PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất kỳ một nước nào dù là nước giàu hay nghèo, nông nghiệp đều có vị
trí quan trọng: Nông nghiệp là nghành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế,
cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người
tồn tại và nguyên vật liệu cho nghành công nghiệp. Trong quá trình phát triển
kinh tế, nông nghiệp cần được đẩy mạnh phát triển hàng đầu để đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm của xã hội. Vì thế sự ổn định của xã
hội và mức an toàn của xã hội về lương thực, thực phẩm phụ thuộc rất nhiều vào
sự phát triển của xã hội [4]. Mặt khác, phần lớn các nguồn nguyên liệu của các
nghành công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ khác
là do nông nghiệp cung cấp. Sự phát triển của các nghành này phụ thuộc vào sự
cung cấp nguyên liệu của nghành nông nghiệp. Vì thế ngành nông nghiệp luôn
đóng vị trí hết sức quan trọng.
Nước ta đang ở giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế (WTO), mở
ra thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nông nghiệp còn đóng vai trò tạo ra
nguồn thu nhập cho người sản xuất và góp phần xuất khẩu. Mặt khác nước ta
đang là nước nông nghiệp là chủ yếu thì phát triển nông nghiệp càng được đặt
lên hàng đầu. Đặc biệt trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì nghành
chăn nuôi càng được chú trọng và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong
nghành nông nghiệp.
Nghành chăn nuôi lợn đang đóng vai trò chủ đạo mang lại thu nhập cho
nông dân. Không những thế đối với nước nông nghiệp thì chăn nuôi lợn không
chỉ cung cấp nhu cầu thực phẩm trong nước, xuất khẩu ra nước ngoài, đồng thời
là nguồn cung cấp phân bón cho nghành trồng trọt và nhiều lợi ích khác nữa.
Những năm gần đây chăn nuôi lợn ở nước ta đã tăng trưởng khá về tổng
đàn, chất lượng đàn cũng như qui mô sản xuất, … . Tuy nhiên so với yêu cầu và
1
khả năng thì kết quả này còn khiêm tốn, chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hóa,
chưa đáp ứng được nhu cầu kinh tế hiện nay. Nghề chăn nuôi lợn là nghề truyền
thống, nhiều nơi còn mang tập quán chăn nuôi lạc hậu. Ở nhiều vùng nông thôn
1.3. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm giúp tôi vận dụng những kiến thức lý thuyết
đã học vào thực tế, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu. Đây cũng là cơ
hội cho tôi đưa ra những kiến nghị giải pháp phát triển cho chăn nuôi lợn cho xã
Hương Vân.
3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Vai trò của nghành chăn nuôi lợn đối với các nông hộ ở nước ta
Nghành chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống
của con người. Từ khi đời sống của con người đang là săn bắt, hái lượm thì con
lợn hoang đã là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho con người. Ngày nay,
nghành chăn nuôi lợn càng đóng một vị trí nhất định trong nền kinh tế ở mỗi
nước. Hơn nữa, nước ta là một nước nông nghiệp thì nghành chăn nuôi lợn đang
là mũi nhọn cho sự phát triển nền nông nghiệp của đất nước và cụ thể nó đóng
vai trò như sau:
- Cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao hơn bất kì loại thực
phẩm từ loại gia súc nào như sữa, thịt … . Theo Harris thì 1kg thịt nạc bằng 367
kcal, 22g protein [9].
- Cung cấp nguồn nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến thực
phẩm như thịt hộp, giò, chả, … .
- Cung cấp nguồn phân bón cho nghành trồng trọt góp phần cải tạo và
nâng cao độ phì đất từ đó nâng cao năng suất cây trồng.
- Chăn nuôi lợn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật
nuôi và con người. Trong nghiên cứu về môi trường và nông nghiệp thì lợn là vật
nuôi quan trọng, là thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái nông
nghiệp. Chăn nuôi lợn có thể tạo ra các giống lợn nuôi trong nhà, lợn cảnh góp
phần làm tăng tính đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên.
- Cung cấp nguyên liệu cho nghành y học trong công nghệ sinh học. Lợn
được nhân bản gen để phục vụ mục đích nâng cao sức khỏe cho con người [9].
- Đối với vùng chăn nuôi ở nông thôn thì chăn nuôi lợn còn được coi như
Giống cũng gắn liền với hình thức chăn nuôi. Giống cao sản thường gắn
với hình thức nuôi thâm canh, đầu tư lớn còn các giống địa phương gắn với hình
thức nuôi quảng canh tận dụng trong nông nghiệp, đây là hình thức nuôi chủ yếu
5
của các hộ chăn nuôi ở nước ta.
* Điều kiện chuồng trại
Các giống khác nhau, quy mô khác nhau thì điều kiện chuồng trại cũng
khác nhau. Ở nước ta chăn nuôi lợn với quy mô lớn thì khâu đầu tư đầu tiên là
chuồng trại đảm bảo chăn nuôi tốt nhưng vẫn đang chiếm số ít. Còn các hộ nuôi
quảng canh quy mô nhỏ, nuôi giống địa phương, nuôi theo cách tận dụng thì
chuồng trại đa số đang ở mức tạm bợ chưa đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát
triển của lợn.
* Đặc điểm chăm sóc, quản lí
Với thực trạng mạng lưới thú y ở nước ta còn mang trình độ dịch vụ kém
phát triển, dịch bệnh xảy ra nhiều thì phản ánh rằng trình độ chăm sóc, quản lí
lợn trong các nông hộ còn rất nhiều vấn đề bất cập. Việc chăm sóc quản lí trang
trại các hộ chăn nuôi heo chưa được chú trọng, các nông hộ nuôi theo hình thức
quảng canh chủ yếu nuôi với hình thức tận dụng lao động vì thế nuôi theo kinh
nghiệm mà thôi chứ ít hộ tự nguyện đi tham gia học hỏi kinh nghiệm ở các hộ
chăn nuôi giỏi như ở các trang trại hay ở một trung tâm kỹ thuật nào.
* Năng suất thu nhập
Với những đặc điểm như trên thì mức thu nhập từ chăn nuôi lợn ở nước ta
của các trang trại lớn mới có thu nhập cao do các chủ trang trại này đã biết hoạch
toán kinh tế, lập kế hoạch chăn nuôi phù hợp. Tuy nhiên tỷ lệ các trang trại đạt
được như trên còn rất ít mà đa số các hộ chăn nuôi theo kiểu tận dụng, xem chăn
nuôi như hủ tiền tiết kiệm, chưa biết cách hoạch định kinh tế, lập kế hoạch sản
xuất nên chưa chú trọng đầu tư dẫn đến năng suất rất thấp, chưa có lợi nhuận
hoặc thậm chí lỗ.
* Tình hình thị trường
Nhu cầu từ thịt lợn hiện nay đang rất lớn. Tuy nhiên đối với các trang trại
trong thời gian dài thường không có lãi, thậm chí còn bị lỗ.
Lao động: Phương thức chăn nuôi lợn ở nước ta hầu như là nuôi quảng
canh, chủ yếu mang tính tận dụng lao động, chưa chú trọng nâng cao trình độ kỹ
thuật chăn nuôi. Do đó người dân chủ yếu nuôi theo kinh nghiệm mà thôi, tỷ lệ
7
hộ đã được đi tập huấn về kỹ thuật, hiểu biết về kỹ thuật là rất ít. Trong xu thế
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đòi hỏi chăn nuôi cũng phải phát triển
theo hướng thâm canh. Vì vậy với thực tiễn nước ta đòi hỏi nhà nước ta cần phải
có nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ trang thiết bị, vốn cũng như kiến thức cho người
dân chăn nuôi để nâng cao năng suất lao động.
Chính sách kinh tế xã hội: Chính sách kinh tế xã hội đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói
riêng. Một chính sách đúng sẽ thúc đẩy chăn nuôi phát triển nhanh nhưng ngược
lại là một chính sách ra đời không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, xã
hội thì nó lại có tác dụng kìm hãm sự phát triển đó. Hiện nay nhà nước ta đã có
nhiều chính sách phát triển chăn nuôi lợn trong cả nước như chính sách về giống,
chế biến thức ăn, thú y, chính sách khuyến khích thị trường, hỗ trợ vốn, … đã
thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên trong từng giai đoạn cần
có những chính sách thích hợp với từng điều kiện kinh tế, xã hội của từng vùng
nhất định thì mới góp phần thúc đẩy sự phát triển.
Thị trường tiêu thụ: Đây là yếu tố quyết định đến qui mô sản xuất và tốc
độ sản xuất. Thị trường phát triển thì sản phẩm làm ra mới bán chạy, giá cao, có
lợi nhuận nên mới kích thích được các hộ chăn nuôi tăng đầu tư vào sản xuất.
Tuy nhiên bên cạnh đó thông tin về thị trường cũng rất quan trọng cho người bán
và người mua. Thực tiễn ở nước ta các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, ít nắm bắt được
thông tin thị trường nên thường hay bán với giá rẻ do ép giá nên ít có lợi nhuận,
thậm chí còn lỗ. Mặt khác cần thị trường phát triển ổn định thì cần đảm bảo về
số lượng, chất lượng mà đối với điều kiện nước ta chưa đảm bảo cả hai điều kiện
trên vì thế ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí của người chăn nuôi là chưa dám mạnh
dạn đầu tư nhiều. Đặc biệt ở các vùng nông thôn điều kiện giao thông, chăn nuôi
thiểu số, vùng nông thôn chuồng trại chưa đảm bảo, thức ăn còn thiếu, sự chăm
sóc cũng như kinh nghiệm chăn nuôi chưa có đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
chăn nuôi.
2.4. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới
Nghành chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Cách đây một vạn năm chăn nuôi
lợn đã xuất hiện và phát triển ở Châu Âu và Châu Á. Sau đó khoảng thế kỷ 16
bắt đầu phát triển ở Châu Mỹ và thế kỷ 18 phát triển ở Châu Úc. Đến nay nghề
9
chăn nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia trên thế
giới [4].
Theo FAO, 2007 thì số lượng lợn trên thế giới ổn định trong vòng 15 năm
qua (1990 - 2004) và sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Năm 2006 toàn cầu
đang có tăng trưởng về nghành sản xuất thịt lợn, ước đạt 2,3 % trị giá khoảng
283 triệu tấn trên thế giới. FAO cho biết rằng: Châu Á sẽ chiếm 2/3 sự tăng
trưởng đó của thế giới là khoảng 62 %, nổi bật là Trung Quốc và Việt Nam. Nhìn
chung đàn lợn thế giới phân bố không đều ở các châu lục. Đứng đầu là Châu Á,
thứ 2 là Châu Âu chiếm gần 19 % đầu con, thứ 3 là Bắc Mỹ và Canada chiếm
khoảng 10 % tổng đầu con, tiếp đến là Nam Mỹ 6%, Châu Phi là 2 %, cuối cùng
là Châu Đại Dương là 1% [1].
Những năm gần đây do áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi và do dịch
cúm gia cầm nên nhu cầu thịt lợn tăng nhanh do đó sản lượng thịt lợn cũng ngày
một gia tăng.
Bảng 1: Diễn biến đàn lợn và sản lượng thịt của thế giới
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tăng
trưởng
TB
(%)
Số lượng
(triệu
dụng giống còn thấp. Việc gắn kết giữa các trại giống và việc sử dụng nhất là
việc đầu tư nhân tạo giống chưa đúng mức, còn buông lỏng. Vì vậy hiện nay việc
đẩy mạnh tốc độ cải tiến năng suất, chất lượng đàn giống còn chậm, hiệu quả
thấp.
2.5.1.3. Giá thức ăn quá cao nên giá thành sản phẩm chăn nuôi cao hơn các
nước
Do điều kiện nước ta còn thiếu nguyên liệu để chế biến thức ăn (năng suất
các loại thức ăn chăn nuôi còn rất thấp hơn so với các nước trên thế giới), chưa
đầu tư các vùng qui hoạch sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo qui mô
11
lớn, đồng thời chưa thu mua, dự trữ nguyên liệu đúng mùa thu hoạch gây lãng
phí lớn. Mặt khác, chi phí cho việc nhập khẩu các loại nguyên liệu là rất cao như
thuế nhập khẩu các loại thức ăn tinh là 20% - 25%, thức ăn giàu đạm là 70% -
80%, thức ăn bổ sung là 95%, trong khi các nước khác không có thuế nhập khẩu.
Hệ thống vận chuyển, kho dự trữ thức ăn chưa đảm bảo do đó giá thức ăn rất
cao, và cao hơn các nước khác từ 20% - 40% [13].
2.5.1.4. Dịch bệnh thường xuyên xảy ra ảnh hưởng đến năng suất, chất
lượng của chăn nuôi
Do chăn nuôi nhỏ lẻ, điều kiện môi trường, công tác thú y, tổ chức chuẩn
đoán phòng bệnh thực hiện chưa kịp thời, ý thức dịch tễ của người chăn nuôi
thấp, chất lượng thuốc thú y sản xuất trong nước chưa cao, công tác qui hoạch
thực hiện triệt để các vùng dịch bệnh chưa tốt.
2.5.1.5. Công tác giết mổ còn thô sơ, đơn điệu
Các sản phẩm thịt lợn chế biến ra còn đơn điệu, không đảm bảo tiêu chuẩn
vệ sinh, hoạt động không ổn định. Đa số các cơ sở giết mổ chế biến các sản
phẩm thịt không pha cắt, sản phẩm không đa dạng do chưa có sự đầu tư xây
dựng, trang thiết bị giết mổ. Vì thế các lò mổ còn chưa chủ động được sản phẩm
để thu mua, chế biến với công nghệ dây chuyền lạc hậu, sản phẩm làm ra chưa
đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y… .
2.5.1.6. Kết quả nghiên cứu khoa học chưa phát huy được nhiều kết quả
2.5.2. Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam trong mấy năm gần đây
Nghành chăn nuôi lợn ở nước ta có từ lâu đời và phát triển theo sự thăng
trầm của sự phát triển chăn nuôi chung trong nền kinh tế nước ta [13]. Ở thời
thực dân, phong kiến, nền kinh tế nước ta đang phụ thuộc, nghành chăn nuôi
không được chú trọng nên chăn nuôi lợn không phát triển. Sau khi hòa bình lặp
lại thì nghành chăn nuôi nói chung và nghành chăn nuôi lợn nói riêng mới được
chú ý đến và bước đầu phát triển cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Đàn lợn không những tăng về số lượng mà chất lượng cũng được cải thiện.
Từ năm 2002 đến năm 2006 thì nghành chăn nuôi lợn ở nước ta thực sự
phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng nhanh. Đặc biệt từ năm 2002 đến
13
2005, tổng đàn lợn cả nước tăng nhanh và đều qua các năm. Riêng năm 2006 do
dịch bệnh xảy ra nhiều vùng trong cả nước nên số lượng lợn ở một số vùng giảm
như Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, duyên Hải miền Trung, …
. Cụ thể từ năm 2002 tổng đàn cả nước là 23,169 triệu con đến năm 2005 tăng
lên 27,43 triệu con, tăng bình quân 6% /năm nhưng đến năm 2006 thì tổng đàn
xuống là 26,855 triệu con giảm 2%. Đàn lợn nái năm 2005 đạt 3,88 triệu con.
Trong đó nái ngoại là 372 nghìn con chiếm 9,6 %, nái lai khoảng 290 nghìn con,
nái nội khoảng 520 nghìn con. Các tỉnh có tỷ lệ nái ngoại cao như thành phố Hồ
Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, … . Nhìn chung đàn lợn cả nước
tăng đều trong các năm từ 2002 đến 2005 và có giảm trong năm 2006 [16]. Cụ
thể như bảng sau:
Bảng 2: Tình hình chăn nuôi lợn của các vùng sinh thái ở nước ta
(ĐVT : Nghìn con)
Vùng sinh thái 2002 2003 2004 2005 2006 Tăng
(%)
ĐB Sông Hồng 5396,6 6757,6 6898,4 7420,6 7168,8 7,32
Đông Bắc 4007,4 4236,1 4391,0 4568,6 4498,3 0,33
Tây Bắc 1050,9 1098,9 1176,3 1252,7 1144,4 2,36
Bắc Trung Bộ 3569,9 3803,3 3852,3 3913,1 3804,6 2,66
(Niên giám thống kê Việt Nam năm 2006)
Qua bảng trên ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng của sản lượng thịt tăng
nhanh hơn tốc độ số lượng con là 10,03%/năm so với 4,38%/năm. Sản lượng thịt
15
lợn từ năm 2002 là 1,65 triệu tấn đến năm 2006 là 2,45 triệu tấn tăng bình quân
là 10,03% /năm. Do đó thịt lợn luôn chiếm 76 - 77% trong tổng sản lượng thịt
các loại trong cả nước. Riêng từ năm 2004 đến năm 2006 do dịch cúm gia cầm
nên tỷ lệ thịt lợn lại tăng lên tương ứng là 80,3% và 81,4 %, bình quân thịt lợn
tiêu thụ/người là 27,4kg/năm, tương ứng với lượng thịt xẻ là 18,9kg/người/năm
2005[16].
Ngoài ra, nghành chăn nuôi lợn nước ta còn đạt được nhiều thành tựu khác
cho sự phát triển như công tác giống, công nghiệp chế biến thức ăn, nhiều mô
hình chăn nuôi lợn mới được phát triển như chăn nuôi trang trại, hợp tác xã chăn
nuôi, chăn nuôi gia công. Tuy vậy nghành chăn nuôi lợn nước ta vẫn đang còn
nhiều triển vọng để phát triển như nguồn lao động, là nước nông nghiệp, … cho
nên nhà nước ta cần có nhiều chính sách nữa để thúc đẩy nghành chăn nuôi lợn
phát triển mạnh.
2.6. Tình hình chăn nuôi lợn của tỉnh Thừa Thiên Huế
Diễn biến đàn lợn của tỉnh Thừa Thiên Huế tăng đều từ năm 2001 đến nay.
Nhìn chung đàn lợn của tỉnh tăng cả về số lượng và sản lượng thịt và thay đổi cả
cơ cấu đàn. Những năm trước đây nghành chăn nuôi lợn ở đây còn nuôi theo
hình thức quảng canh, qui mô nhỏ của hộ gia đình phân tán, nhỏ lẻ là chủ yếu.
Với hình thức chăn nuôi như vậy sản phẩm thịt lợn của tỉnh mới chủ yếu đáp ứng
được nhu cầu nội tỉnh mà chưa đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu. Tuy nhiên
trong những năm gần đây các chương trình dự án phát triển chăn nuôi như cải
tạo đàn lợn, chương trình siêu nạc, phát triển trang trại có ảnh hưởng tích cực
đến phát triển chăn nuôi lợn của tỉnh. Ngoài ra các chính sách về hỗ trợ khác như
thú y, cho vay tín dụng, … công tác khuyến nông về chăn nuôi cũng được tăng
cường và mở rộng kết hợp với các lớp tập huấn mở rộng mô hình trình diễn, tổ
chức các chuyến tham quan cho hộ chăn nuôi đi học hỏi kinh nghiệm ở các địa
2.7. Đặc điểm tình hình cơ bản của địa điểm nghiên cứu
2.7.1. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên xã HươngVân
2.7.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
17
Vị trí địa lý: Xã Hương Vân thuộc huyện Hương Trà, cách thành phố Huế
về phía Tây Bắc khoảng 20km. Địa bàn xã nằm ở đầu nguồn sông Bồ. Phạm vi
ranh giới của xã như sau: Phía đông giáp xã Hương Văn, xã Hương Bình (Hương
Trà). Phía tây giáp huyện Phong Điền. Phía nam giáp xã Bình Điền, xã Hồng
Tiến (Hương Trà). Phía bắc giáp thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà). Tổng diện tích tự
nhiên là 6168ha, toàn xã có 4 thôn và một bản Vân Kiều khe Trái.
Địa hình: Xã là vùng bán sơn địa có diện tích khá rộng lớn. Địa hình
nghiêng dần về từ Tây Nam đến Đông Bắc. Phía bắc địa hình bằng phẳng, độ
chênh lệch cao tuyệt đối (10m, độ dốc nhỏ hơn 7
0
) là khu dân cư và đồng ruộng
tập trung với diện tích tương ứng là 137,43 ha và 3829,43 ha. Phía Nam của xã
có địa hình tương đối dốc bình quân từ 15
0
, độ cao tuyệt đối là cao nhất là 362m
chủ yếu là đất lâm nghiệp với diện tích 3298,4 ha thuộc ban quản lý rừng phòng
hộ đầu nguồn sông Bồ.
Thổ nhưỡng: Do cấu trúc của địa hình và nền vật chất tạo nên đất đai của
xã Hương Vân gồm 2 nhóm đất chính.
Vùng đồi núi chủ yếu là nhóm đất feralit đỏ vàng, phát triển trên đất đá sét
biến chất thuận lợi cho loại cây lâm nghiệp phát triển như thông, keo.
Vùng đồng bằng chủ yếu là nhóm đất phù sa được bồi đắp từ sông Bồ nên
thuận lợi cho việc sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, hình thành và phát triển nhiều
trang trại. Đặc biệt phát triển mô hình trồng cây đặc sản Thanh Trà. Đất phù sa
ven sông, đất thịt nhẹ phù hợp trồng cây lạc, lúa, .
2.7.1.2. Thời tiết và khí hậu
2
, tỷ lệ tăng tự nhiên là
1,07 %.
Lao động: Lao động trong độ tuổi 18 - 60 là 3099 người chiếm tỷ lệ
44,39% dân số. Trong đó tổng số người phụ thuộc: 3881 người chiếm 55,6%, số
người phụ thuộc trên 60 là 2050 người chiếm 29,36%, người độ tuổi từ 12 - 17
chiếm 9,77% tổng dân số. Tỷ lệ số người phụ thuộc so với lao động của xã như
sau:
Bảng 5: Cơ cấu lao động của xã Hương Vân
Tuổi Nam Nữ Tổng số Tỷ lệ (%)
A: phụ thuộc
1-5
6-11
12-17
253
298
328
267
331
354
520
629
682
7,44
9
9,77
Tổng 879 952 1831 25,97
B: LĐ từ 18-60 1518 1581 3099 29,36
19
C: Phụ thuộc lớn hơn 60 1000 1000 2050 29,36
tạo ngày càng đi vào thực chất hơn. Kết quả năm học 2006 - 2007 tỷ lệ học sinh
trung học cở sở tốt nghiệp 98% tăng hơn năm học cũ 1,2%. Tỷ lệ học sinh tiểu
học lên lớp: Lai Thành 97,7%; tiểu học của xã là 94,1%. Tỷ lệ học sinh mẫu giáo
trong độ tuổi huy động đạt 73,33%. Về cơ sở vật chất giáo dục đã có 2 trường
tiểu học, một trường trung học cơ sở với 17 lớp [3]. Mặc dù trong những năm
qua đã có sự nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp nhưng chỉ mới đáp ứng
được 70% lớp học và hiện nay vẫn con một bộ phận lớp học xuống cấp, cơ sở
vật chất khác phục vụ giảng dạy còn thiếu nên chính quyền địa phương cần đầu
tư nhiều để nâng cao chất lượng giáo dục.
Y tế: Công tác y tế thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng, đã
thực hiện, tiêm chủng đạt 100% về số lượng. Công tác khám chữa bệnh ngày
càng được nâng cao về chất lượng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, đã
chủ động phòng chống dịch bệnh, thường xuyên tăng cường các biện pháp bảo
đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Đội ngũ cán bộ y tế gồm 1 bác sĩ, 2 nữ trung cấp
hộ sinh, 1 dược sĩ. Cơ sở vật chất y tế đã được trang bị chất lượng hơn gồm 1
trạm xá 2 tầng với nhiều phòng khám chữa bệnh, trang thiết bị khá đầy đủ.
2.7.2.2. Tình hình phát triển kinh tế
Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng 2007 có 670,07ha đạt 88,55% kế
hoạch do một số vùng đất do nhà nước thu hồi xây dựng công trình nhà máy. Hệ
thống cây trồng ở xã khá đa dạng, một số cây trồng chủ yếu đạt năng suất khá
cao như: lúa với tổng diện tích 304,1ha năng suất bình quân đạt 52,65 tạ/ha, sản
lượng đạt 1661 tấn. Cây lạc trồng 157,97ha đạt năng suất bình quân 24,57 tạ/ha,
sản lượng 388,132 tấn tăng so với kế hoạch đạt là 11,68%. Sắn khoai là 80ha
trong đó sắn công nghiệp chiếm 28ha. Ngô bình quân 55 tạ/ha với diện tích
48,5ha; sản lượng 266,7 tấn. Vừng chiếm 35ha, ớt chiếm 7ha; rau, đậu xanh là
25ha. Đặc biệt mấy năm gần đây xã đang phát triển cây thanh trà đặc sản với
12ha nâng tổng diện tích toàn xã lên 102,55 ha. Trong đó có khoảng 25 ha đã
cho thu hoạch [3]
Chăn nuôi :
Hương Vân là một trong những địa phương có ngành chăn nuôi khá phát
trung vào vùng có giao thông thuận lợi gần trung tâm. Do đó nguồn nước chưa
22
ổn định vào mùa khô.
Trong sản xuất chưa chủ động về giống cây trồng vật nuôi hay chưa hợp
lý, khả năng tiếp thu của người dân về khoa học kỹ thuật chưa cao, tư tưởng
trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, chưa nhạy bén trong việc áp dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Cơ sở thu mua chế biến nông sản còn nhỏ lẻ, chủ yếu là buôn bán lẻ. Các
cơ sở chế biến nông sản chưa được chú trọng đầu tư xây dựng. Sự phát triển của
thương mại và dich vụ cho nông nghiệp chưa năng động.
Những thuận lợi;
Là một xã vùng bán sơn địa với diện tích rộng lớn, đất đai màu mỡ, các
tuyến đường liên thôn liên xã cơ bản được bê tông hoá và nhựa hoá, là địa bàn có
thế mạnh về phát triển cây thanh trà thuận lợi cho việc phát triển trồng rừng,
chăn nuôi gia súc.
Lao động cần cù chịu khó, có lực lượng lao động dự trữ khá lớn 25,97%
và cũng nhạy bén trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn
nuôi. Nên chính quyền địa phương cần có các chính sách để khai thác lực lượng
đó và các tiềm năng khác của địa phương.
Xã đang có chương trình dự án về chăn nuôi nhằm nâng cao chất lượng và
phẩm chất vật nuôi, cũng là cơ hội cho các hộ nông dân và cán bộ khoa học kỹ
thuật như khuyến nông viên, cán bộ thú y được tập huấn nâng cao kỹ thuật vào
sản xuất.
23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các nông hộ của xã gồm 70 hộ trong đó phân tầng thành 30 hộ trung bình, 20
hộ nghèo, 20 hộ khá và 15 hộ ở vùng cao, 55 hộ ở vùng thấp.
- Cán bộ thú y của xã, người am hiểu.
- Khuyến nông viên, hội trưởng hội chăn nuôi của xã.
nghiên cứu về kinh tế xã hội của xã trước đây.
Thông tin sơ cấp: sử dụng phương pháp PRA với các công cụ như
phỏng vấn bán cấu trúc kèm theo phiếu điều tra về tình hình chăn nuôi lợn của
xã Hương Vân thông qua các tiêu chí điều tra, quan sát thực địa, nghiên cứu sâu.
Đối tượng thu thập thông tin: các hộ chăn nuôi của xã Hương Vân được
25