành phố là chỉ khuyến khích các
địa phương thuộc vùng ngoại thành vừa được sáp nhập phát triển kinh tế trang trại theo
hướng tập trung, quy mô lớn, áp dụng các công nghệ cao, hiện đại vào chăn nuôi chứ
không cho phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại nhỏ lẻ vì sẽ ảnh hưởng đến
quy hoạch phát triển thành phố sau này.
Trong năm 2008, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phải chi ra 21 tỷ đồng để hỗ trợ cho
số gia đình có trâu, bò chết do bị rét đậm, rét hại kéo dài hồi đầu năm đó. Cụ thể các
huyện miền núi đã có trên 11.000 con trâu, bò chết do rét. Còn đợt rét đầu năm 2011 này
số lượng trâu, bò chết trên địa bàn toàn tỉnh cũng lên đến gần hai ngàn con. Có một điểm
chung là phần lớn gia súc chết vì bệnh, vì rét đều tập trung ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.
Nhận thấy sản xuất theo quy mô nhỏ lẻ, không tập trung không mang lại hiệu quả
cao mà lại ảnh hưởng tới quy hoạch tổng thể của tỉnh sau này, diễn biến tình hình dịch
bệnh trong chăn nuôi nên UBND tỉnh đã ban hành quyết định số 3978/2009/QĐ-UBND
ngày 10-11-2009 về việc điều chỉnh, bổ sung chính sách khuyến khích phát triển trang
trại chăn nuôi tập trung giai đoạn 2010-2012.
Để hiểu rõ hơn về chính sách này cũng như tình hình triển khai thực hiện chính
sách nhóm chúng tôi đã lụa chọn tên đề tài: “Tìm hiểu về tình hình thực hiện chính sách
khuyến khích phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung tại Thanh Hóa”
thức ăn , chuồng trại , quy trình kỹ thuật chăm sóc . Phần lớn các giống gia súc , gia cầm
trên thế giới được nhập vào nước ta với các chỉ tiêu kỹ thuật ngang bằng với các nước
trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới. Loại hình kinh tế chăn nuôi trang trại
đã góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả diện tích đất hoang hóa ( đất đồi , đất gò
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
cát , đất ven sông , đất ven biển và diện tích mặt nước ) nâng cao năng suất , chất lượng ,
tạo ra những vùng sản xuất tập trung cung cấp một nguồn thực phẩm khổng lồ , đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm , thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng , vật nuôi tạo
điều kiện cho công nghiệp chế biến phát triển , tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
người dân n. Chỉ tiêu định lượng để xác định là kinh tế trang trại
Mỗi hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định
là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:
1. Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung: 40 triệu đồng trở lên.
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên: từ 50 triệu đồng trở lên.
2. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội do với kinh tế nông hộ
tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.ông thôn , góp phần hình thành một
phương thức sản xuất mới.
Đối với trang trại chăn nuôi
+ Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò …
Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên.
Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
+ Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, …
Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu
từ 100 con trở lên.
Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê
thịt từ 200 con trở lên.
+ Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, …có thường xuyên từ 2.000 con
(không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
+ Đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 106/2004/NĐ-CP ngày
20/4/2004 về tín dụng đầu tư Nhà nước, trong đó cho ngành chăn nuôi quy mô trang trại,
ngành chế biến, giết mổ công nghiệp được vay vốn ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển để tạo
nguồn lực đầu tư.
+ Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ về quy định thi hành
một số điều của Luật Đầu tư.
+ Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 04/01/2005 về thu tiền thuế, mặt nước.
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
- Một số chính sách liên quan của tỉnh:
+ Quyết định 271/2011/QĐ-UBND ngày 21/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Thanh Hóa về việc ban hành cơ chế chính sách phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm trên
địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015.
+ Quyết định số 4101/2005/QĐ-UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh về cơ
chế, chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm giai đoạn 2006-
2010.
3-Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách
3.1 Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách
Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của các cấp Hội Nông dân, chuyển tải đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật Nhà nước, nhằm nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng, nâng cao ý
thức về chấp hành pháp luật, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa, hạn chế
những hành vi vi phạm pháp luật cho cán bộ, hội viên nông dân, tạo nên sự thống nhất và
hành động trong toàn hệ thống của hội từ tỉnh đến cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, giữ vững an ninh chính trị của địa phương.
Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách có ảnh hưởng rất lớn tới việc chấp
hành và thực thi chính sách của người dân. Vì vậy, nếu có chương trình tuyên truyền, phổ
biến chính sách đúng đắn tới người dân, đặc biệt là những đối tượng chính mà văn bản
chính sách hướng tới thì việc thực hiện chính sách sẽ mang lại hiệu quả cao.
Trong việc thực hiện chính sách "khuyến khích phát triển trang trại chăn nuôi tập
và chính quyền thành phố nhận thấy, hầu hết các địa phương đều nằm xa trung tâm, sản
xuất nông nghiệp là chính nên có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại và
việc phát triển kinh tế trang trại hiện tại không những phù hợp với hướng phát triển kinh
tế của các địa phương mà còn phù hợp với tập quán và trình độ sản xuất của người dân
các xã ngoại thành. Tuy nhiên, định hướng của thành phố là chỉ khuyến khích các địa
phương thuộc vùng ngoại thành vừa được sáp nhập phát triển kinh tế trang trại theo
hướng tập trung, quy mô lớn, áp dụng các công nghệ cao, hiện đại vào chăn nuôi chứ
không cho phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại nhỏ lẻ vì sẽ ảnh hưởng đến
quy hoạch phát triển thành phố sau này.
Trên cơ sở định hướng đó, TP Thanh Hóa đã thực hiện các chủ trương giảm dần số
lượng các gia trại đang được nuôi trong khu dân cư, cương quyết không cho phát triển
thêm trang trại trong nội thành. Đối với các trang trại có quy mô lớn đã và đang hoạt
động trong nội thành thì không mở rộng quy mô mà thực hiện việc đầu tư có chiều sâu
theo hướng nâng cấp, đầu tư trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao, sản phẩm làm ra phải
sạch, bảo đảm vệ sinh môi trường; đồng thời, chỉ cho phát triển các trang trại có quy mô
lớn theo hướng đầu tư có chiều sâu ở các xã ngoại thành mới được sáp nhập.
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
Đối với các huyện khác của tỉnh thì kế hoạch thực hiện chính sách vẫn được thực
hiện theo chủ trương, chính sách của tỉnh ngay từ ban đầu.
3.3-Phân cấp trong triển khai chính sách
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
+ Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn của liên ngành:
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tài chính về thực hiện nội dung chính sách nêu
trên. Yêu cầu nội dung hướng dẫn phải đúng qui định pháp luật, dễ thực hiện, dễ kiểm
tra, rõ về trình tự, thủ tục cấp phát, thanh quyết toán nguồn kinh phí hỗ trợ; tránh gây
phiền hà cho đối tượng được hỗ trợ .
+ Hàng năm, trên cơ sở đề nghị của các huyện, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu
tư, Sở tài chính trình Chủ tịch UBND tỉnh giao kế hoạch số lượng trang trại và kinh phí
hỗ trợ cho từng huyện.
năm.
+ Nguồn nhân lực quản lý:
• Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
• Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư
• UBND các huyện, thị xã, thành phố.
+ Huy động sự tham gia của người dân trong công tác xây dựng kế hoạch triển
khai và tuyên truyền, phổ biến chính sách.
+ Quy hoạch các vùng đất chưa sử dụng có diện tích rộng phù hợp với chăn nuôi
gia súc, gia cầm để giao cho người dân sử dụng khi có nhu cầu mở rộng kinh tế trang trại
chăn nuôi tập trung theo quy định.
3.5-Nội dung triển khai chính sách
Ngoài những nội dung trong Quyết định số 4101/2005/QĐ-UBND ngày
30/12/2005 của UBND tỉnh về cơ chế, chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển chăn
nuôi gia súc, gia cầm giai đoạn 2006-2010, bổ sung chính sách khuyến khích phát triển
trang trại chăn nuôi tập trung, với những nội dung như sau:
+ Đối với chăn nuôi trâu bò:
- Trang trại chăn nuôi trâu bò có qui mô 100 con trâu, bò trở lên được hỗ trợ đầu
tư hạ tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho chủ trang trại 100 triệu
đồng/trang trại đối với miền xuôi; 120 triệu đồng/trang trại đối với miền núi.
- Trang trại chăn nuôi trâu bò có qui mô 50 con trâu bò đến dưới 100 con được hỗ
trợ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho chủ trang trại 50 triệu
đồng/trang trại đối với miền xuôi; 60 triệu đồng/trang trại đối với miền núi.
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
+ Đối với trang trại chăn nuôi lợn ngoại:
- Trang trại chăn nuôi lợn ngoại có qui mô 100 nái ngoại sinh sản hoặc 750 lợn thịt
ngoại trở lên được hỗ trợ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho
chủ trang trại 200 triệu đồng/trang trại đối với miền xuôi; 250 triệu đồng/trang trại đối
với miền núi.
- Trang trại chăn nuôi lợn ngoại có qui mô 50 đến 100 nái ngoại sinh sản hoặc 350
Cũng như các chính sách khác việc xem xét các trang trại nằm trong diện hỗ trợ và
việc giải ngân cho các trang trại cũng gặp nhiều khó khăn.
4-Kết quả thực hiện chính sách
Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 46 cụm trang trại chăn nuôi tập trung; trong
đó, có 35 trang trại lợn với quy mô từ 200 đến trên 2.500 con (cả lợn nái và lợn thịt), 6
trang trại gà với quy mô từ 10.000 đến 31.000 con (cả gà sinh sản và gà thịt), 4 trang trại
bò có quy mô từ 230 đến trên 300 con và 1 trang trại hỗn hợp.
Để khuyến khích phát triển trang trại chăn nuôi tập trung, hiện nay tỉnh đang tiếp
tục thực hiện chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng mới trang trại
chăn nuôi gia súc, gia cầm phù hợp với quy hoạch theo các quyết định đã được ban
hành.
*Trang trại chăn nuôi bò:
Theo đó, trong giai đoạn 2012 - 2015, những trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung
đã hoàn thành đầu tư xây dựng chuồng trại, được các ngành chức năng thẩm định, với
quy mô từ 2.000 bò sữa trở lên, sẽ được hỗ trợ 3 triệu đồng/con. Nội dung hỗ trợ các
trang trại gồm xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài tường rào trang trại (đường giao thông, cấp
thoát nước ) và giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã hỗ trợ trên 6,5 tỷ đồng
cho Công ty TNHH Lam Sơn - Sao Vàng đầu tư nhập về một số lượng bò giống gốc từ
Ôxtrâylia và Niu Dilân để lai tạo
Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, chăn nuôi bò sữa đang là hướng đi
đúng tại các huyện trung du và miền núi, bởi nó không những giải quyết được việc làm
cho nhiều lao động, mà còn chuyển những vùng đất kém hiệu quả thành nơi đem lại thu
nhập cao cho người dân.
Hiện tại, đàn bò sữa của Thanh Hóa đạt trên 1.300 con, sản lượng sữa đạt 13.000
lít/ngày. Từ nay đến năm 2015, tỉnh Thanh Hóa sẽ đầu tư gần 1.100 tỷ đồng để phát triển
đàn bò sữa lên gần 20.000 con, trong đó có 15.000 con bò cái sinh sản. Sản lượng sữa
ước đạt 63.000 tấn/năm. Tỉnh sẽ xây dựng một trung tâm chăn nuôi bò sữa có quy mô
trên 10.000 con tại huyện Yên Định và 5 trang trại có quy mô 2.000 con tại các huyện
Như Thanh, Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Hà Trung và Thạch Thành.
Đến cuối năm 2010, toàn tỉnh đã phát triển được 1.229 trang trại chăn nuôi
hình thức thoả thuận giữa hai bên, chưa thực sự tạo sự ổn định về giải quyết việc làm.
Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng.
+ Vốn vay của các tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Nhiều địa phương có
kinh tế trang trại chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất, hệ thống thuỷ lợi, điện, thị
trường… làm cho không ít trang trại gặp khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm. Đã có nhiều trường hợp người dân nuôi bò sữa phải đổ bỏ hàng trăm tấn sữa
tươi do không tiêu thụ được. Khó khăn lớn nhất, đó là người chăn nuôi thiếu vốn sản
xuất. Do hầu hết đất của các trang trại là đất đấu thầu, hoặc đất chuyển đổi từ ruộng trũng
nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì thế, các chủ trang trại không
thể thế chấp để vay vốn ngân hàng, phục vụ sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
Anh Nguyễn Văn Tọa, chủ một trang trại lợn có quy mô 122 con nái ngoại, 1.000
con lợn thịt, ở xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa, cho biết: “Làm trang trại cần vốn đầu
tư lớn, rủi ro trong quá trình sản xuất cao, do đó các ngân hàng có tâm lý “ngại” cho các
chủ trang trại như chúng tôi vay vốn. Bởi thiếu vốn nên trang trại khó mở rộng quy mô
sản xuất và chuyển dịch cơ cấu vật nuôi”.
Ông Võ Sinh Huy, Trưởng phòng chăn nuôi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, cho biết thêm: Thiếu vốn là một trong những nguyên nhân làm hạn chế việc mở
rộng quy mô hoặc đầu tư chiều sâu cho trang trại, từ việc nâng cấp hệ thống chuồng trại
chăn nuôi, cải tạo ao nuôi trồng thủy sản, kênh mương dẫn nước, đến việc đưa giống cây
trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất Bên cạnh đó, do phần lớn các trang
trại của tỉnh được hình thành và phát triển từ kinh tế hộ, nên trình độ quản lý kinh tế, kiến
thức sản xuất của chủ trang trại còn hạn chế, chưa chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Không những
thế, phát triển kinh tế trang trại trong tỉnh còn thiếu sự liên kết của “bốn nhà” (nhà nông,
nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, Nhà nước), dẫn đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
chăn nuôi còn yếu; tư tưởng “mạnh ai nấy làm” khá phổ biến, do vậy chất lượng sản
phẩm không cao, chưa có thương hiệu, người chăn nuôi thường xuyên bị ép giá.
+ Nhiều chủ trang trại vẫn áp dụng phương pháp sản xuất truyền thống, chưa chú
sách hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển kinh tế trang trại về vốn, thực hiện miễn thuế
thu nhập với các trang trại mà Nhà nước khuyến khích đầu tư và khai thác phù hợp với
tình hình mới. Tạo điều kiện để các trang trại tích cực tham gia vào loại hình bảo hiểm
nông nghiệp để góp phần giảm thiểu rủi ro do thiên tai, dịch bệnh gây ra, sớm khôi phục
sản xuất. Đồng thời, tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra đối với kinh tế trang trại, đảm
bảo các chủ trang trại thực hiện đầy đủ công tác bảo vệ môi trường, tạo ra những sản
phẩm nông nghiệp sạch, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, có giá trị kinh tế cao
để nâng cao sức cạnh tranh cả ở trong và ngoài nước
+ Để giải quyết khó khăn về vốn, các ngân hàng thương mại cần điều chỉnh, bổ
sung, cải tiến thủ tục cho các chủ trang trại vay vốn trung và dài hạn để phát triển sản
xuất, mở rộng quy mô trang trại. Về phía các chủ trang trại, cần liên kết theo hình thức
hiệp hội, tổ hợp sản xuất nhằm hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật nuôi và tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với đó, chủ động tìm hiểu thông tin thị trường, tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật
vào sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm chăn
nuôi.
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HOÁ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 3978/2009/QĐ-UBND Thanh Hoá, ngày 10 tháng 11 năm 2009
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN TRANG
TRẠI CHĂN NUÔI TẬP TRUNG GIAI ĐOẠN 2010 - 2012
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Trang trại chăn nuôi trâu bò có qui mô 50 con trâu bò đến dưới 100 con được hỗ trợ đầu tư hạ
tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho chủ trang trại 50 triệu đồng/trang trại đối
với miền xuôi; 60 triệu đồng/trang trại đối với miền núi.
3.2. Đối với trang trại chăn nuôi lợn ngoại:
- Trang trại chăn nuôi lợn ngoại có qui mô 100 nái ngoại sinh sản hoặc 750 lợn thịt ngoại trở lên
được hỗ trợ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho chủ trang trại 200
triệu đồng/trang trại đối với miền xuôi; 250 triệu đồng/trang trại đối với miền núi.
- Trang trại chăn nuôi lợn ngoại có qui mô 50 đến 100 nái ngoại sinh sản hoặc 350 đến dưới 750
lợn thịt ngoại được hỗ trợ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho chủ
trang trại 100 triệu đồng/trang trại đối với miền xuôi; 120 triệu đồng/trang trại đối với miền núi.
3.3. Đối với trang trại chăn nuôi gà:
- Các trại thường xuyên có qui mô 20.000 gà nuôi thịt hoặc 10.000 gà nuôi sinh sản trở lên
(không tính gà dưới 7 ngày tuổi) được hỗ trợ tối đa 600 triệu đồng đối với miền xuôi, 700 triệu
đồng đối với miền núi để đầu tư cơ sở hạ tầng đường giao thông, điện, cấp thoát nước đến chân
Nhóm 16-NĐ303 Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung ở Thanh Hóa
Tiểu luận chính sách nông nghiệp
hàng rào trang trại. Đồng thời được hỗ trợ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, giải phóng mặt bằng
(trong hàng rào) trực tiếp cho chủ trang trại 100 triệu đồng/trang trại đối với miền xuôi; 120 triệu
đồng/trang trại đối với miền núi.
- Các trang trại có qui mô 10.000 đến dưới 20.000 gà thịt hoặc 4.000 đến dưới 10.000 gà sinh sản
(không tính gà dưới 7 ngày tuổi) được hỗ trợ đầu tư hạ tầng, thiết bị, giải phóng mặt bằng trực
tiếp cho chủ trang trại 100 triệu đồng/trang trại đối với miền xuôi; 120 triệu đồng/trang trại đối
với miền núi.
- Các trại có qui mô 5.000 đến dưới 10.000 gà thịt hoặc 2.500 đến dưới 4.000 gà sinh sản (không
tính gà dưới 7 ngày tuổi) được hỗ trợ đầu tư hạ tầng, thiết bị, giải phóng mặt bằng trực tiếp cho
chủ trang trại 50 triệu đồng/trang trại đối với miền xuôi; 60 triệu đồng/trang trại đối với miền
núi.
- Trang trại chăn nuôi vịt có qui mô như qui mô của trang trại chăn nuôi gà được hỗ trợ theo mức
bằng 50% mức hỗ trợ cho trang trại chăn nuôi gà.
3.4. Trang trại chăn nuôi hỗn hợp: Trang trại chăn nuôi hỗn hợp, có từ 2 loại gia súc, gia cầm trở
Tham mưu cho UBND tỉnh bố trí kinh phí có mục tiêu cho các huyện để triển khai thực hiện
chính sách; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành văn bản hướng dẫn
của liên ngành về thực hiện nội dung chính sách nêu trên.
- UBND các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm:
+ Phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc các xã lựa chọn những địa điểm, những hộ có đủ tiêu chuẩn và
điều kiện đăng ký đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Sau khi trang
trại được đầu tư, căn cứ thực tế về qui mô, tình hình tổ chức chăn nuôi của trang trại, các qui
định tại Quyết định này và hướng dẫn của liên ngành để tiến hành xem xét, quyết định mức hỗ
trợ kinh phí cho từng trang trại; nghiệm thu, hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục cấp phát, thanh quyết toán
theo qui định hiện hành của nhà nước và hướng dẫn của liên ngành. Chủ tịch UBND huyện chịu
trách nhiệm toàn diện trước Chủ tịch UBND tỉnh và pháp luật trong việc quyết định mức hỗ trợ
kinh phí cho các trang trại trên địa bàn quản lý.
+ Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển chăn nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá
nhân được giao đất, thuê đất đầu tư các khu trang trại chăn nuôi tập trung. Ngoài chính sách hỗ
trợ của tỉnh, căn cứ vào điều kiện cụ thể của huyện để đề xuất HĐND huyện ban hành chính sách
hỗ trợ phát triển trang trại chăn nuôi tập trung của huyện.
+ Đôn đốc, kiểm tra và tạo điều kiện thuận lợi để các ngành có liên quan kiểm tra, giám sát việc
thực hiện chính sách trên địa bàn huyện; định kỳ hàng quí báo cáo kết quả thực hiện chính sách
về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp
báo cáo UBND tỉnh.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Các ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các sở: Nông nghiệp và PTNT, Kế hoạch và
Đầu tư, Tài chính, Tài nguyờn và Mụi trường; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và
Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 2;
- Bộ Tư pháp (để báo cáo);
- Bộ Nông nghiệp và PTNT (để báo cáo);
- TT Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh (để báo cáo);
- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;