Thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt tại địa bàn xã minh phú, sóc sơn, hà nội - Pdf 31

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
UBND Thành phố vừa phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi đến
năm 2020, định hướng 2030. Quy hoạch thể hiện phát triển chăn nuôi sẽ tập
trung vào phát triển đàn lợn, bò thịt chất lượng cao, bò sữa và gia cầm theo
hướng tăng dần sản lượng con giống; từng bước đưa sản xuất con giống là sản
phẩm chủ lực của ngành chăn nuôi, đem lại giá trị gia tăng cao cho ngành [9].
Thành phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất
ngành chăn nuôi giai đoạn 2012 – 2020 đạt khoảng 1,6%/ năm, giai đoạn
2021 – 2030 đạt 1,4%/ năm. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong
toàn ngành nông nghiệp chiếm khoảng 54% (năm 2020) và 58% (năm 2030).
Ngay trong nội bộ ngành, giá trị sản xuất nhóm chăn nuôi gia súc vẫn chiếm
tỷ trọng lớn nhất nhưng giảm dần (61% vào năm 2020 và 50% vào năm
2030). Nhóm ngành chăn nuôi gia cầm có tỷ trọng tăng dần (20% năm 2020
lên 25% năm 2030). Cơ cấu nhóm sản phẩm không qua giết thịt có mức tăng
tỷ trọng lớn nhất (từ 18% năm 2020 đến 24% vào năm 2030) [9].
Sản xuất chăn nuôi được quy hoạch theo 3 tiểu vùng: Vùng gò đồi (Mỹ
Đức, Chương Mỹ, Sóc Sơn, Sơn Tây, Quốc Oai) định hướng phát triển tập
trung các sản phẩm chăn nuôi chủ lực là bò thịt, bò sữa, lợn thịt, các loại con
nuôi đặc sản. Vùng đồng bằng đối với vùng vàn cao (Chương Mỹ, Gia Lâm,
Quốc Oai, Mê Linh, Thanh Oai, Đông Anh) tập trung phát triển chăn nuôi gà,
lợn; các vùng thấp trũng ( Ứng Hòa, Phú Xuyên, một phần Mỹ Đức) tập trung
nuôi thủy cầm theo hướng trang trại chăn nuôi kết hợp với thủy sản. Vùng bãi
ven sông (sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống, sông Đà, sông Tích) phát triển
chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại gắn với việc bảo vệ vành đai xanh
của Hà Nội, các loại con nuôi chủ yếu là bò thịt, bò sữa, lợn, gà [9].

1


Sóc Sơn là một trong ba tiểu vùng ( vùng gò đồi ) được thành phố định

- Đánh giá tình hình phát triển chăn nuôi lợn thịt của các nông hộ
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi lợn thịt ở xã
Minh Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đánh giá những cơ hội lớn và các thách thức cơ bản của chăn nuôi lợn
thịt ở địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần khắc phục những khó khăn và phát
huy những lợi thế của vùng nhằm phát triển chăn nuôi lợn thịt đạt hiệu quả tốt
hơn trên địa bàn xã trong thời gian tới.

3


PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Vai trò và vị trí của chăn nuôi lợn [5],[6]
Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp,
chiếm tỷ lệ khá lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân và kinh tế hộ gia đình.
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là một ngành tạo ra nguồn
thực phẩm tươi sống, chế biến, đóng hộp và các chế phẩm phụ khác cho đời
sống nhân dân và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Nói chung chăn nuôi
lợn có một số vai trò nổi bật như sau:
- Cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người.
- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Hiện nay thịt lợn là
nguyên liệu chính cho các công nghiệp chế biến thịt xông khói, thịt hộp, thịt
lợn xay, các món ăn truyền thống cuả người Việt Nam như giò nạc, giò mỡ…
- Cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn
phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì của đất, đặc biệt là đất nông
nghiệp.

trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Giá cả đầu vào, đầu ra luôn biến động
do cạnh tranh và cung cầu thị trường. Muốn phát triển ngành nghề nuôi lợn
cần phát triển đồng bộ hệ thống thu mua, bảo quản, chế biến xuất khẩu…
- Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế, đòi hỏi những nhà chăn nuôi
cần có sự lựa chọn các giống lợn thích hợp, những giống lợn có tỷ lệ nạc cao,
khả năng tăng trọng nhanh, trọng lượng xuất chuồng lớn, tiêu tốn thức ăn trên
1kg tăng trọng thấp là những giống lợn đang được ưa chuộng hiện nay.

5


1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn [8]
1.1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Lợn là loại động vật có lớp da hầu như không có tuyến mồ hôi, dưới da
lại có lớp mỡ dày. Nhiệt độ ảnh hưởng lớn sức tăng trọng của lợn, người ta
cho biết khi nhiệt độ tăng lên thì tăng trọng giảm đi 1/3 khi hệ số tiêu tốn thức
ăn không thay đổi. Ẩm độ cũng ngăn cản sự thoát hơi từ hệ thống hô hấp của
lợn, như vậy càng tăng thêm nhiệt trung tâm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển của lợn và làm cho hiệu quả chăn nuôi bị giảm sút.
1.1.3.2. Về kỹ thuật chăn nuôi
 Giống [8]
Hiện nay cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, đã tạo ra các giống lợn
mới như: Lợn lai kinh tế F1(kết quả giữa lợn đực Landras, Yookshire ngoại
lai với lợn nái Móng cái của Việt Nam), lợn lai F2 có tỷ lệ máu ngoại cao (kết
quả lai giữa F1 với đực ngoại), lợn ngoại thuần. Đây là những giống lợn có tỷ
lệ nạc tương đối cao, từ 50- 60% thịt thân xẻ.
Theo đánh giá của hộ nông dân thì yếu tố quan trọng đầu tiên trong
chăn nuôi lợn là con giống tốt. Con giống tốt sẽ hữa hẹn cho sản lượng thịt
cao, ít bệnh tật, chất lượng thịt ngon, hay ăn chóng lớn…Tuy nhiên, do hạn
chế về nguồn lực (vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm…) mà mỗi hộ quyết

1.1.3.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội
 Thị trường
Đối với người sản xuất thì vấn đề thị trường đầu ra cũng là vấn đề có ý
nghĩa quyết định. Sản phẩm của chăn nuôi lợn thuộc loại tươi sống, bởi vậy
nó không có khả năng dự trữ lâu dài nếu không qua chế biến. Mặt khác, do
chu kỳ chăn nuôi rất ngắn nên không xuất chuồng đúng kỳ hạn sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi (tăng chi phí, giảm chất lượng
thịt…). Bởi vậy, thị trường là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến
hiệu quả, tốc độ tính bền vững trong phát triển chăn nuôi. Sự ổn định về thị

7


trường tiêu thụ là động lực giúp cho ngành chăn nuôi lợn phát triển, đặc biệt
đối với hộ chăn nuôi hàng hoá quy mô lớn thì điều này càng quan trọng.
 Vốn cho chăn nuôi lợn
Dù sản xuất kinh doanh bất kỳ một hàng nào thì vốn đầu tư ban đầu
cũng quan trọng. Trong chăn nuôi lợn, nếu chỉ nuôi theo phướng thức truyền
thống, tận dụng từ 3 - 4 con thì vốn đầu tư ban đầu không phải là yếu tố ảnh
hưởng lớn đến tình hình phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, khi chăn nuôi ngày
càng phát triển, đặc biệt đối với hộ chăn nuôi hàng hoá, tập trung quy mô lớn
thì vốn lại là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với công việc chăn
nuôi hay phát triển đàn lợn. Nhu cầu về vốn cho chăn nuôi lợn bao gồm: vốn
để xây dựng chuồng trại, mua con giống tốt, mua thức ăn và các trang thiết bị
cần thiết cho chăn nuôi lợn.
 Lao động
Bất cứ một hoạt động sản xuất cũng cần đến lao động, và chăn nuôi lợn
cũng vậy. Lao động càng có kiến thức về chăn nuôi thì việc chăm sóc cho đàn
lợn càng tốt và mang lại hiệu quả càng cao. Chính vì vậy mà lao động có trình
độ là cần thiết trong chăn nuôi.

thuận lợi cho nghề nuôi lợn [4].
Hiện mỗi năm nước ta xuất chuồng khoảng 25 triệu con lợn. Tham gia
vào hệ thống sản xuất lợn thịt gồm các trang trại nhà nước, tư nhân và trang
trại thuộc các doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu
cung cấp con giống. Các công ty nước ngoài hoạt động chăn nuôi lợn tại Việt
Nam dưới hình thức gia công (CGF Pig), liên kết sản xuất với bà con nông
dân (cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y, có nhân viên giám sát kỹ thuật
và quản lý), bao tiêu sản phẩm. Lợn xuất chuồng, công ty bán ra thị trường, tự
hạch toán lỗ lãi và dựa vào năng suất chăn nuôi của từng chuồng trại để trả
công cho người nuôi gia công. Việt Nam hiện có hai công ty lớn đang hoạt
động trong lĩnh vực chăn nuôi gia công là Charoen Pokphand (Thái Lan) và
Japfa Comfeed (Inđônêxia) [13].

9


Một trong những thành phần đang dần chiếm giữ vị thế quan trọng
trong ngành chăn nuôi lợn là các trang trại tư nhân. Nếu 10 năm trước, nước
ta chưa có trang trại tư nhân quy mô vài trăm con, thì hiện đã có hàng trăm
trang trại với quy mô 50 con lợn nái và 500 đầu lợn thương phẩm trở lên.
Trong 10 năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam có tốc độ tăng
trưởng vượt bậc, sản lượng lợn thương phẩm tăng cao, tỷ trọng thịt siêu nạc
ngày càng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Chăn nuôi lợn đang
chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá [13].
Theo số liệu thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước có khoảng 3.500 trại
chăn nuôi lợn nái ngoại từ 20 con trở lên. Trong đó có 1.127 trang trại với quy
mô hơn 100 nái, chiếm tỷ lệ 23,66%; 501 trang trại có quy mô 51-100 nái,
chiếm 10,52%; số còn lại là các trang trại có quy mô từ 21-50 con và dưới 20
con, chiếm hơn 65%. Do điều kiện đất đai, khí hậu và khả năng đầu tư, nên sự
phân bố các trang trại chăn nuôi tại tám vùng sinh thái cũng khác nhau cả về

nhiều khu chăn nuôi lợn tập trung ngoài khu dân cư đang phát triển ổn định,
có hiệu quả như khu chăn nuôi xã Tân Ước huyện Thanh Oai có 12 hộ với
diện tích 27ha; khu chăn nuôi tập trung tại Ứng Hòa có 9hộ/32ha; khu chăn
nuôi tập trung xã Cấn Hữu huyện Quốc Oai có 11hộ/34ha ...[9].
Có thể khẳng định, Chương trình phát triển chăn nuôi tại các xã, vùng
chăn nuôi trọng điểm trong giai đoạn vừa qua của Hà Nội đã đạt được những
kết quả quan trọng, đặt nền móng cho sự củng cố và phát triển của chương
trình trong các năm tiếp theo. Số lượng đàn gia súc, gia cầm tại các xã, vùng
trọng điểm có sự chuyển biến rõ rệt cả về số lượng và chất lượng, đời sống
các hộ nông dân được nâng cao.
1.2.2. Những thuận lợi và khó khăn đối với chăn nuôi lợn ở Việt Nam [7]
1.2.2.1. Thuận lợi
Chăn nuôi lợn phát triển mạnh ở tất cả các vùng trong cả nước ta là do
có những điều kiện thuận lợi thúc đẩy như:

11


- Nguồn lao động trong nông thôn dồi dào, đây có thể coi là như một
nhân tố thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn.
- Nhiều hộ rất có kinh nghiệm trong chăn nuôi. Thức ăn cho lợn có thể
tận dụng sản phẩm từ trồng trọt.
- Nhu cầu về thịt lợn sẽ ngày càng tăng lên khuyến khích người dân
phát triển chăn nuôi lợn.
- Đã xuất hiện nhiều nhà máy chế biến sản phẩm từ thịt lợn, nhà máy
này trực tiếp thu mua lợn từ hộ chăn nuôi, giúp hộ chăn nuôi trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm và giá cả cạnh tranh.
- Hiện nay nước ta có rất nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi,
sản phẩm thức ăn chăn nuôi này có thể giúp người chăn nuôi tiết kiệm thời
gian nuôi, vốn đầu tư cho chăn nuôi thu hồi nhanh do chăn nuôi bằng thức ăn

rộng cơ sở giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia
cầm tập trung, công nghiệp.
- Quyết định Số: 719/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2008 về chính sách
hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm.
- Quyết định số: 166/2001/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về một số
biện pháp phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2010. Trong
quyết định quy định 12 điều về quy mô, phương thức, về vốn vay ưu đãi,
trách nhiệm…
- Quyết định 2801/QĐ-UBND, 5/2011 của UBND thành phố Hà Nội về
Phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm, chăn nuôi quy mô lớn ngoài
khu dân cư.
- Quyết định 1835/QĐ-UBND năm 2013 của UBND thành phố Hà Nội
về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi thành phố Hà Nội đến năm
2020, định hướng đến năm 2030.

13


CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng
của các nông hộ trên địa bàn xã Minh Phú
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn thịt ở xã Minh Phú
Tình hình chung về chăn nuôi lợn của xã
Nguồn lực sản xuất của các hộ chăn nuôi lợn thịt (2012)
Tình hình chăn nuôi lợn thịt của các nông hộ điều (2012)
2.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt của




Phía Đông giáp 2 xã Hiền Ninh và Nam Sơn;



Phía Tây giáp xã Minh Trí.
- Minh Phú thuộc vùng bán sơn địa có những đặc trưng của vùng gò đồi

và phù sa cổ kết. Diện tích tự nhiên là 3768,5 ha.
- Chạy qua địa bàn xã Minh Phú có đường nối QL2 với QL3, một huyết
mạch giao thông quan trọng.
3.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội [11]
- Minh Phú có dân số 11.075 người, với 2470 hộ dân cư sinh sống ở 8
thôn: Thanh Trí, Thanh Sơn, Phú Hạ, Phú Thịnh, Phú Minh, Phú Hữu, Phú
Nghĩa và thôn Lâm Trường.
- Với lợi thế địa lý, Minh Phú rất chú trọng việc trồng rừng và phát
triển cây ăn quả. Từ năm 2005 đến nay, cả xã đã trồng mới hơn 110 ha rừng,
bảo vệ an toàn hơn 140 ha rừng và vận động nhân dân chuyển đổi gần 40 ha
cây ăn quả. Hầu hết các hộ đều phát triển kinh tế theo mô hình trang trại trồng
cây ăn quả, và phát triển chăn nuôi, đặc biệt chăn nuôi bò thịt, lợn thịt. Xã có
200 trang trại - nhiều nhất ở huyện Sóc Sơn - đang mang lại nguồn thu gấp 9
lần so với thu nhập thuần nông. “Minh Phú xoá được đói, giảm được nghèo là
nhờ trang trại” [11].

15


- Nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế của xã luôn duy trì 7-10%, sản

Minh Phú đã rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lấy thịt.
Tuy nhiên, trước những khó khăn chung của ngành chăn nuôi mấy năm
gần đây, cùng với sự thu hút lao động của các khu công nghiệp, các khu đô
thị.v.v..cơ cấu chăn nuôi xã Minh Phú cũng có những thay đổi nhất định. Có
hộ giảm số con chăn nuôi, có hộ bỏ nuôi, nhưng có hộ lại tăng quy mô.
Những quyết định khác nhau này phù hợp với điều kiện của mỗi hộ chăn nuôi
và phụ thuộc rất lớn vào tính toán của chủ hộ chăn nuôi.
Bảng 3.1. Tình hình phát triển chăn nuôi lợn của xã
qua 3 năm (2010 - 2012)
2012/2010
Chỉ tiêu

ĐVT

2010

2011

2012
+/-

%

1. Số hộ nuôi

Hộ

590

550


1100

132,4

- Lợn nái

Con

412

362

489

77

118,7

Con/hộ

9,9

11,6

15,2

5,3

153,5

năm có tới 65 hộ đã bỏ nuôi lợn để chuyển sang các hình thức sản xuất khác,
tương ứng với mức giảm 11%. Một trong những lí do người dân bỏ chăn nuôi

17


là đầu ra của con lợn thịt liên tục gặp khó khăn. Giá lợn hơi xuống thấp dẫn
đến nhiều người chăn nuôi thua lỗ đã treo chuồng. Với giá lợn hơi có lúc
xuống còn 35 nghìn đồng, người chăn nuôi cho biết cứ xuất chuồng 10 con, lỗ
khoảng 4 triệu đồng.
Tuy vậy, so với bức tranh chung của ngành chăn nuôi Việt Nam mấy
năm vừa qua thì tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở Minh Phú vẫn khá lạc
quan, 6 trên 7 chỉ tiêu theo dõi đều đạt mức tăng trưởng cao, từ 118,7 % đến
153,5%, trong đó bình quân đầu con/ hộ chăn nuôi có mức tăng trưởng cao
nhất: 153,5%; tiếp theo là sản lượng xuất chuồng ( 141,8%) và tổng số đầu
lợn, đạt mức tăng trưởng 137,5%. Sở dĩ có được điều đó là do chăn nuôi ở
Minh Phú chủ yếu là mô hình trang trại VAC, quy mô vừa và nhỏ. Nhiều hộ
chăn nuôi còn làm thêm đại lí thức ăn chăn nuôi, tận dụng sản phẩm trồng
trọt.v.v.. nên hạ được giá thành chăn nuôi và giảm được thua lỗ để tiếp tục
duy trì chăn nuôi đến những thời điểm thuận lợi. Có một vài trang trại quy mô
lớn hàng nghìn đầu lợn, những trang trại này luôn áp dụng công nghệ chăn
nuôi tiên tiến ( nuôi khép kín, nuôi trên đệm lót sinh thái…) sản phẩm có giá
bán từ 130 -150% so với giá lợn nuôi bình thường và đầu ra luôn ổn định.
3.2.2. Tình hình phát triển chăn nuôi lợn thịt tại Minh Phú
Từ danh sách các hộ chăn nuôi lợn thịt do Ban chăn nuôi - thú y của xã
cung cấp, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 71 hộ để nghiên cứu, đánh giá tình hình
phát triển chăn nuôi lợn thịt của địa phương.
3.2.2.1. Hình thức chăn nuôi
Trong 71 cơ sở chăn nuôi lợn thịt có 15 cơ sở có quy mô trang trại (
chiếm 21,1%) ; 21 cơ sở có quy mô chăn nuôi gia trại, chiếm 29,6%, còn lại


- Kết hợp ( VAC )

10

66,7

Chăn nuôi gia trại

21

29,6

- Công nghiệp

5

23,8

- Kết hợp ( VAC)

16

76,2

Chăn nuôi nhỏ lẻ

35

49,3

phương thức quảng canh, tận dụng hoàn toàn, các hộ chăn nuôi vẫn sử dụng
thức ăn công nghiệp ở từng giai đoạn sinh trưởng của lợn hoặc trong cả chu kì
nuôi với tỷ lệ nhất định.

19


3.2.2.2. Thông tin chung về chủ hộ chăn nuôi
Đặc điểm về tuổi, giới tính, trình độ học vấn, quá trình đào tạo nghề
nghiệp của người chăn nuôi cũng như tư liệu về đất đai, sức lao động của chủ
hộ có ảnh hưởng lớn đến kết quả và hiệu quả của quá trình chăn nuôi. Thông
tin chung về các hộ chăn nuôi như sau:
Bảng 3.3. Thông tin chung về các hộ chăn nuôi lợn thịt xã Minh Phú
Trang trại
Diễn giải

( N = 15)

Gia trại

Nhỏ lẻ

( N =21)

( N= 35)

21

35


26,7

7

33,3

17

48,6

- THPT

9

60,0

12

57,1

16

45,7

- ĐH - CĐ – TCCN

2

13,3


6. DT đất BQ ( m2)
7. Đã qua đào tạo

15

100

8.Thuê mướn LĐ

2

13,3

9.

Số

năm

kinh

5,5

17

7,5

81,0

15

tự như vậy, tỷ lệ chủ hộ chăn nuôi gia trại có trình độ văn hóa từ THPT trở lên
chiếm hơn hai phần ba, trên 80% trong số họ đã qua tập huấn về chăn nuôi.
+ Chất lượng lao động không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, quá trình
đào tạo mà còn ở kinh nghiệm, tập quán sản xuất được tích luỹ từ thực tiễn.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, chủ các trang trại có quy mô lớn
lại là những người trẻ tuổi, kinh nghiệm thực tiễn không nhiều nhưng họ lại là
những người rất năng động, ham học hỏi và dám phá bỏ lề lối lạc hậu trong
sản xuất.

21


3.2.2.3. Chuồng trại và các tư liệu sản xuất trong chăn nuôi lợn thịt
Bảng 3.4 Chuồng trại và các tư liệu sản xuất trong chăn nuôi lợn

Trang trại

Gia trại

Nhỏ lẻ

Chung

( N= 15)

( N=21 )

( N= 35)

( N=71)

0

-

14

19,7

- Xây bán kiên cố

5

33,3

16

76,2

30

85,7 51

71,8

- Tận dụng

0

-


4

26,7

5

23,8

7

20,0 16

22,5

- Có hầm Biogas

6

40,0

6

28,6

3

8,6 15

21,1


-

20

28,2

( Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Chuồng trại có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển của
đàn lợn, đến dịch bệnh và đến môi trường. Chuồng trại có nhiều ưu điểm nhất
hiện nay là chuồng kín, các thông số môi trường được điều khiển chủ động,
ngăn ngừa hiệu quả quá trình lây nhiễm bệnh, đồng thời tạo điều kiện tót nhất
cho lợn sinh trưởng, phát triển. Tuy nhiên, kiểu chuồng này chi phí ban đầu
rất lớn. Vì vậy trong 15 trang trại nuôi lợn chỉ duy nhất 1 trang trại đầu tư xây

22


dựng. Nếu so với tổng số 71 cơ sở chăn nuôi được điều tra thì chiếm tỷ lệ rất
thấp ( 2,4%), trong khi đó khu vực phía Nam kiểu chuồng này đang được
nhiều trang trại chăn nuôi đầu tư xây dựng, nhất là những cơ sở chăn nuôi an
toàn sinh học.
+ Kiểu chuồng xây bán kiên cố được hầu hết các cơ sở chăn nuôi lựa
chọn ( 1/3 số trang trại, 2/3 số gia trại và trên 2/3 các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ).
Kiểu chuồng này chủ yếu là nền lát xi măng, tường gạch, mái tôn hoặc fibro
xi măng. Máng ăn, máng uống xây cố định.
+ Xấp xỉ 20% cơ sở chăn nuôi đầu tư xây dựng kiểu chuồng công
nghiệp, Chuồng làm mái kép, cao từ 3,5-5m, nhằm tạo sự thông thoáng do
không khí có sự đối lưu lên xuống qua khe của mái kép, trên mái nên có sẵn
các van phun nước để chống nóng vào mùa hè, thiết kế hai dẫy tạo thuận lợi
cho việc chăm sóc. Có tường xây bao quanh cao khoảng 1m với rào chắn ở

Bằng công tác giống và thức ăn người ta đã tạo ra được những con lợn
“siêu nạc”, những giống này đã được nhập vào nước ta hoặc lai tạo từ những
giống “siêu nạc” nhập ngoại. Đó là các giống Yorshire, Landrace, Duroc,
Pietrain, PiDu (lai giữa Pietrain và Duroc)…
Người nuôi lợn ở Minh Phú đã lựa chọn những cơ sở cung cấp con
giống có uy tín như Trung tâm giống lợn chất lượng cao ( ĐH Nông nghiệp
Hà Nội ), Công ty TNHH giống lợn Dabaco, Công ty giống gia súc Hà Nội….
Khảo sát 71 hộ nuôi lợn thịt, cơ cấu con giống như sau:

24


Bảng 3.5. Cơ cấu con giống trong chăn nuôi lợn thịt ở Minh Phú
Trang trại

Gia trại

Nhỏ lẻ

Chung

Con giống

N

%

N

%


66,7

10

47,6

12

34,3

32

45,1

Lai 4 máu

5

33,3

4

19,0

10

28,6

19


0

-

0

-

Khác

0

-

3

14,4

8

22,8

11

15,5

Tổng

15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status